Đồ án tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Hai
LỜI MỞ ĐẦU
Tiêu là cây công nghiệp lâu năm có giá trị kinh tế cao, giữ vị trí quan trọng
trong cơ cấu cây trồng của nước ta. Việt Nam hiện là nước xuất khẩu tiêu lớn nhất
thế giới, chiếm hơn 50% thị phần mặt hàng này trên toàn cầu. Cả nước hiện có
khoảng 50.000 ha hồ tiêu, chủ yếu tập trung ở một số tỉnh ở Cao Nguyên và miền Đông Nam bộ.
Trong số đó, Bình Phước hiện là tỉnh có diện tích trồng tiêu lớn nhất nước với khoảng 14.000 ha
(Nguyễn Tăng Tôn, 2008). Việc sản xuất hồ tiêu trong những năm qua bị tổn thất đáng kể
do cây thường bị bệnh với những dấu hiệu như: rễ có nhiều nốt sưng, lá vàng, cây
khô chết dần mà một trong những nguyên nhân gây bệnh là do tuyến trùng (Phạm
Văn Biên, 1989, Nguyễn Ngọc Châu 1990, 1993, Đào Thị Loan Hoa, 2003). Biện
pháp sử dụng phổ biến để phòng trừ tuyến trùng hại tiêu chủ yếu dựa vào các loại
thuốc hóa học. Điều này không những làm tăng tính kháng thuốc của dịch hại, giảm
hiệu quả phòng trừ, ảnh hưởng đến môi trường sống mà còn giảm đáng kể chất lượng
và giá trị xuất khẩu của hạt tiêu. Vì vậy, tuy nắm hơn 50% thị trường thế giới nhưng
vẫn còn ý kiến cho rằng thương hiệu cây tiêu Việt Nam vẫn còn mờ nhạt trên thị
trường quốc tế (dẫn theo Bộ NN &PT NT, 2008). Một trong những nguyên nhân là
do tính không ổn định của chất lượng sản phẩm. Để tăng tính ổn định cho đầu ra và
nâng cao giá trị xuất khẩu của tiêu Việt Nam, các đơn vị và địa phương đang xây
dựng chương trình sản xuất tiêu an toàn theo các tiêu chuẩn GAP (Good Agricultural
Practices). Chương trình này đòi hỏi hạn chế thấp nhất việc sử dụng các loại hóa chất
độc hại, giảm thiểu sự tồn dư hóa chất trong sản phẩm. Vì vậy, cần phải nghiên cứu
để tìm những sản phẩm sinh học thay thế cho các loại hóa chất nông dược, đáp ứng
yêu cầu của sản xuất. Đây cũng chính là lý do để sinh viên thực hiện đồ án “Đánh
giá hiệu quả phòng trừ của chế phẩm Chitosan đối với tuyến trùng hại tiêu tại
Bình Phước ” nhằm giúp sản xuất lựa chọn chế phẩm có nguồn gốc sinh học, thay
thế các loại thuốc hóa học, góp phần cải thiện giá trị sản phẩm tiêu Việt Nam, bảo vệ
môi trường và nâng cao chất lượng cuộc sống của cộng đồng
1. Mục tiêu của đề tài
SVTH: Trương Kim Trọng Trang 1
Đồ án tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Hai
khác xâm nhiễm dẫn đến hiện tượng cây bị bệnh với nhiều triệu chứng cùng một lúc.
Các loài tuyến trùng nốt sưng Meloidogyne spp. là nhóm gây hại quan trọng chiếm
đa số trong nhóm động vật hạ đẳng nhỏ bé. Chúng gây hại trên nhiều loại cây như:
cà chua, dưa chuột, ớt, thuốc lá, bầu, bí, chuối, dứa, cam, chanh, nho, dừa, cà phê, hồ
tiêu; các loại cây cảnh, các loại cây dược liệu như: bạch chỉ, ngưu tất
Tuyến trùng thực vật đã được tìm ra từ giữa thế kỷ 18. Lần đầu tiên Needham
(1743) đã phát hiện ra tuyến trùng thực vật trên bông lúa mỳ, được Steinbuch đặt tên
là Vibriotritici. Dựa vào những đặc điểm về hình thái, tập quán sinh sống, đặc tính
sinh vật học, mối quan hệ giữa nhóm tuyến trùng thực vật đối với cây trồng mà
chúng được chia làm 5 nhóm sinh thái khác nhau (Paramonop, 1962).
