Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Phần mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Du lịch ngành công nghiệp không khói, ngành xuất khẩu tại chỗ, ngày
nay đã trở thành một ngành kinh tế quan trọng trong cơ cấu kinh tế của nhiều quốc
gia và đợc coi là một trong những ngành kinh tế hàng đầu của nền kinh tế thế giới.
Theo đánh giá của Tổ chức du lịch thế giới (UNWTO), hoạt động du lịch ngày càng
có tác động quan trọng đến sự phát triển kinh tế - xã hội trên phạm vi toàn cầu.
ở Việt Nam, nhận thấy vai trò to lớn của du lịch đối với nền kinh tế xã hội
của đất nớc, Nghị quyết Đại hội lần thứ IX Đảng và Nhà nớc cũng đã xác định Phát
triển du lịch thật sự trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn [11]. Là một quốc gia có
nhiều tài nguyên du lịch phong phú với chính sách ngoại giao, kinh tế rộng mở, linh
hoạt, đa phơng hoá, đa dạng hoá, hơn nữa lại đã trở thành một thành viên chính thức
của Tổ chức thơng mại thế giới (WTO) và đợc hởng Quy chế thơng mại bình thờng
vĩnh viễn (PNTR) với Hợp chủng quốc Hoa kỳ [01], Việt Nam có nhiều thuận lợi để
trở thành một quốc gia có ngành du lịch phát triển hàng đầu trong khu vực.
Trong 10 năm qua, lợng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam tăng trung bình
thêm hơn 20% mỗi năm, năm 1996 đón tiếp 1,6 triệu lợt khách quốc tế và 2006 là 3,6
triệu lợt, thu nhập xã hội từ du lịch tăng trung bình thêm khoảng 40% một năm, năm
1996 doanh thu đạt khoảng trên 600 triệu USD và năm 2006 là khoảng 3,2 tỷ USD
[42]. So với các nớc trong khu vực nh: Thái Lan, Malaysia, Singapore có số l ợng
khách quốc tế đến trên 10 triệu lợt khách quốc tế năm và doanh thu từ du lịch lên tới
hàng chục tỷ USD [35] thì du lịch Việt Nam phát triển cha tơng xứng với tiềm năng
sẵn có.
Nguyên nhân cơ bản về sự hạn chế này là do cơ sở hạ tầng kỹ thuật của đất nớc
còn yếu kém, sản phẩm du lịch của Việt Nam vẫn nghèo nàn, đơn điệu, tính đa dạng
cha cao, ít có sự lựa chọn cho khách du lịch nớc ngoài. Mặt khác, mục tiêu của ngành
1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
du lịch Việt Nam đợc xác định còn thiên về số lợng khách cha chú ý tới chất lợng của
nguồn khách. Có thể thấy rõ điều này qua sự so sánh sau: năm 2004 Newzealand đón
nay golfing vẫn đợc xem là một lĩnh vực còn mới, cha đợc nghiên cứu một cách có hệ
thống ở Việt Nam, cho nên tác giả đã chọn đề tài Golfing với việc thu hút khách
du lịch tại hai sân golf Đồng Mô và Chí Linh làm luận văn thạc sỹ.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Hiện nay, các tài liệu về golfing cả ở trong nớc cũng nh trên thế giới không
nhiều và chủ yếu chỉ đề cập đến nó dới góc độ là một môn thể thao đơn thuần hay chỉ
là một sở thích. Vì vậy các tài liệu đó đa phần thuộc dạng sách, tạp chí chỉ dẫn hay
cẩm nang (guide book, magazine, handbook) nhằm giới thiệu lịch sử, sự phát triển
của golfing, hớng dẫn các kỹ năng cụ thể, các dụng cụ chơi, giới thiệu các sân golf
hiện có cũng nh các giải thi đấu.
