BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ TP.HCM
KHOA MÔI TRƯỜNG CÔNG NGHỆ SINH HỌC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Đề Tài:ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ PHÒNG TRỪ SÂU,
BỆNH HẠI BẰNG CHẾ PHẨM SINH HỌC
TRÊN CÂY DƯA LEO TRONG NHÀ MÀNG
TẠI KHU NÔNG NGHIỆP CÔNG NGHỆ
CAO THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
GVHD : TS. NGUYỄN THỊ HAI
SVTH : HUỲNH KHẮC LUYỆN
LỚP : 07CSH
MSSV : 207111028
Biểu đồ 3.3: so sánh khả năng tiêu diệt và phòng trừ của chế phẩm sinh học và thuốc hóa
học.
Biểu đồ 3.4: Diễn biến mật độ bọ rùa trên 2 nghiệm thức
Biểu đồ 3.5: Diễn biến mật độ nhện ăn thịt trên 2 nghiệm thức
Hình ảnh
Hình 1.1: Bọ phấn trắng
Hình 1.2: Bọ trĩ
Hình 1.3: Bọ rùa
Hình 1.4: Nhện đỏ
Hình 1.5: Bệnh phấn trắng
Hình 1.6: Cơ chế tác động của Abamectin
Hình 1.7: Cơ chế gây độc
Hình 1.8: Hoạt động tương tác giữa nấm ký sinh Trichoderma và nấm ký chủ. Danh mục các kí hiệu và hình vẽ
Kí hiệu:
SH: sinh học
HH: hóa học
BVTV: bảo vệ thực vật
EC: thuốc trừ sâu dạng nhũ dầu
SC: thuốc trừ sâu dạng huyền phù
Hình vẽ:
Hình 1.1: Bọ phấn trắng
Hình 1.2: Bọ trĩ
Hình 1.3: Bệnh phấn trắng
Hình 1.4: Bọ rùa
+ Ý nghĩa khoa học: kết quả nghiên cứu của chuyên đề là cơ sở khoa học góp phần
xây dựng biện pháp phòng trừ sâu hại theo hướng an toàn và hiệu quả,đồng thời là
tài liệu tham khảo cho những nghiên cứu tiếp theo về phòng trừ sâu hại cho cây rau
nói chung và cây dưa leo nói riêng.
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Hai
Huỳnh Khắc Luyện 2 MSSV: 207111028
+ Ý nghĩa thực tiễn: kết quả nghiên cứu của khóa luận cung cấp thêm thông tin có ích
cho nông dân trong sản xuất rau, góp phần quản lý đồng ruộng có hiệu quả,vừa nâng
cao được năng suất cây trồng, giảm chi phí, tăng thêm lợi nhuận, vừa đảm bảo an
toàn, không làm ảnh hưởng đến sức khoẻ con người và môi trường.
đến thời kỳ có quả. ở Vĩnh Phúc thường hại nặng vào tháng 3-5 và tháng 10-11.