Kết quả nghiên cứu về tuyến trùng hại hồ tiêu
SVTH: Trương Kim Trọng Trang 3
Đồ án tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Hai
Tuyến trùng là bệnh phổ biến ở nhiều nước Brazil, Ấn Độ, Indonesia…
(Ramana, 1987). Winoto 1972, Mustika 1978 v.v ). Theo Winoto (1972) ở Sarawak,
tại Malaysia, tuyến trùng Meloidogyne spp. gây hại hàng loạt làm cho cây bị vàng lá,
còi cọc và có triệu chứng thiếu dinh dưỡng nghiêm trọng. Triệu chứng bệnh tăng
thêm khi có sự kết hợp giữa sự nhiễm Meloidogyne incognita và Fusarium solani,
trong điều kiện khô hạn và đất nghèo dinh dưỡng.
Fieldphoto (2004) cho biết, tuyến trùng Meloidogyne spp. có hầu hết trên thế
giới và đặc biệt là ở những nước có khí hậu ẩm. Ở Hy Lạp tuyến trùng Meloidogyne
spp. gây nguy hiểm cho nền nông nghiệp (D. Prophetou, 2003).
Tuyến trùng hại rễ (Meloidogyne, Pratylenchus…), rệp vảy, rệp sáp không
chỉ là những sâu bệnh hại nguy hiểm mà vết thương do chúng gây ra tạo điều kiện
thuận lợi cho các loại nấm ký sinh yếu gây hại và làm cho cây hồ tiêu chết nhanh
hơn.
Theo Nguyễn Thơ và CTV (2009), tuyến trùng nốt sưng rễ là một trong
những đại diện chủ yếu của tuyến trùng ký sinh thực vật, phần lớn thuộc chi
Meloidogyne và có ý nghĩa kinh tế. Tuyến trùng nốt sần rễ thường gây hại đối với
nhiều loại cây trồng điển hình là cây hồ tiêu. Chúng chủ yếu sống trong đất, các dạng
điều kiện trời nóng và khô. Cây sẽ giảm diện tích lá, quả dẫn đến năng suất thấp. Bên
dưới mặt đất, các rễ trụ và rễ tơ có hiện tượng u sưng, rễ chuyển sang màu nâu do tế
bào bị tác động. Chúng ngăn cản nước và chất dinh dưỡng lên trên lá làm cho cây bị
héo vàng. Cây bị tuyến trùng hại rễ dễ dàng bị nấm và vi khuẩn xâm nhập. Ảnh
hưởng thứ hai là làm cho lá vàng rụng và cuối cùng cây chết nhanh chóng. Erwin và
O.K.Ribeiro (1996) cho rằng, vào giai đoạn kinh doanh, cây hồ tiêu bị bệnh thường
có biểu hiện héo nhẹ. Sau đó, lá chuyển vàng và rụng sớm. Sau khi lá rụng, quả bị
khô, bộ rễ của cây bị thối.
Triệu chứng của bệnh hại là cây ngừng sinh trưởng, lá vàng, rụng đốt, ra hoa
và đậu quả kém. Tạo thành những nốt sần ở rễ tiêu là đặc điểm rất cơ bản và đặc
trưng của bệnh này, nếu bệnh nặng cây có thể chết. Nhìn chung các biểu hiện của
bệnh ở phần cây trên mặt đất rất khác nhau tùy theo mức độ bệnh nặng hay nhẹ
(Nguyễn Ngọc Châu và CTV, 1990).
Phạm Văn Biên (1989) cho rằng, cây tiêu bị tuyến trùng hại nặng lúc đầu có
hiện tượng vàng đều các lá ở nửa dưới tán lá. Lá có màu vàng tươi và không có
những vết nâu đen như ở bệnh nấm. Dần dần lá chuyển khô vàng, kém phát triển như
khi cây bị hạn hoặc thiếu phân.