Việc nghiên cứu xem xét golfing dới góc độ là một sản phẩm du lịch, hơn thế -
một sản phẩm du lịch cao cấp thuộc loại hình du lịch thể thao giải trí cha sâu sắc,
không có tính liên kết với các sản phẩm du lịch khác. Từ đó, dẫn tới việc tổ chức khai
thác golfing nh một sản phẩm du lịch còn cha linh hoạt và đa dạng không đáp ứng đ-
ợc đầy đủ nhu cầu du lịch ngày càng cao của du khách và hệ quả là hoạt động kinh
doanh cha đạt hiệu quả cao.
3. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Mục đích của đề tài là nghiên cứu, đánh giá hiện trạng golfing tại hai sân golf
Đồng Mô và Chí Linh cũng nh các nhân tố ảnh hởng đến hoạt động đó trên cả hai ph-
ơng diện cung và cầu, dới góc độ nh là một sản phẩm du lịch cao cấp của loại hình du
lịch thể thao giải trí. Trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp trong việc tổ chức,
khai thác hoạt động này một cách hợp lý, tạo đợc hiệu quả cao nhất trong kinh doanh
3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
du lịch tại hai sân golf này nói riêng cũng nh đa ra một số định hớng và giải pháp cho
việc phát triển golfing ở Việt Nam.
4. Nhiệm vụ của đề tàI
Để đạt đợc mục tiêu nghiên cứu, đề tài cần giải quyết những nhiệm vụ chính
sau:
Hệ thống hoá những vấn đề cơ bản về golfing bao gồm khái niệm, lịch sử hình
Phơng pháp nghiên cứu thực địa
Phơng pháp này giúp luận văn thu thập đợc những số liệu thực tế đáng tin cậy
về lợng khách, cơ cấu khách, về những nhu cầu, sở thích và những dịch vụ mà khách
quan tâm cũng nh có đợc các thông tin khách quan, chính xác về cung golfing tại
hai sân golf Đồng Mô và Chí Linh.
Phơng pháp thu thập và xử lý t liệu
Luận văn đã tiến hành thu thập thông tin, t liệu từ nhiều lĩnh vực, nhiều nguồn
khác nhau có liên quan hoặc tác động tới golfing, sau đó xử lý để có đợc lợng thông
tin nhanh, phong phú, đa dạng và bao quát đầy đủ về mọi mặt tự nhiên, kinh tế, xã hội
liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu và lấy đó làm cơ sở để đa ra những đánh giá và kết
luận cần thiết.
Phơng pháp điều tra xã hội học
Do nguồn khách du lịch golf gồm nhiều đối tợng có đặc điểm khác nhau về nơi
c trú, nghề nghiệp, lứa tuổi do đó sở thích du lịch của họ cũng khác nhau. Để nắm
5
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
bắt đợc những nhu cầu sở thích đó, hoạt động phỏng vấn trực tiếp qua phiếu điều tra
đợc thực hiện. Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả đã tiến hành gửi 160 phiếu
điều tra tới những khách du lịch golf tại hai sân golf Đồng Mô và Chí Linh thông qua
văn phòng của hai sân này. Kết quả thu về đợc 152 phiếu hợp lệ để tiến hành xử lý.
Phơng pháp lấy ý kiến chuyên gia
Phơng pháp này giúp luận văn có đợc các thông tin một cách chính xác, mang
tính hệ thống cũng nh các nhận định về quy luật phát triển của golfing từ những
chuyên gia có kinh nghiệm trong lĩnh vực này. Tác giả đã tiến hành phỏng vấn các
cán bộ, nhân viên của Văn phòng Câu lạc bộ golf Hà Nội, Văn phòng Tạp chí golf
Việt Nam, Văn phòng các sân golf Đồng Mô và Chí Linh. Kết quả của việc lấy ý kiến
chuyên gia này sẽ giúp luận văn đa ra các định hớng phát triển của golfing.
7. Đóng góp của luận văn
Hệ thống hoá các vấn đề cơ bản liên quan đến golfing và các điều kiện tự
nhiên, kinh tế, xã hội có ảnh hởng tới hoạt động này. Từ đó, luận văn đã tổng hợp đợc
golf Việt Nam và Văn phòng hai sân golf Đồng Mô và Chí Linh đã tạo điều kiện cung
cấp các thông tin, t liệu có giá trị về golfing tại hai sân golf này cũng nh các thông tin
khác về golfing giúp cho tác giả có thể hoàn thành đợc luận văn của mình.