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Hai
Huỳnh Khắc Luyện 4 MSSV: 207111028
Bảng 1.1: Thành phần sâu hại trên dưa leo
STT
Tên Việt Nam Tên khoa học Bộ Mức độ
phổ biến
1 Sâu ăn lá Diaphaniaindica Lepidoptera +++
2 Ruồi đục lá Liriomyza sativae Agromyzidae +
3 Ruồi đục trái Bactrocera Cucurbitae Trypetidae ++
4 Bọ trĩ Thrips pami Karny Thripidea +++
5 Bọ phấn Bemisia tabaci Homoptera ++++
6 Bọ rùa Epilachna
Vigintioctomacucuta
Coccinelliae +
7 Bệnh phấn trắng
Erysiphe cichoracearum
Eysiphal +++
8 Bệnh lở cổ rễ Rhizoctonia solani Rhizoctonia solani ++
9 Bệnh ghẻ Clasdosporium cucumerium Clasdosporium ++
1.2. Giới thiệu số loài sâu, bệnh hại chính trên cây dưa leo
1.2.1. Bọ phấn trắng (Bemisia tabaci).
Giới: Animania
Huỳnh Khắc Luyện 6 MSSV: 207111028
Bụng có 9 đốt, đốt thứ nhất hơi thót lại làm cơ thể có dạng hình ong. Mảnh lưng đốt
bụng cuối cùng ở con đực có 2 vật lồi. ống đẻ trứng ở con cái tạo nên từ 3 đôi vật lồi
hợp lại như một mũi khoan. Sâu non có cơ thể màu vàng nhạt. Khi mới nở có chân và
bò dưới mặt lá, sau đó sâu non ở cố định một chỗ dưới mặt lá, sau đó sâu non ở cố
định một chỗ dưới mặt lá, lột xác sang tuổi 2 và không còn chân, tuy vậy trong suốt
giai đoạn sâu non đều có mắt kép và râu đầu. Kích thước sâu non đẫy sức dài 0,7-
0,9mm, rộng 0,5-0,6mm. Sâu non có 3 tuổi. Nhộng giả hình bầu dục, màu sáng, có
một số lông thưa sắp xếp 2 bên sườn, phía sau lỗ hậu môn có rãnh mông. Miệng thoái
hoá, râu và chân ngắn hơi cong. Trứng hình bầu dục có cuống. Trứng dài 0,18-0,2mm
(trừ phần cuống). Mới đẻ màu trong suốt, sau chuyển sang màu sáp ong,rồi màu nâu
xám.
− Tập tính sinh sống và quy luật phát sinh gây hại: bọ trưởng thành ban ngày ở dưới
mặt lá hoạt động rất linh hoạt. Khi bị khua động lập tức bay vút lên cao khoảng 0,5
mét và xa 1-2 mét, sau đó xà xuống ngọn cây.Khi trời nắng to hoặc trời mưa thì bọ
trưởng thành thường nấp dưới những lá gần mặt đất và những nơi rậm rạp. Hàng ngày
bọ trưởng thành hoạt động giao phối nhiều nhất lúc 5-6 giờ sáng và 4-5 giờ chiều.
Không thích ánh sáng trực xạ. Trứng đẻ thành ổ 4-6 quả, ở mặt dưới của lá cùng có
khi đẻ rải rác trong mô lá, thường đẻ tập trung ở lá bánh tẻ. trứng lúc đầu có màu hơi
trắng sau đó chuyển sang màu nâu. Một con cái đẻkhoảng 50-160 quả trứng. Trong
điều kiện nhiệt độ 30°C giai đoạn trứng kéo dài trong khoảng 5-9 ngày. Sâu non tuổi
1 cơ thể dẹt, hình ô val và hơi giống với rệp sáp non, bò chậm chạp trên lá, cuối tuổi 1
chúng ở mặt dưới lá, tại đó lột xác sang tuổi 2, từ đó sống cố định cho đến lúc hoá
trưởng thành. Sâu non tuổi 1,2,3 kéo dài trong khoảng 2- 4 ngày tùy theo điều kiện
nhiệt độ. sâu non tuổi 4 là giai đoạn tiền nhộng, cơ thể dài 0,7mm. Giai đoạn nhộng
kéo dài trong khoảng 6 ngày. Sau khi hóa trưởng thành từ 12-20 giờ thì chúng bắt
đầu giao phối, chúng giao phối một số lần trong thời gian này, con trưởng thành cái
có thể sống tới 60 ngày, còn con đực chỉ sống từ 9-17 ngày. Trưởng thành không có
khả năng bay xa nhưng nhờ gió to nó thể phát tán đi rất xa. Trong điều kiện nhiệt độ
18-19
số loại thuốc sử dụng cho hiệu lực trừ bọ phấn cao như: Bifenthrin, Buprofezin,
Imidacloprid, Fenpropathrin, Endosulphan, Cyfluthrin, Amitraz, Fenoxycarb,
Deltamethrin and Azidirachtin.
