Phong trào đấu tranh xóa bỏ chế độ nô lệ ở Mỹ (1830-1865) - Pdf 29

MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài
Nước Mỹ là một quốc gia phát triển và văn minh, nhưng trong lịch sử lại từng
tồn tại một chế độ nô lệ tàn ác khi mà những người da đen được đưa đến từ châu Phi
xa xôi phải lao động cực nhọc mà không được đối xử như con người. Ngày nay, nhân
loại tiến bộ đang hướng tới việc xây dựng một thế giới không phân biệt đối xử, thì
đứng dưới góc độ lịch sử, việc nghiên cứu phong trào đấu tranh xóa bỏ chế độ nô lệ ở
Mỹ trong thế kỷ XIX (1830 - 1865) vẫn có ý nghĩa khoa học và thực tiễn. Những
hoạt động lẻ tẻ đấu tranh chống lại chế độ nô lệ đã khởi phát từ cuối thế kỷ XVIII
nhưng phải đến thập niên 30 của thế kỷ XIX nó mới phát triển thành một phong trào
rầm rộ cho đến tận năm 1865. Đối với nô lệ da đen, chế độ nô lệ quá khắc nghiệt và
tự do với họ là khát khao cháy bỏng nhất. Đối với người da đen tự do, dù không phải
là tài sản sở hữu của chủ nô nhưng họ vẫn bị kìm kẹp và cảm thấy khó thở trong xã
hội bất công của người da trắng. Còn trong suy nghĩ của những người da trắng miền
Bắc dù dưới góc độ kinh tế, tôn giáo hay đạo đức, xã hội thì chế độ nô lệ là đều cần
phải xóa bỏ. Ngược lại, các chủ nô ở miền Nam lại muốn duy trì sự tồn tại của chế độ
nô lệ. Vào thế kỷ XIX, mâu thuẫn giữa hai miền Nam Bắc nước Mỹ lại càng gay gắt
mà đỉnh cao là cuộc Nội chiến lịch sử (1861-1865) và sự tồn tại của chế độ nô lệ
chính là nút thắt. Có thể thấy, sở hữu nô lệ và sự tồn tại của chế độ nô lệ là một vấn
đề phức tạp, nhạy cảm, liên quan đến lợi ích của các nhóm thế lực đối lập, thậm chí
liên quan đến sự bền vững của quốc gia. Như vậy, lịch sử nước Mỹ đã giải quyết vấn
đề này như thế nào, phong trào đấu tranh xóa bỏ chế độ nô lệ ở Mỹ trong 35 năm
trước Nội chiến Mỹ có gì khác hơn so với các hoạt động đấu tranh trước đó và tại sao
đến thế kỷ XX, phong trào đấu tranh đòi quyền bình đẳng cho người da đen vẫn tiếp
tục, vai trò của người da trắng và người da đen trong cuộc đấu tranh này như thế nào
là những vấn đề khoa học tác giả muốn lý giải. Thực tế cho thấy ở Mỹ hiện nay, dù
người Mỹ gốc Phi đã có một vị thế mới và đóng góp đáng kể cho sự thịnh vượng
chung của nước Mỹ song tình trạng phân biệt chủng tộc và định kiến nặng nề với
người da đen vẫn còn tồn tại ở nhiều bang. Đồng thời, việc hiểu rõ hơn về lịch sử xã
hội Mỹ cũng góp phần thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau trong quá trình phát triển quan
1