Đồng thời, tác giả cũng xin gửi lời cám ơn đến các đồng nghiệp đã có những t
vấn, giúp đỡ quý giá đối với luận văn. Tác giả cũng bày tỏ sự biết ơn đến gia đình và
bạn bè đã giúp đỡ động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tác giả hoàn thành đề
tài nghiên cứu khoa học của mình.
7
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Với tinh thần hết sức cầu thị và mong muốn đợc tiếp tục nghiên cứu khoa học
sâu hơn nữa, tác giả thực sự mong đợi những ý kiến đóng góp từ các Thầy, Cô giáo,
các chuyên gia, bạn bè và những ngời quan tâm cho luận văn để tác giả có thể có
những công trình nghiên cứu khoa học hoàn chỉnh hơn trong các lần tiếp theo.
Một lần nữa tác giả xin chân thành cám ơn!
Chơng 1
Golfing và vai trò của nó trong du lịch
1.1. Những vấn đề cơ bản về golfing
1.1.1. Lịch sử hình thành golfing
Mặc dù golfing hiện nay đợc nhiều ngời trên thế giới tham gia, đặc biệt ở
những quốc gia có nền kinh tế phát triển nhng môn thể thao này có nguồn gốc từ đâu
8
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
vẫn còn là điều bí ẩn. Cha ai có thể đa ra bằng chứng xác đáng về nguồn gốc của golf
cũng nh ai là ngời vung lên cú phát bóng (swing) đầu tiên.
Theo nh định nghĩa trong cuốn từ điển tiếng Anh Oxford thì Golf là một môn
chơi đã xuất hiện từ khá lâu, trong đó một quả bóng cứng nhỏ đợc đánh đi bằng
nhiều cây gậy vào một loạt những lỗ hình trụ nhỏ dới đất đợc đặt cách nhau
thông thờng khoảng 100 yard (1 yard tơng đơng 0,9 m) hoặc nhiều hơn với số cú
đánh ít nhất có thể [54].
Golf có một lịch sử phát triển lâu đời và có nhiều nớc trên thế giới nhận là quê
Một giả thuyết khác do Water Simpson đa ra năm 1886 [28]. Ông cho rằng một
ngời chăn cừu khi trông coi đàn gia súc gặm cỏ đã tình cờ lấy gậy hất các hòn sỏi lên
phía trớc để giải trí. Một viên sỏi rơi vào hang thỏ, thích thú anh ta lại tiếp tục chơi và
nhiều ngời chăn cừu khác đã bắt chớc. Dù đúng hay không, câu chuyện này cũng có
vài khía cạnh đáng tin cậy. Bởi ai cũng có một thích thú tự nhiên khi dùng gậy vụt
một quả bóng hay một hòn đá. Cái gậy của ngời chăn cừu đã biến thành gậy golf và
quả bóng bằng lông đã đợc thay thế cho hòn sỏi và quả bóng bằng gỗ. Có lẽ golf đã
phát triển từ đó.
Giữa thế kỷ XV đến hết thế kỷ XVI, golf đã nhanh chóng phát triển ra khắp
Scotland, trở thành môn thể thao quốc gia gần nh cùng thời với bóng đá. Ngời ta cho
rằng chính ngời Scotland đã hoàn thiện môn chơi này trớc khi phần còn lại của thế
giới biết đến nó và vì thế vài thế kỷ sau, môn chơi này đã có nhiều thay đổi, đặc biệt
về số lợng ngời chơi, luật chơi và độ dài của sân. Năm 1850, golf đợc phục hồi và trở
thành môn thể thao giải trí số một tại Scotland, từ đó nó đợc phổ biến rộng rãi ở Anh
và Châu Âu cũng nh sang nhiều nớc khác trên thế giới [28].