SVTH: Trương Kim Trọng Trang 5
Đồ án tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Hai
1.2.1. Đặc điểm sinh học của tuyến trùng Meloidogyne spp.
Tuyến trùng Meloidogyne incognita (Kofoid & White, 1919), (Chitwood,
1949) là loài tuyến trùng nội ký sinh rễ thuộc: giống Meloidogyne, Họ
Meloidogynidae, Bộ Tylenchida
Cũng như các loài tuyến trùng gây hại cây khác, tuyến trùng Meloidogyne
incognita con cái nhiều hơn con đực, đẻ trứng thành từng bọc, trứng nở ra tuyến
trùng non.
M. incognita sinh sản đơn tính, mặc dù con đực phổ biến và có thể tập hợp ở
giai đoạn cuối để dẫn dụ con cái (Whitehead, 1998).
Vòng đời của tuyến trùng M. incognita phát triển qua 5 giai đoạn chính:
Trứng - Ấu trùng tuổi 1 - Ấu trùng tuổi 2 - Ấu trùng tuổi 3 - Ấu trùng tuổi 4 - Tuyến
chưa bị hủy hoại, còn những cây vàng thường bệnh đã phát triển ở giai đoạn cuối, lúc
này bộ rễ đã bị phá hủy nhiều, tạo điều kiện để các bệnh nấm, vi khuẩn cùng phát
triển và gây hại cho cây.
Tuyến trùng có thể lan truyền qua các con đường sau:
+ Tiêu giống từ trong vườn ươm đã bị nhiễm bệnh
+ Qua người sản xuất, súc vật, dụng cụ, máy móc canh tác
Lan truyền theo dòng chảy tự nhiên (Nguyễn Ngọc Châu, Nguyễn Vũ Thanh,
1991), (Nguyễn Ngọc Châu, 1995).
Nguồn bệnh có sẵn ở lô trước khi trồng tiêu: do các cây ký chủ của M.
incognita như bí đỏ, cà chua, thuốc lá, cỏ hôi (Nguyễn Ngọc Châu, Nguyễn Vũ
Thanh, 1991).
1.2.3. Các biện pháp quản lý tuyến trùng hại tiêu
Theo Feldphoto (2004), việc quản lý tuyến trùng hại tiêu ở Úc chủ yếu dựa
vào giống kháng cộng với luân canh hoặc xử lý đất bằng biện pháp xông hơi.
Tuy nhiên, việc chọn lọc giống tiêu kháng tuyến trùng là một vấn đề tương
đối khó khăn cho nhiều quốc gia. Vì vậy, các biện pháp canh tác được quan tâm
nhiều hơn. Các nghiên cứu chỉ ra rằng, bón phân đạm với liều lượng cao (56 – 147
kg/hecta), phân vi lượng (Bo, Mangan, đồng, molipđen) làm giảm 50 – 60% mật độ
tuyến trùng nốt sưng và tăng năng suất lên từ 30 đến 40% (Treskova, 1962). Biện
pháp kiểm dịch thực vật được cho rằng có hiệu quả cao trong phòng trừ tuyến trùng
hại tiêu tại Canada (Ray Cerkauskas, 2005). Theo tác giả, biện pháp này bao gồm:
Kiểm dịch nghiêm ngặt khi chuyển giống từ vùng này sang vùng khác, chọn giống
thích hợp cho từng vùng và khi phát hiện khu vực nhiễm bệnh cần cách ly lây lang
SVTH: Trương Kim Trọng Trang 7
Đồ án tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Hai
sang các khu vực khác và không trồng những loại cây dễ nhiễm bệnh tuyến trùng
như: Cây hành, tỏi; Giữ đất khô, cây lật đất vào cuối mùa khô để tiêu diệt trứng của
tuyến trùng, kiểm soát cỏ dại trên đồng ruộng để cắt đứt ký chủ của tuyến trùng cho
phép mật độ tuyến trùng trong đất không vượt quả giới hạn cho phép, không nhập
giống ở những nơi bị bệnh tuyến trùng; Sau khi thu hoạch quả thu nhặt những cây bị
- Dùng choái tiêu sống, có thể dùng cây neem làm choái thay cho cây
vông (cây vông hiện nay bị một loại ong đục ngọn, gây chết rất nghiêm trọng).