1.2.2. Bọ trĩ (Thrips palmi Karny)
Giới: Animalia
Ngành: Arthropoda
Lớp: Insecta
Bộ: Thysanoptera
Họ: Thripidae
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Hai
Huỳnh Khắc Luyện 8 MSSV: 207111028
Chi: Thrips
Chi: Thrip
Hình 1.2: Bọ trĩ
− Hình thái: Bọ trĩ có khoảng 2500 loài gồm những loài cơ thể nhỏ hoặc rất nhỏ,
mình dài, mãnh và hơi dẹp. Râu đầu 6-9 đốt. Mắt kép phát triển lồi lên rõ, mắt đơn 2-
3 cái(loài có cánh) hoặc không có(loài không cánh). Miệng dũa hút. Hàm trên thái hóa
không cân xứng còn lại đôi râu hàm dưới và đôi râu môi dưới. Ngực trước phát triển.
Bàn chân có 1-2 đốt, mỗi đốt có bọt bong lồi ở phía trước. Cánh hẹp dài mọc đầy long
dài như lông chim, mạch cánh thái hóa. Lúc đậu yên 2 cánh xếp bằng 2 bên lưng.
Bụng có 10-11 đốt, có 1 ống đẻ trứng hoặc cuối bụng kéo dài thành dạng ống đẻ
trứng. Không có lông đuôi. Bọ trĩ thuộc nhóm biến thái không hoàn toàn. Bọ trĩ non
và bọ trĩ trưởng thành có hình dạng và tâp quán sinh sống tương tự nhau.
− Tập tính sinh sống và quy luật phát sinh gây hại: Bọ trĩ thường sinh sống trên các
bộ phận của cây như chồi non, lá non, quả đặc biệt là ở hoa. Các bộ phận này khi bọ
trĩ phá hại thường có vết châm đổi màu hoặc sần sùi công queo,khô quắt. Tính ăn của
bọ trĩ: có nhiều loài có tính ăn rộng hoặc ăn chuyên. Ngoài việc ngây hại trực tiếp đối
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Hai
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Hai
Huỳnh Khắc Luyện 10 MSSV: 207111028
1.2.3. Bọ rùa ăn thịt (Epilachna sp)
Giới: Animalia
Ngành: Arthropoda
Lớp: Insecta
Bộ: Coleoptera
Họ:Coccinellidae
Chi: Epilachnina Hình 1.3: Bọ rùa
− Phân bố: Có ở nhiều nước trồng khoai tây, cây họ cà và bầu bí, củ cải đường,
hướng dương trên thế giới. ở nước ta bọ rùa 28 chấm xuất hiện ở khắp nơi.
− Ký chủ: Là loài có phổ ký chủ rộng. Chúng phá hại trên những cây trồng như:
khoai tây, củ cải đường, hướng dương, cà chua, cà pháo, cà bát, ớt, bầu, bí, mướp, dưa
chuột và rất nhiều cây dại thuộc họ cà (Solanaceae), họ bầu bí (Cucurbitaccae).
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Hai
Huỳnh Khắc Luyện 11 MSSV: 207111028
− Triệu chứng và mức độ gây hại: Trưởng thành và ấu trùng ăn thịt lá để lại gân lá
và biểu bì trên taọ thành các vân lõm, các vết hại riêng rẽ có hình không xác định.
Phần lá bị khi khô chuyển màu nâu xám, làm giảm diện tích quang hợp của lá. Nếu
hại nặng cây sinh trưởng kém.
− Hình thái: Bọ rùa trưởng thành màu nâu vàng. Cơ thể hình bán cầu, con cái dài
5,5-6,5 mm, rộng 5-5,5,mm, mặt bụng phẳng, lưng cong vồng lên. Lưng ngực trước
có 6 chấm đen nhưng sự tách biệt không rõ. Mỗi cánh cứng có 14 chấm đen nhỏ hơn
và hơi tròn. Phiến thuẫn màu đen. Mặt dưới cơ thể cũng có màu đen nhưng không đều
màu. Trứng hình viên đạn dài 1,3 mm lúc đầu màu vàng tươi sau chuyển sang màu
nâu vàng. Trứng được đẻ thành từng ổ 20-30 quả. Sâu non đẫy sức dài 7 -8 mm, hình
Chi: Tetranychus
Hình 1.4: Nhện đỏ
− Đặc điểm sinh học: Giai đoạn trứng khoảng 3-8 ngày, một nhện đỏ cái có thể đẻ
khoảng 90 trứng; nhện non khoảng 4-12 ngày, trưởng thành sông khoảng 10-20 ngày.