Hiện nay có rất nhiều các giải thi đấu golf khác nhau đợc tổ chức ở nhiều quốc
gia trên thế giới. Các giải thi đấu này đợc chia thành hai hệ thống là hệ thống các giải
thi đấu chuyên nghiệp mà trong đó tiêu biểu nhất là bốn giải đấu danh giá: The Open
(Anh), The US Open (Hoa Kỳ), The Masters (Hoa Kỳ), The USPGA (Hoa Kỳ) và hệ
10
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
thống các giải thi đấu không chuyên có thể đợc tổ chức bởi một câu lạc bộ golf nào
đó nhằm mục đích giao lu, giải trí, kết hợp kinh doanh hay do một doanh nghiệp tổ
chức nhằm quảng cáo cho sản phẩm của doanh nghiệp đó. Sự khác biệt của giải đấu
golf chuyên nghiệp và không chuyên nghiệp là phần thởng của giải đấu golf không
chuyên nghiệp không đợc phép vợt quá 500 bảng Anh [25].
Hiện nay khu vực có số lợng ngời chơi golf nhiều nhất là Bắc Mỹ chiếm 58%
tổng số ngời chơi golf trên thế giới, thứ hai là châu á chiếm 24%, châu Âu đứng thứ
ba với 12% trong đó một nửa là từ Anh và Ai Len, tiếp theo lần lợt là các khu vực
châu Đại Dơng, Nam Mỹ và Nam Phi với các tỷ lệ tơng ứng là 3%, 2% và 1% [68].
động ngoại giao ở một số khu vực nh ASEAN, Bắc Mỹ golfing đ ợc coi là một ph-
ơng tiện giải quyết công việc, nó là một phần không thể thiếu trong chơng trình các
cuộc họp từ hội nghị chuyên viên cao cấp đến hội nghị Bộ trởng, hội nghị cấp cao đều
có buổi chơi golf. Golfing thực sự đợc coi là một yêu cầu của công tác ngoại giao
[49].
Golf không đơn giản chỉ là một thú chơi thuần tuý, nó còn đợc coi là một công
cụ xúc tiến kinh doanh rất hiệu quả. Giới doanh nhân coi sân chơi này là cơ hội tốt để
giao lu và tìm kiếm đối tác làm ăn. Nếu yếu tố quan hệ vẫn đợc coi là quan trọng
hàng đầu trong kinh doanh thì golfing chính là một công cụ đặc biệt cho việc phát
triển yếu tố đặc biệt đó vì vậy khi đạt đợc mục tiêu kinh doanh với đối tác trên sân
golf ngời ta nói rằng đã dành thắng lợi ở lỗ golf thứ 19 [48].
Không giống với các môn thể thao khác nh: bóng đá, tennis mục tiêu luôn
đánh bại đối thủ, nhng với golfing không có đối thủ mà là chiến thắng chính mình.
Mục tiêu là chinh phục một quả bóng và lỗ golf hoặc chính sân golf. Do đặc điểm này
mà những ngời chơi golf gần gũi nhau hơn vì tất cả cùng hớng vào một mục tiêu
chung. Không khí trong lành và thoải mái trên sân golf làm tâm hồn ai cũng phấn
12
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
chấn, vui vẻ vì thế mọi việc đều trở nên dễ giải quyết và các hợp đồng có giá trị lớn
nhỏ khác nhau đã đợc ký kết tại đây.
Hơn nữa, không môn thể thao nào lại có cơ hội đợc dành 4 đến 5 tiếng đồng hồ
vừa chơi vừa trao đổi với đối tác trong bầu không khí cởi mở, thân mật và không gian
thơ mộng nh trên sân golf.
Thông qua cách chơi golf còn có thể đoán biết đợc tính cách và độ tin cậy của
đối tác trong kinh doanh một cách tinh tế.
Theo một công trình nghiên cứu, 50% các giao dịch kinh doanh là trên sân
golf, 99% trong tổng số 500 chủ tịch tập đoàn giàu có nhất tại Hoa Kỳ coi golfing là
một công cụ kinh doanh có hiệu quả [48]. ở đâu có thơng mại phát triển ở đó có
golfing, có lẽ vì thế mà golfing phát triển rất mạnh tại các cờng quốc thơng mại.
thăng tiến trong xã hội.