2
lịch sử, thư viện chính thống trên internet, các công trình chuyên khảo về lịch sử Mỹ,
và phong trào giải phóng nô lệ.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1.Về phương pháp luận: Luận án quán triệt quan điểm của chủ nghĩa Mác
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về nghiên
cứu khoa học lịch sử.
5.2. Về phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp lịch sử
Phương pháp logic
Phương pháp nghiên cứu tư liệu
Phương pháp bổ trợ khác như tổng hợp, so sánh…
6. Đóng góp của luận án
Trước hết, luận án là công trình nghiên cứu có hệ thống về phong trào đấu
tranh xóa bỏ chế độ nô lệ ở Mỹ giai đoạn 1830 đến 1865 dưới góc độ của nhà nghiên
cứu Việt Nam; Hai là, trên cơ sở những tư liệu thu thập được, luận án làm sáng tỏ vị
trí, tác động, đặc điểm của giai đoạn đấu tranh xóa bỏ chế độ nô lệ ở Mỹ từ năm 1830
đến năm 1865 ở Mỹ; Ba là, luận án đã góp phần bổ sung vào hệ thống tài liệu tham
khảo và nâng cao chất lượng của hoạt động nghiên cứu, giảng dạy lịch sử Mỹ, lịch sử
thế giới cũng như các ngành khoa học xã hội liên quan.
7. Bố cục luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận án
được trình bày trong 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu vấn đề
Chương 2: Cơ sở và những nhân tố tác động của phong trào đấu tranh xóa bỏ
chế độ nô lệ ở Mỹ (1830 -1865)
Chương 3: Tiến trình của phong trào đấu tranh xóa bỏ chế độ nô lệ ở Mỹ
(1830-1865)
Chương 4: Một số nhận xét về phong trào đấu tranh xóa bỏ chế độ nô lệ ở Mỹ
(1830-1865)

vậy, với đề tài này, tác giả mong muốn lấp đầy những khoảng trống về vấn đề nghiên
cứu trong nước, đồng thời đưa ra những luận giải cá nhân dưới góc độ đa chiều,
khách quan của một nhà nghiên cứu lịch sử Việt Nam.
4
CHƯƠNG 2
CƠ SỞ VÀ NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI PHONG TRÀO
ĐẤU TRANH XÓA BỎ CHẾ ĐỘ NÔ LỆ Ở MỸ (1830-1865)
2.1. Cơ sở của phong trào đấu tranh xóa bỏ chế độ nô lệ ở Mỹ (1830-1865)
2.1.1.Cơ sở nhận thức
Phong trào đấu tranh xóa bỏ chế độ nô lệ ở Mỹ chính là sản phẩm từ nhận thức
của người Mỹ về chế độ nô lệ. Nền tảng của những nhận thức chính là những tư
tưởng tiến bộ về quyền con người của các nhà triết học châu Âu tiêu biểu như John
Locke (1632-1704) và Thomas Paine (1731-1809). Nhận thức của người nô lệ sau
năm 1787 đến trước Nội chiến (1861-1865) mới chỉ dừng lại ở việc tự giải phóng
mình khỏi thân phân nô lệ. Nhưng trong thời kỳ Nội chiến, nhận thức của các nô lệ
đã thay đổi. Họ bắt đầu ý thức được rằng trong cuộc chiến này, tự do của họ gắn liền
với chiến thắng của Liên bang miền Bắc và sự thất bại của Liên minh miền Nam. Lúc
này, họ đã đặt sự tự do của mình trong mối quan hệ chính trị với cả dân tộc nên cuộc
đấu tranh của họ không còn mang tính chất tự phát như thời kỳ trước mà gắn liền với
những hoạt động chung của Liên bang nhằm nhanh chóng kết thúc chiến tranh, bảo
toàn sự thống nhất của quốc gia. Bên cạnh các nô lệ thì những người da đen tự do
cũng nhận thức được yêu cầu xóa bỏ chế độ nô lệ Mỹ, họ coi cuộc đấu tranh xóa bỏ
chế độ nô lệ là một nhiệm vụ của mình và gắn nó với cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa
phân biệt chủng tộc và đòi quyền bình đẳng cho người da đen. Trong khi đó, sau năm
khi Hiến pháp Mỹ ra đời năm 1787, nhận thức của những người da trắng về chế độ
nô lệ đã có sự khác biệt giữa hai miền Nam – Bắc. Ở miền Nam, người da trắng tìm
cách ngăn cản sự nổi dậy của các nô lệ bằng các đạo luật ngày càng nghiêm khắc, tàn
bạo và lên án các hoạt động đấu tranh chống lại chế độ nô lệ. Ở miền Bắc, nhận thức
của người Mỹ về chế độ nô lệ được đặt trên nhiều phương diện khác nhau từ kinh tế,
chính trị đến đạo đức, xã hội. Quan điểm đạo đức cho rằng chế độ nô lệ là tội lỗi,