Phân bón:
Bón phân hữu cơ có chất lượng ủ hoai triệt để, và phân hữu cơ sinh học là
chính (phân bón gốc, bón lá). Chỉ bón thêm phân hóa học cho cân đối dinh dưỡng.
Biện pháp này tạo dinh dưỡng tối ưu cho cây tiêu phát triển, tạo sức đề kháng sâu
bệnh cho cây, kìm hãm rất hiệu quả nguồn nấm bệnh và tuyến trùng có từ trong đất.
Sử dụng thuốc BVTV:
- Dùng nấm đối kháng Trichoderma bón vào đất (ủ chung với phân bón),
phun Trichoderma nước vào đất và phun lên cây để trừ nấm bệnh.
- Bón bã dầu neem cùng với phân bón.
- Sử dụng chất kích thích tính kháng.
- Sử dụng thuốc trừ sâu sinh học.
- Sử dụng thuốc hóa học hạn chế khi thật cần thiết, không đổ thuốc độc
hóa học xuống gốc tiêu.
Mô hình IPM/ICM nói trên là biện pháp chẳng những rất có hiệu quả quản lý
dịch hại trên cây hồ tiêu mà còn làm tăng chất lượng của sản phẩm hồ tiêu Việt Nam
hiện nay.
Hướng giải quyết vấn đề kiểm soát mầm bệnh và bảo vệ đất đai:
Tiến sĩ Paul Sultie (người mỹ) chuyên gia nghiên cứu độ phì nhiêu của đất đã
đưa ra quan điểm: Quản lý đất đai tổng hợp và cây trồng (IPSM : Integrated Plant
Soil Management). Hướng giải quyết này lúc đầu chưa được chú ý nhiều, nhưng sau
đó không những các nhà khoa học mà nông dân ngày càng quan tâm ủng hộ nhiều
hơn nhờ tính xác thực của nó.
Theo nguyên lý của TS. Paul Sultie, giải quyết vấn đề tác hại của hóa chất bảo
vệ thực vật và phân bón vô cơ có 2 cách như sau:
SVTH: Trương Kim Trọng Trang 9
Đồ án tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Hai
- Dùng tác nhân sinh học để làm vệ sinh đất, giúp lông hút của cây trồng
không bị sự cản ngại của tuyến trùng và các mầm bệnh, để có thể hút hữu hiệu phân
SVTH: Trương Kim Trọng Trang 10
Đồ án tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Hai
Hình 1.1 – Chitin, Chitosan và vỏ tôm
Trong các loài thủy sản đặc biệt là trong vỏ tôm, cua, ghẹ, hàm lượng chitin -
chitosan chiếm khá cao dao động từ 14 - 35% so với trọng lượng khô.
Vì vậy vỏ tôm, cua, ghẹ là nguồn nguyên liệu chính để sản xuất chitin –
chitosan. Về mặt lịch sử, chitin được Braconnot phát hiện đầu tiên vào năm 1821,
trong cặn dịch chiết từ một loại nấm. Ông đặt tên cho chất này là “Fungine” để ghi
nhớ nguồn gốc của nó. Năm 1823 Odier phân lập được một chất từ bọ cánh cứng mà
ông gọi là chitin hay “chiton”, tiếng Hy lạp có nghĩa là vỏ giáp, nhưng ông không
phát hiện ra sự có mặt của nitơ trong đó. Cuối cùng cả Odier và Braconnot đều đi
đến kết luận chitin có dạng công thức giống với xellulose.
1.3.2. Tính chất lý hóa và độc tính của chitosan
Cấu trúc hóa học.