1.1.2.4. Golfing môn thể thao mang phong cách tinh tế
Ngay từ thời xa xa trong lịch sử, golf đã đợc coi là một môn thể thao mang tính
quý tộc, thờng đợc chơi phổ biến trong đám cới, tiệc của các gia đình hoàng gia.
Đặc tính của golfing chính là sự th thái, thanh lịch và tao nhã. Trong golfing sự thắng
thua giữa những ngời chơi không phải là điều quan trọng nhất mà phong cách nhân
văn, cao thợng, quý phái, bản lĩnh cũng nh sự tôn trọng và quan tâm tới mọi ngời
chung quanh của ngời chơi mới là yếu tố cốt lõi của môn chơi này. Golf là môn thể
thao không có sự đối kháng, môn chơi mà mọi ngời đều chiến thắng, chiến thắng
chính mình. Luật chơi đợc tuyệt đối tôn trọng, sự trung thực luôn là niềm vinh dự và
sự hài lòng của mọi ngời khi đến với môn chơi. Ngời chơi tự giám sát chính mình,
không có trọng tài đi cùng và tự giác thông báo kết quả chơi cho Ban tổ chức.
14
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chính vì vậy, khác với nhiều môn thể thao, golfing đòi hỏi nghiêm ngặt mỗi
ngời chơi phải có một hiểu biết cần thiết về luật chơi, cách thức ứng xử, cách ăn mặc
khi ra sân bởi đây là môn chơi liên quan đến nhiều ngời, chỉ có kiến thức, hiểu biết và
thái độ đúng đắn trên sân mới mang lại cho mỗi ngời chơi sự hài lòng và thoải mái
thực sự. Những ngời chơi golf thờng là những ngời có địa vị cao, có uy tín, trình độ
học vấn và đợc tôn trọng trong xã hội, ví dụ nh các chính khách, các nhà ngoại giao,
các quan chức cao cấp
1.2. Golfing ở một số quốc gia trong khu vực
1.2.1. Golfing ở Trung Quốc
Sự phát triển của golfing ở Trung Quốc mới diễn ra trong khoảng hơn hai thập
kỷ qua bắt đầu từ năm 1984 khi mà sân golf đầu tiên đợc xây dựng. Tuy nhiên theo
Hiệp hội golf Trung Quốc thì trong khoảng thời gian 10 năm trở lại đây là một giai
đoạn bùng nổ thực sự của hoạt động này. Nếu nh năm 1995 cả Trung Quốc mới có 10
sân golf đạt tiêu chuẩn và khoảng 1000 ngời chơi golf thì hiện nay số lợng sân golf tại
đây là hơn 340 sân với hơn 1 triệu ngời chơi và khoảng 102 câu lạc bộ golf trên khắp
đất nớc [60]. Chính vì vậy, Trung Quốc đã trở thành quốc gia có golfing phát triển
từ 195 lên 424. Sự bùng nổ sân golf lần thứ hai diễn ra vào khoảng năm 1972 khi
những chính sách quốc nội của Thủ tớng Tanaka là đầu t những khoản tiền lớn từ thuế
thu cho các công trình công cộng chủ đạo nh đờng cao tốc, các dự án ngăn lũ. Số lợng
sân golf đã tăng lên hơn 1000 trong thời gian này.
Tại Nhật Bản golfing đợc coi là một nghi thức quan trọng không thể thiếu trong
các quan hệ kinh doanh thơng mại. Nó là một phần của văn hoá công ty và là biểu tr-
ng cho sự quản lý và kinh doanh thành đạt trong trong giới doanh nhân Nhật Bản.