Vào các tháng hè nhiệt độ cao, nhện đỏ có thể hoàn thành một thế hệ khoảng 9-12 ngày;
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Hai
Huỳnh Khắc Luyện 13 MSSV: 207111028
các tháng mùa đông lạnh hơn thời gian có thể hoàn thành một thế hệ khoảng 28-30 ngày.
Nhện đỏ xuất hiện gây hại quanh năm.
− Đặc điểm hình thái:
+ Trưởng thành: có màu đỏ hồng hay đỏ nhạt, con cái thân hình gần tròn, con đực thân
thuôn hơn, có 8 chân, thân dài khoảng 0,3 - 0,5 mm, bề ngang khoảng 0,2 - 0,4 mm.
+ Trứng: hình cầu dẹt, ở giữa có một lông cong, lúc mới đẻ có màu hồng, sau chuyển
thành màu đỏ tươi, lúc sắp nở màu đỏ nâu.
+ Nhện non: mới nở có 6 chân, kích thước thân khoảng 0,2 mm, nhện non lột xác lần
1 thành nhện tiền trưởng thành 1, có 8 chân, kích thước cơ thể khoảng 0,3 mm, lột xác
lần 2 thành tiền trưởng thành 2, kích thước cơ thể khoảng 0,35 mm, lột xác lần thứ 3
thành nhện trưởng thành.
− Đặc điểm gây hại: Nhện đỏ là loại nhện gây hại quan trọng trên nhiều loại cây, chúng
sống ở cả hai mặt lá bánh tẻ đến lá trưởng thành, thường tập trung dọc hai bên gân chính
của lá, di chuyển chậm chạp. Nhện gây hại làm lá cây chuyển thành màu hung đỏ. Tại
nơi chúng sống có thể có một lớp mạng nhện bao phủ được tạo bởi các sợi tơ ngắn và
mảnh.
− Các loại nhện này đều sống trên lá, cuống lá, búp cây, dùng vòi hút dạng kim châm
hút dịch cây làm cây sinh trưởng kém, búp cây bị mù xoè nhiều, lá cây bị hại biến màu
nâu lốm đốm đến màu tím đồng, trên mặt lá có nhiều bụi bẩn màu trắng xám. Cây bị hại
nặng mép lá non cong lên, lá rụng dần, năng suất bị giảm nghiêm trọng. Những năm gần
đây một số vùng khô hạn, sử dụng nhiều loại thuốc trừ sâu, trồng nhiều giống chè mới
nên tác hại của nhện có chiều hướng gia tăng.
gây hại nặng từ tháng 3 đến tháng 5 trong vụ đông xuân vào giai đoạn cây có từ 4 – 5 lá
kép.
− Bệnh phấn trắng thường phát triển mạnh trong điều kiện nhiệt độ khoảng 20
0
C. Bệnh
gây hại nặng từ tháng 3 đến tháng 5 trong vụ đông xuân vào giai đoạn cây có từ 4 – 5 lá
kép. Biện pháp phòng trừ: Sau khi thu hoạch xong thu gom sạch sẽ những tàn dư của cây
, đem ra khỏi ruộng rồi tiêu hủy. Xử lý hạt giống trước khi gieo bằng thuốc bảo vệ thực
vật.Ở những ruộng thường bị bệnh gây hại nên phun thuốc phòng trừ bệnh khi bệnh
chớm xuất hiện bằng một trong các loại thuốc như: Aliette 80WP 0,25%, Cavil, Ridomil
Gold 68 WP, Diboxylin 23 L, 4 SL, 8SL
1.2. Phòng trừ sâu, bệnh hại trên cây dưa leo
− Trước những năm 1990, công tác phòng trừ sâu, bệnh hại trên cây dưa leo chủ yếu
dựa vào biện pháp hóa học. Tuy nhiên, biện pháp hóa học đã gây nhiều ảnh hưởng tiêu
cực đến sức khỏe con người và môi trường sống. Vì vậy, hầu hết sản xuất dưa leo của các
nước phát triển đang dần đi vào sản xuất an toàn (Caldwell và cộng sự ,2005).Một số loại
thuốc hóa học gốc đồng và gốc lưu huỳnh được khuyến cáo sử dụng hợp lý trong chương
trình phòng trừ bệnh cây. Đặc biệt, nấm đối kháng Trichoderma (Trichoderma
harzianum) ,vi khuẩn đối kháng (Bacillus thuringiensis) được sử dụng rộng rãi để trừ
bệnh hại dưa leo ở nhiều nước trên thế giới. Chế phẩm dầu neem cũng được sử dụng để
trừ một số bệnh hại (Caldwell và cộng sự , 2005).Trong sản xuất dưa leo hữu cơ, các chế