Trong số các dẫn xuất của chitin thì chitosan là một trong những dẫn xuất
quan trọng vì nó có hoạt tính sinh học cao và có nhiều ứng dụng trong thực tế.
Việc sản xuất chitosan rất đơn giản, không cần dung môi, hóa chất độc hại,
đắt tiền. Chitosan thu được bằng phản ứng deacetyl hóa chitin, biến đổi nhóm N-
acetyl thành nhóm amin ở vị trí C
2
.
Do quá trình khử acetyl xảy ra không hoàn toàn nên người ta quy ước nếu độ
deacetyl hóa (degree of deacetylation) DD > 50% thì gọi là Chitosan, nếu DD < 50%
thì gọi là chitin.
Chitosan có cấu trúc tuyến tính từ các đơn vị 2-amino-2-deoxy--D-
SVTH: Trương Kim Trọng Trang 11
Đồ án tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Hai
glucosamine liên kết với nhau bằng liên kết - (1-4) glucozit.
Công thức phân tử: [C
6
Chitosan có tính kiềm nhẹ, không tan trong nước, trong kiềm nhưng hòa tan
được trong dung dịch axit hữu cơ loãng như: axit acetic, axit fomic, axit lactic , tạo
thành dung dịch keo nhớt trong suốt. Chitosan hòa tan trong dung dịch axit acetic 1 –
1,5%. Độ nhớt của chitosan trong dung dịch axit loãnh liên quan đến kích thước và
khối lượng phân tử trung bình của chitosan (đây cũng là tính chất chung của tất cả
các dung dịch polime). Chitosan kết hợp với aldehit trong điều kiện thích hợp để
hình thành gel, đây là cơ sở để bẫy tế bào, enzym. Chitosan phản ứng với axit đậm
đặc, tạo muối khó tan. Chitosan tác dụng với Iod trong môi trường H
2
SO
4
cho phản
ứng lên màu tím.
Tính chất sinh học.
Chitosan không độc, dùng an toàn cho người. Chúng có tính hòa hợp sinh học cao
với cơ thể, có khả năng tự phân hủy sinh học.
SVTH: Trương Kim Trọng Trang 13
Đồ án tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Hai
Chitosan có nhiều tác dụng sinh học như: tính kháng nấm, tính kháng khuẩn với
nhiều loại khác nhau, kích thích sự phát triển tăng sinh của tế bào, có khả năng nuôi dưỡng
tế bào trong điều kiện nghèo dinh dưỡng, tác dụng cầm máu, chống sưng u.
Ngoài ra, Chitosan còn có tác dụng làm giảm cholesterol và lipid trong máu,
hạ huyết áp, điều trị thận mãn tính, chống rối loạn nội tiết.
Với khả năng thúc đẩy hoạt động của các peptit – insulin, kích thích việc tiết
ra insulin ở tuyến tụy nên chitosan đã được dùng để điều trị bệnh tiểu đường. Nhiều
công trình nghiên cứu đã công bố khả năng kháng đột biến, kích thích làm tăng
cường hệ thống miễn dịch cơ thể, khôi phục bạch cầu, hạn chế sự phát triển của các
tế bào u, ung thư, chống tia tử ngoại, chống ngứa của chitosan.
Vào năm 1968, K. Arai và cộng sự đã xác định Chitosan hầu như không độc,
chỉ số LD
phần Chitosan sẽ được dùng như một chất khởi đầu để diều chế các dẫn xuất có nhiều ứng
dụng trong lĩnh vực công nghiệp.
Năm 1961, nhà khoa học Nga BousBeloisov đã khởi xướng việc bào chế
thuốc chống nhiễm xạ từ Chitosan. Các nhà khoa học đã tiến hành thử nghiệm tiêm
thuốc cho động vật chó và khỉ trước khi chúng bị nhiễm xạ, kết quả cho thấy, khả
năng sống sót tới 45%. Rất tiếc, trong thảm hoạ hạt nhân Chernobyl năm 1968, các
thuốc chống xạ trên chưa được công bố rộng nên không được áp dụng cứu người.