Hiện nay, Nhật Bản là quốc gia có số lợng ngời chơi golf lớn nhất châu á và
lớn thứ hai trên thế giới chỉ sau Hoa Kỳ với hơn 13 triệu ngời chiếm hơn 10% dân số
16
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
[68], có khoảng hơn 2300 sân golf đang hoạt động, 330 sân golf đang đợc xây dựng
và cùng với 1000 sân golf khác đang đợc lên kế hoạch xây dựng trong tơng lai. Chi
phí cho golfing ở Nhật Bản cũng thuộc loại đắt nhất trên thế giới. Để có đợc thẻ hội
viên trong các câu lạc bộ ở đây phải mất từ 100 triệu yên cho đến 400 triệu yên
(830.000 USD 3.330.000 USD). Doanh thu từ golfing của Nhật Bản năm 2006 đạt
8,7 tỷ USD [60], vợt trên cả doanh thu từ du lịch quốc tế đến Nhật Bản năm 2006
(doanh thu du lịch quốc tế đến Nhật Bản năm 2006 là 8,5 tỷ USD) [67]. Khách du
lịch golf ở Nhật Bản chủ yếu là ngời trong nớc, khách du lịch golf nớc ngoài chiếm tỷ
lệ ít hơn do chi phí chơi golf tại Nhật Bản cao và khí hậu thờng không thuận lợi cho
việc chơi golf.
Cũng chính vì chi phí chơi golf cao tại Nhật Bản, nên nhiều ngời Nhật Bản đã
chọn cách đi ra nớc ngoài để chơi golf, nơi có chi phí rẻ hơn so với trong nớc. Một số
nơi mà ngời Nhật Bản hay tới chơi golf nh Australia, Hoa Kỳ (Hawaii, California )
và đặc biệt là khu vực ASEAN.
1.2.3. Golfing ở Hàn Quốc
Sân golf đầu tiên đợc xây dựng ở Hàn Quốc vào năm 1931 là sân golf Seoul
Country Club. Vào khoảng thời gian những năm 1950 thì Hàn Quốc mới bắt đầu hội
nhập với golfing thế giới thông qua các giải đấu của Canada Cup. ở Hàn Quốc
golfing đợc coi là một sở thích của tầng lớp thợng lu và là biểu tợng cho vị thế xã hộ.
tiêu chuẩn quốc tế do đó Thái Lan liên tục đợc Hiệp hội Đại lý Lữ hành golf thế giới
tôn vinh là Điểm đến du lịch golf tốt nhất.
Năm 2000 du lịch Thái Lan đã đón 300.000 du khách golf quốc tế. Số lợng du
khách golf tại Thái Lan năm 2000 đã tăng thêm 50% so với năm 1999 và đã đem về
270 triệu USD cho nền kinh tế nớc này [66]. ít nhất 400.000 khách du lịch golf quốc
tế đã đến Thái Lan trong hai năm 1998 và 1999, trong đó phần lớn từ các quốc gia nh
18
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Nhật Bản, Hongkong, Đài Loan, Trung Quốc và Hàn Quốc [48]. Doanh thu từ golfing
năm 2006 của Thái Lan là 720 triệu USD [60], bằng khoảng 5,8% doanh thu từ du
lịch quốc tế đến Thái Lan năm 2006 (doanh thu du lịch quốc tế đến Thái Lan năm
2006 là 12,4 tỷ USD) [67].
Sau khi giải golf quốc tế đầu tiên đợc tổ chức ở Thái Lan năm 1975, golfing đã
trở thành một nguồn thu nhập quan trọng của nền kinh tế Thái Lan và nó cũng đợc
công nhận là một tài nguyên du lịch chủ yếu của quốc gia này. Cơ quan du lịch Thái
Lan (TAT Tourism Authority of Thailand) cũng thừa nhận những đóng góp có ý
nghĩa to lớn đợc tạo ra do việc đi tiên phong của golfing Thái Lan đã thúc đẩy sự tăng
trởng và phát triển của ngành du lịch.
Với một cấp độ vợt trội trong việc cung cấp các dịch vụ hoàn hảo và mức phí
chơi golf cạnh tranh nhất thế giới, các sân golf ở Thái Lan ngày càng hấp dẫn nhiều
khách du lịch golf quốc tế. Điều này đã làm cho Thái Lan đợc biết đến nh là thủ đô
golf của châu á.