phẩm có nguồn gốc sinh học và thảo mộc được sử dụng rộng rãi để trừ các loài sâu hại
như: Chế phẩm neem, dầu khoáng (bịt lỗ thở của sâu chích hút), nhóm cúc tổng hợp
(Pytherin), Abamectin… ( Babadoost, M, (2006). Một số loài thiên địch được sử dụng trừ
bọ trĩ hại dưa leo trong nàh kinh như: bọ xít đen nhỏ Orius spp, nhện nhỏ bắt mồi…
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Hai
Huỳnh Khắc Luyện 16 MSSV: 207111028
− Ở Việt Nam, việc phòng trừ sâu, bệnh hại trên cây dưa leo chủ yếu dựa vào biện pháp
hóa học. Nông dân phải phun nhiều loại thuốc và phun nhiều lần trong 1 vụ, từ đó gây ra
ô nhiễm môi trường và tăng chi phí sản xuất.
+ Thu gom tiêu hủy thân lá cây sau thu hoạch, cầy đất, phơi ải. Lên luống cao, rãnh
thoát nước nhanh, chống đất quá trũng, ẩm ướt, đọng nước trước và sau khi trồng.
+ Luân canh với trồng nước như cây lúa, hoặc các cây họ thập tự bắp cải, su hào,
hoặc các cây khác không bị các loài bệnh hại dưa chuột.
− Cây dưa leo có khá nhiều sâu hại,vì vậy đã có nhiều biện pháp phòng trừ được nghiên
cứu để có thể tạo ra được sản phẩm an toàn và hiệu quả, một trong những biện pháp đang
được hướng tới cho các loại cây trồng nói chung là biện pháp phòng trừ tổng hợp. Theo
J.E. Funderburk (1993), phòng trừ tổng hợp là một phương pháp phòng trừ dịch hại theo
kiểu sinh thái (Dẫn theo Nguyễn Công Thuật, 1995). Trong phòng trừ tổng hợp các loài
thiên địch của sâu bệnh hại giữ một vai trò rất quan trọng. Một số thiên địch của sâu hại
rau như nhện sói, bọ rùa đỏ, ruồi ăn rệp, bọ xít … chúng có khả năng khống chế sự phát
triển của một số loài sâu như sâu khoang, sâu tơ, rầy, rệp… Khi nghiên cứu về vai trò của
ruồi ăn rệp muội (Syrphus ribessi Linne) H.V. Weem (1954) cho rằng khi mật độ quần
thể sâu non của ruồi ăn rệp lên cao chúng co khả năng khống chế quần thể rệp từ 70-
100%.
1.3. Vài nét về chế phẩm Abamertin và Trichoderma
1.3.1. Chế phẩm Abamectin
− Đáp ứng yêu cầu ngày càng tăng về nông sản sạch, việc sản xuất và sử dụng thuốc
bảo vệ thực vật (BVTV) nguồn gốc sinh học càng ngày càng phát triển. Nhiều loại thuốc
BVTV nguồn gốc sinh học thế hệ mới tiếp tục ra đời. Ngoài đặc điểm chung là có độ an
toàn cao với người và môi trường, những loại thuốc thế hệ mới này cũng có một số đặc
điểm mới so với các thuốc sinh học trước đây
− Chất Abamectin và Amamectin
+ Là các chất được chiết xuất trong môi trường nuôi cấy loài xạ khuẩnStreptomyces
avermitilis. Hai chất này có cấu tạo hóa học và tính chất gần giống nhau, trong đó
Emamectin có hiệu lực diệt sâu mạnh hơn. Thuốc có tác động diệt sâu qua đường tiếp
xúc, vị độc và có khả năng thấm sâu, hiệu lực diệt sâu nhanh và mạnh không thua kém
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Hai
Huỳnh Khắc Luyện 18 MSSV: 207111028
thuốc hóa học. Do hiệu lực mạnh nên lượng hoạt chất sử dụng rất thấp, chỉ từ 3-5 g/ha,
− Xảy ra trong những tế bào thần kinh và tế bào cơ yếu Avermectin cũng như Ivermectin
liên kết đặc hiệu đến kênh glutamate-gated chloride mở kênh, gia tăng tính thấm của
màng tế bào dẫn tới sự đi vào những Ion clo, dẫn tới sự phân phân cực của của tế bào cơ
và tế bào thần kinh và không còn trả lời những kích thích đầu vào.