Đến sau thảm hoạ tàu nguyên tử Komsomlets, các nhà khoa học đã lên tiếng kêu gọi
nên sử dụng chitosan làm vật liệu kết cấu trong xây dựng các lò phản ứng nguyên tử
và làm vỏ cách ngăn cho các con tàu nguyên tử.
Tại Nhật Bản, năm 1975, Chitosan đã được đưa vào làm chất xúc tác để xử lý
nước thải. Hiện nay, các hãng mỹ phẩm trên thế giới đã ứng dụng thành phần
chitosan vào hàng loạt các sản phẩm của mình. Chúng ta có thể tìm thấy chất này
trong các sản phẩm kem đánh răng, kem chống nắng, phấn mắt, nước xúc miệng, kẹo
chewing-gun Riêng hãng Mỹ phẩm Wella đã dùng Chitin-Chitosan trong ít nhất 15
sản phẩm bảo vệ tóc, và hãng Shiseido, thương hiệu nổi tiếng có mặt nhiều năm tại
thị trường Việt Nam cũng đã dùng chất này trong 13 sản phẩm mỹ phẩm của hãng.
Thế giới ngày càng có xu hướng sử dụng dược phẩm chiết xuất từ nguồn gốc
thiên nhiên. Vì thế, trong nhiều năm qua, các nhà khoa học trên thế giới và cả ở Việt
Nam đã tích cực nghiên cứu chiết tách chitosan từ hàng ngàn tấn vỏ tôm đang được
thải ra tại các cơ sở chế biến đông lạnh, để sản xuất ra nhiều loại thuốc điều trị bệnh
phục vụ cho cuộc sống con người. Điển hình trên thị trường dược hiện nay là loại
thuốc chữa khớp làm từ vỏ tôm có tên Glucosamin đang được thịnh hành trên toàn
thế giới. So với sản phẩm cùng loại thì Glucosamin có ưu thế hơn, do sản xuất từ
SVTH: Trương Kim Trọng Trang 15
Đồ án tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Hai
nguồn vỏ tôm tự nhiên nên sản phẩm ít gây phản ứng, không độc hại và không bị rối
loạn tiêu hoá cho người bệnh. Vì thế, chỉ trong năm 1998, nước Mỹ đã tiêu thụ được
hơn 1 tỷ viên nang Glucosamin. Thậm chí tại các siêu thị, thuốc bán không cần đơn,
chúng được coi như một loại thực phẩm chức năng. Những năm gần đây, loại thuốc
tồn tại trên, nhiều chế phẩm BVTV có nguồn gốc sinh học đã được đăng ký sử dụng.
Tuy vậy, trong thực tế sản xuất, việc sử dụng các chế phẩm sinh học để phòng trừ
sâu bệnh còn nhiều hạn chế. Một trong những lý do chủ yếu là các chế phẩm sinh
học thường chỉ được sử dụng riêng lẻ với mục tiêu diệt trừ ngay sâu bệnh khi chúng
đã phát sinh gây hại. Kết quả là trong đa số các trường hợp hiệu quả diệt trừ sâu bệnh
tỏ ra không bằng so với sử dụng thuốc hóa học nên chưa được nhiều nông dân chấp
nhận. Để hiệu quả phòng trừ sâu bệnh hại của các chế phẩm sinh học thể hiện rõ, các
chế phẩm sinh học cần phải được sử dụng theo quy trình xác định trong từng điều
kiện cụ thể.