1.2.5. Golfing ở Malaysia
Malaysia đang nhanh chóng nổi lên nh một thiên đờng golfing mới nhất tại khu
vực Đông Nam á. Khách du lịch biết đến quốc gia này thông qua các chuyến du lịch
của sự kết hợp giữa tham quan nghỉ dỡng với hoạt động lý thú của môn thể thao golf.
Hiện nay Malaysia có trên 200 sân golf đợc thiết kế hết sức đa dạng ở nhiều vị
trí khác nhau có thể trên các quả đồi, ven bờ biển hay các nông trờng chè. Cho dù các
sân golf đợc xây dựng ở đâu thì cũng đều đạt tiêu chuẩn quốc tế. Mỗi sân golf đều thể
hiện một phong cách độc đáo làm nổi bật không gian tự nhiên xung quanh. Hai trong
golf nh áo phông phải có cổ, quân âu hay quần soóc và giày dành riêng cho đánh golf.
20
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
1.3. Vai trò của golfing đối với du lịch
1.3.1. Vai trò của golfing nói chung
1.3.1.1. Đối với kinh tế
Trên thế giới, golfing đã đợc coi là một ngành công nghiệp do tính phổ biến
toàn cầu của nó với ít nhất 75 triệu ngời đam mê và hơn 40.000 sân golf ở trên 119
quốc gia và vùng lãnh thổ khác nhau. ở Hoa Kỳ có khoảng 16.000 sân golf, Anh là
2.500, úc là 1.500 [33].
Golfing giúp đem lại doanh thu lớn cho xã hội do chi phí cho dịch vụ golfing
cao, không những thế các dịch vụ đi kèm với dịch vụ golfing cũng đều là các dịch vụ
cao cấp. Doanh thu hàng năm của ngành công nghiệp golf thế giới lên đến con số 60
tỷ USD, ngang với tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của nhiều quốc gia đang phát triển.
Riêng tại Hoa Kỳ ngành công nghiệp này đem lại món lợi tới 18 tỷ USD mỗi năm,
với khoảng 37 triệu ngời Hoa Kỳ tham gia [60].
Năm 2006 gần 650 nghìn ngời Hàn Quốc du lịch ra nớc ngoài chơi golf và chi
gần 1,2 tỷ USD cho các chuyến đi đó. Con số này tơng đơng với việc xuất khẩu
110.000 chiếc xe hơi do vậy chính phủ Hàn Quốc muốn xây dựng thêm các sân golf ở
các khu vực đất đai bạc màu không khai thác đợc nông nghiệp để hạn chế bớt việc
chơi golf ở nớc ngoài của ngời dân và phát triển ngành giải trí, du lịch dịch vụ vốn
chiếm 57% GDP của nớc này hàng năm [18].
Golfing giúp phát triển ngành tài chính ngân hàng và hoạt động thơng mại -
đầu t. Hầu hết những khách chơi golf đều là những ngời trong giới doanh nhân nh chủ
doanh nghiệp, nhà đầu t, các chuyên gia hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng, tài
chính và quản lý doanh nghiệp . Golfing là ph ơng tiện làm việc, phơng tiện thu hút
đầu t, là môi trờng lý tởng cho các hoạt động giao dịch kinh doanh qua đó các nhà
đầu t sẽ có cơ hội tốt trong việc nhận biết đợc môi trờng đầu t tại nơi họ đến chơi golf
và quyết định đầu t cho công việc kinh doanh của họ ở đây. Việc phát triển golfing có
ý nghĩa lớn về kinh tế, vì việc xây dựng các sân golf sẽ thu hút đợc nguồn vốn đầu t
Golfing còn là một phơng tiện thúc đẩy các hoạt động giao lu văn hoá xã hội,
các mối quan hệ hữu nghị trong nớc cũng nh quốc tế, giúp cho các cộng đồng ngời
hiểu nhau hơn, quảng bá cho hình ảnh con ngời và đất nớc.