− Kết quả sự phân cực dẫn tới tình trạng liệt và chết trực tiếp hoặc gián tiếp do đói.
Vài kết quả nghiên cứu cho thấy rằng vai trò khử cực hơn là vai trò phân cực của
Avermectin trên kênh glutamate-clorua .
Hình 1.6: Cơ chế tác động của Abamectin
Sự liên kết đặc hiệu của glutamate hay avermectin đến kênh glutamate-gated-clorua dẫn
đến mở kênh và ion clorua đi vào gây nên sự phân cực
.
Hình 1.7: Cơ chế gây độc
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Hai
Huỳnh Khắc Luyện 20 MSSV: 207111028
1.3.2. Chế phẩm Trichoderma
− Nấm đối kháng là những thành viên quan trọng trong hệ vi sinh vật ( pomch và công
tác viên, 1920). Chúng thường tiết ra các men kháng sinh gây độc đối với các nâm gây
bệnh hoặc nấm kháng cạnh tranh điều kiện sống với các nấm gây bệnh. Sự phân biệt của
chúng dựa vào điều kiện địa lý, tình trạng đất , dinh dưỡng và các điều kiện về sinh
trưởng và phát triển và thảm thực vật trong từng khu vực. Nấm đối kháng có thể kìm hãm
sự phát triển của nâm gây bệnh , giúp cây hồi phục sinh trưởng và phát triển. Một số loài
nấm đối kháng được tìm thấy như: Penicillin axalicum, P.Vermiculata, P.Chregsogtum ,
Trichoderma sp, là đối kháng của nấm gây bệnh: Fusarium, Pythium Rhizoctonia
solani ( Martin và các cộng tác viên ,1995)
v Cơ chế đối kháng của nấm Trichoderma:
− Sự đối kháng của nấm trichoderma thông qua nhiều cơ chế. Vào năm 1932, Weidling
đã mô tả hiện tượnh nấm Trichoderma ký sinh nấm gây bệnh nên đặt tên cho hiện tượng
là “ giao thoa sợi nấm” ( cnyder,1976). Hiện tượng giao thoa gồm ba giai đoạn như :
+ Sợi nấm Trichoderma vây quanh nấm gây bệnh.
cellulase.
• Hệ enzymechitinase:
− Chitin l polysaccharide có nhiều trong tự nhiên, chúng tham gia trong hầu hết cấu
trúc polyme ở nấm và côn trùng, công thức hóa học: [C
8
H
13
NO
5
]
n
.
− Công thức cấu tạo:
+ Chitin có cấu tạo và chức năng gần giống với cellulose, trong tự nhiên, chitin là chất
hữu cơ chiếm thứ hai sau cellulose về số lượng, chitin thay thế một phần hay toàn bộ
cellulose trong thành tế bào của một số loài thực vật.
+ Chitin là chất rắn vô định hình, không tan trong nước và hầu hết các acid, alcol,
dung môi hữu cơ khác. Tuy nhiên, chitin có thể bị thủy giải bởi acid vô cơ mạnh (HCl
đậm đặc) hoặc bằng enzyme vi sinh vật.
+ Enzyme chitinase l thủy giải chitin, chitinase xúc tác cắt liên kết C1 và C4 của 2
đơn vị: beta-1,4-N-acetylglucosamine (GlcNac). Hệ enzyme chitinase được phân thành
3 lớp (Sahai và Manocha, 1992):