Theo nghiên cứu của Halina Kurzawinska (2007) Khoa bảo vệ thực vật
trường Đại học Nông nghệp Ba Lan chứng minh rằng: Ảnh hưởng lớn của Chitosan
trong việc bảo vệ rau và cho rằng bệnh về rễ (Pythium của Dưa chuột) được khống
chế khi sử dụng chitosan sử dụng với liều lượng 100 - 400 mg/ml. Biochikol 020 PC
khi được tưới vào đất thì tốt hơn việc xịt lên cây để chống các loài nấm thuộc dòng
Phytopthora và Fusarium. Ngoài ra chitosan là hoạt chất của Biochikol 020 PC và
hoạt động kích thích miễn dịch của cây, chống lại hoạt động của nấm tác động đến
cây. Chitosan còn là nhân tố giúp cây có phản ứng tự vệ ở trong cây. Khi phun lên lá
và tưới gốc, Chitosan được cây hấp thụ nhanh và lưu dẫn trong toàn cây. Chitosan
kích thích hoạt động của hệ thống kháng bệnh trong cây, giống như một loại vắc xin
thực vật, tăng khả năng đề kháng của cây với các loài vi sinh vật gây bệnh, bao gồm
cả nấm, vi khuẩn, tuyến trùng và virus. Ngoài ra, khi tiếp xúc với vi sinh vật, chất
Chitosan có thể phá hủy màng tế bào làm vi sinh vật không phát triển được. Chitosan
còn có tác dụng như một chất kích thích tăng trưởng cây trồng.
Ở nước ta hiện nay chất Chitosan bước đầu đã được đăng ký phòng trừ nhiều
loại bệnh cho nhiều loại cây trồng như các bệnh đạo ôn, đốm vằn, bạc lá, lem lép hạt
hại lúa, bệnh sương mai hại dưa, bắp cải, khoai tây, thán thư hại ớt, bệnh héo rũ, lở
cổ rễ, bệnh chết nhanh hồ tiêu, bệnh gỉ sắt cà phê, bệnh thối quả xoài, bệnh do tuyến
trùng trên nhiều loại cây như thanh long, cà phê, hồ tiêu, chè, hoa cúc, hoa huệ…
Đối với cây có múi, chất Chitosan có thể hạn chế tác hại nhiều loại bệnh như thán
thư, loét, tuyến trùng… Ngoài ra, Chitosan còn được sử dụng kích thích sinh trưởng
Khảo nghiệm được bố trí trên những khu vực trồng cây tiêu đang có biểu hiện
bị tuyến trùng gây hại (vàng lá, còi cọc). Các điều kiện trồng trọt như đất đai, phân
bón, mật độ cây, chế độ chăm sóc… được tiến hành đồng đều trên mọi ô khảo
nghiệm và phù hợp với tập quán canh tác của địa phương.
Khảo nghiệm được chia thành 8 lô, mỗi ô có 10 cây (10 nọc), tổng số lượng
cây tiêu thí nghiệm là 80 cây, gồm 7 lô sử dụng thuốc và một lô đối chứng không xử
lý thuốc được trình bày như sau:
Nghiệm
thức
Nồng độ sử dụng Cách xử lý
1 Chitosan 0,5% Tưới vào gốc + phun lên lá
2 Chitosan 1% Tưới vào gốc + phun lên lá
3 Chitosan 1,5% Tưới vào gốc + phun lên lá
4 Chitosan 0,5% + Abamectin 5 WP
2%
Tưới vào gốc + phun lên lá
5 Chitosan 1% + Abamectin 5 WP 2% Tưới vào gốc + phun lên lá
6 Chitosan 1,5% + Abamectin 5 WP Tưới vào gốc + phun lên lá
SVTH: Trương Kim Trọng Trang 19
Đồ án tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Hai
2%
7 Sincocin 0.56 SL (0,2 %) Tưới đẫm quanh gốc
8 Đối chứng Không tưới Chitosan và
không phun thuốc
Phương pháp xử lý:
Đào rảnh xung quanh gốc cây (cách gốc khoảng 20 cm), sau đó tưới thuốc vào
rảnh với liều lượng 1 lít/gốc (tránh nước chảy tràn ra ngoài) rồi lấp đất lại. Sau khi
xử lý thuốc dưới gốc, dung dịch (cùng nồng độ với dung dịch tưới dưới gốc) được
phun ướt đều trên tán lá tiêu cũng với liều lượng 1 lít/gốc. Mẫu rễ và đất được lấy cố
định trên 3 cây tiêu thí nghiệm. Mỗi công thức theo dõi 10 cây tiêu.
−
Tb
Cb
.
Ca
Ta
1
.100
Trong đó:
Ta: Mật độ tuyến trùng của lô thí nghiệm sau xử lý.