Mặt khác golfing còn là một hoạt động giúp phát triển tính cách con ngời theo
hớng tích cực. Tất cả các đức tính đợc đòi hỏi khi tham gia vào golfing nh tính tự tin,
sự quyết đoán, tính kiên trì, tôn trọng ngời khác, sự khéo léo, t duy chiến lợc và đặc
biệt là tính trung thực, tự giác và độc lập cao đều là những đức tính rất cần thiết của
con ngời trong một xã hội phát triển văn minh. Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng trẻ
em chơi golf sẽ trở thành những công dân có trách nhiệm hơn. Đơn giản bởi cơ cấu và
luật chơi của môn golf. Học các quy tắc và sự tự giác từ sớm sẽ vô cùng có lợi cho
việc phát triển của một đứa trẻ. Golfing giúp hoàn thiện bản thân, mở rộng quan hệ xã
hội [02].
1.3.1.3. Đối với môi trờng sinh thái
Các sân golf đợc xây dựng đã góp phần bảo vệ môi trờng sinh thái cho con ng-
ời. Từ những vùng đất trống đồi trọc, bãi cát, đất cằn cỗi đã trở nên một thảm cỏ xanh
với những hồ nớc, cây cối xanh tơi góp phần vào việc cân bằng và cải tạo môi trờng
sinh thái tự nhiên. Đảm bảo cho con ngời sinh sống tại đây đợc hởng không khí trong
lành, không gian yên tĩnh và cảnh đẹp thiên nhiên tuyệt vời. Đối với những ngời chơi
golf, đây không chỉ là nơi quan hệ làm ăn mà còn là nơi nghỉ dỡng hởng thụ những
phẩm vật của tự nhiên ban tặng.
Chính những sân golf này đã góp phần không nhỏ cho việc bảo vệ môi trờng
sinh thái, cân bằng lại những gì mà con ngời đã lấy đi của tự nhiên qua đó giúp bảo
vệ trái đất chung của mọi ngời.
1.3.2. Vai trò của golfing đối với du lịch
Trên thế giới hiện nay có khoảng 75 triệu ngời tham gia vào golfing, tuy nhiên
số lợng ngời chơi golf chuyên nghiệp chỉ chiếm không tới 0,5% số lợng ngời chơi
23
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
[33]. Nh vậy golfing thực sự là một môn chơi có sự tham gia lớn nhất của những ngời
không chuyên. Và chính những ngời chơi golf không chuyên lại là lợng khách du lịch
bá rộng rãi làm tăng số lợng du khách tới điểm du lịch.
Chơng 2
Golfing trong việc thu hút khách du lịch
ở sân golf Đồng Mô và sân golf Chí Linh
2.1. Golfing ở Việt Nam
2.1.1. Sự hình thành và phát triển golfing ở Việt Nam
2.1.1.1. Lịch sử hình thành phát triển
Nếu nh cách đây khoảng 15 năm, chơi tennis đợc coi là một hoạt động thể thao
quý tộc và báo hiệu một trào lu phát triển mạnh mẽ ở Việt Nam thì nay một môn
thể thao khác lặp lại lịch sử đó chính là golf.
Cho đến nay, golf vẫn còn là một môn chơi xa lạ đối với đại đa số ngời dân
Việt Nam. Tuy nhiên sẽ là một sự ngạc nhiên lớn khi biết rằng Việt Nam là một trong
những quốc gia đầu tiên tại khu vực Đông Nam á đi tiên phong trong việc xây dựng
sân golf.
Theo trang tin điện tử của tỉnh Lâm Đồng [63] vào năm 1922, Bảo Đại, vị vua
cuối cùng của triều Nguyễn đã cho xây dựng sân golf đầu tiên ở Việt Nam trên 3
ngọn đồi nhìn xuống hồ Xuân Hơng tại Đà Lạt, vùng đất vào thời đó đợc mệnh danh
là Hoàng triều cơng thổ (đất của nhà vua). Diện tích toàn khu vực Đồi Cù chiếm
khoảng 65 héc ta nhng công trình chỉ đợc thiết kế dới dạng sân golf 9 lỗ. Đây là nơi
giải trí cho giới thợng lu và các quan chức thuộc địa, chính vua Bảo Đại cũng thờng
25