Tb: Mật độ tuyến trùng của lô thí nghiệm trước xử lý.
Ca: Mật độ tuyến trùng của lô đối chứng sau xử lý.
Cb: Mật độ tuyến trùng của lô đối chứng trước xử lý.
Độc tính của thuốc đối với cây tiêu
Nếu cây tiêu có biểu hiện ngộ độc thì cần quan sát nhiều lần cho đến khi cây
phục hồi hoặc chết. Các triệu chứng ngộ độc có thể đánh giá bằng mắt như biến
vàng, cháy, biến dạng… thì ước lượng độ độc cho toàn ô dựa theo thang đánh giá
sau.
Cấp Triệu chứng
1 Cây bình thường.
2 Triệu chứng ngộ độc rất nhẹ, sinh trưởng của cây giảm nhẹ.
3 Triệu chứng ngộ độc nhẹ, nhưng thấy được bằng mắt.
4 Triệu chứng ngộ nặng hơn (ví dụ mất diệp lục) nhưng có thể chưa ảnh
hưởng đến năng suất.
5 Cây biến màu, cháy lá nặng. Có ảnh hưởng đến năng suất.
6,7,8,9 Thiệt hại cho đến mức cây chết hoàn toàn.
8 ± 2,08
58 ± 7,23
6. Chitosan + Abamectin 5 WP, nồng
độ 1,5% + 2%
11 ± 1,53
99 ± 2,08
7. Sincocin 0.56 SL (0,2 %) 9 ± 1,53 62 ± 1,53
8. Đối chứng 7 ± 1 21 ± 2,08
SVTH: Trương Kim Trọng Trang 22
Đồ án tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Hai
Ghi chú: Biện pháp xử lý: tưới vào gốc
Kết quả theo dõi ở bảng 3.1 cho thấy, tuyến trùng có mặt ở trong rễ của tất cả
các cây tiêu ở các công thức thực nghiệm. Trong rễ, mật độ tuyến trùng biến động từ
7 – 13 con/10 ml dịch lọc. Tương tự, mật độ tuyến trùng trong đất cũng rất cao và
phân bố ở tất cả các công thức. Điều này cho thấy, tuyến trùng Meloidogyne spp. rất
phổ biến trong đất và trong rễ cây tiêu có biểu hiện bị bệnh tại vùng thí nghiệm với
mật độ khá cao
Hình 3.1: Hình lấy mẫu đất và mẫu rễ để quan sát tuyến trùng
Hình 3.2: Mật độ tuyến trùng trong
dịch lọc rễ ở lô đối chứng
(ảnh chụp dưới kính hiển vi)
Hình 3.3: Mật độ tuyến trùng trong
dịch lọc đất ở lô đối chứng
(ảnh chụp dưới kính hiển vi)
SVTH: Trương Kim Trọng Trang 23
Đồ án tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Hai
Hình 3.4: Mẫu rễ tiêu sau khi cắt thành
đoạn dài 0.5 cm
Hình 3.5: Lọc tuyến trùng trong mẫu rễ
cây tiêu
%), nghiệm thức 5 (Chitosan 1% + Abamectin 5WP 2%), nghiệm thức 6 (Chitosan
1.5 % + Abamectin 5WP 2%) và nghiệm thức 7 (Sincocin 0.56 SL 0,2 %) không tìm
thấy tuyến trùng. Trong khi đó ở đối chứng, có đến 8 tuyến trùng/10ml dịch lọc,
không giảm nhưng lại có xu hướng tăng hơn so với trước đó 5 ngày.
- Trong đất: Mật độ tuyến trùng ở tất cả các công thức đều giảm so với trước
khi xử lý, trừ công thức đối chứng, có xu hướng tăng hơn so với trước khi xử lý.
Điều này cho thấy rằng, chế phẩm Chitosan thể hiện hiệu quả phòng trừ tuyến
trùng hại tiêu khá nhanh, chỉ trong vòng 5 ngày sau khi xử lý.
SVTH: Trương Kim Trọng Trang 25