hình thức tàn bạo nhất trong lịch sử nô lệ thế giới đó là khát vọng lợi nhuận từ kinh
doanh nông nghiệp kiểu tư bản và hai là sự phân biệt chủng tộc hà khắc. Sự phân biệt
chủng tộc này thể hiện ngay từ việc bắt bớ và buôn bán nô lệ. Chế độ nô lệ ở nước
Mỹ là một chế độ cưỡng bức vì được quản lý bởi một loạt các đạo luật nô lệ hà khắc.
Các bộ luật nô lệ là cơ sở pháp lý cho sự tồn tại vững chắc của chế độ nô lệ. Chính sự
6
khắc nghiệt của chế độ nô lệ đã thúc đẩy cuộc đấu tranh giải phóng nô lệ và xóa bỏ
chế độ nô lệ.
1.1.2.2. Hoạt động đấu tranh xóa bỏ chế độ nô lệ trước năm 1830
*Hành động phản kháng của nô lệ da đen
Ngay từ thời điểm ban đầu khi bị bắt làm nô lệ, những người da đen đã liên tục
phản kháng để đòi tự do cho bản thân mình. Điều đó thể hiện từ thái độ chống đối,
hành động phá hoại, bỏ trốn hoặc thậm chí tìm đến cái chết để thoát khỏi cảnh nô lệ.
Cuộc chiến tranh giành độc lập của 13 thuộc địa Anh ở Bắc Mỹ đã tạo điều kiện cho
các nô lệ bỏ trốn hoặc nổi loạn. Sau cách mạng, chế độ nô lệ dù có bị tấn công chủ yếu
ở miền Bắc nhưng lại vẫn phát triển mạnh mẽ ở miền Nam và lan rộng ra miền Tây
nước Mỹ. Sự phản kháng của họ diễn ra dưới nhiều hình thức, nhưng tất cả đều mang
tính chất tự phát, lẻ tẻ và không đưa đến thắng lợi. Tuy nhiên, những phản kháng ban
đầu này cũng chính là cơ sở thúc đẩy cho phong trào đấu tranh xóa bỏ chế độ nô lệ ở
giai đoạn sau.
*Hoạt động của các lực lượng da trắng tiến bộ
Lực lượng chống chế độ nô lệ của người da trắng trước năm 1830 chủ yếu là
lực lượng tôn giáo. Để hỗ trợ cho các hoạt động chống lại chế độ nô lệ, nhiều tổ chức
và nhóm xã hội đã được thành lập nhằm chống buôn bán, nhập khẩu nô lệ, chống bắt
cóc và hỗ trợ kinh tế cho các nô lệ tự do, nô lệ bỏ trốn. Bên cạnh các hội chống chế
độ nô lệ, là sự xuất hiện của phong trào thuộc địa hóa cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ
XIX. Ban đầu, hoạt động của phong trào này thu hút sự tham gia của nhiều cá nhân
tiến bộ. Tuy nhiên, sau đó dần lụi tàn do những hạn chế về tài chính cũng như định
kiến phân biệt chủng tộc. Sự đi xuống của phong trào thuộc địa hóa buộc các nhà
hoạt động chống lại chế độ nô lệ cần phải thành lập các tổ chức khác với mục tiêu và

chuyển mạnh mẽ. Trái ngược với sự phát triển kinh tế công thương nghiệp ở miền
Bắc, miền Nam lại tập trung vào kinh tế nông nghiệp đồn điền. Mặc dù có đầy đủ các
điều kiện cho phát triển công nghiệp như tài nguyên về nước, than đá và sợi bông
nhưng nền công nghiệp ở miền Nam vẫn tụt hậu hơn nhiều so với miền Bắc.Xét dưới
góc độ kinh tế, chế độ nô lệ đang đi ngược lại lịch sử bởi nó ngăn cản sự phát triển
của chủ nghĩa tư bản. Nước Mỹ muốn xây dựng một thuế quan thống nhất, muốn sử
8
dụng lao động tự do, muốn thúc đẩy các sáng tạo về kỹ thuật công nghiệp thì cần phải
xóa bỏ chế độ nô lệ.
2.2.4. Mâu thuẫn giữa hai miền Nam Bắc nước Mỹ
Vào thế kỷ XIX, hai miền Nam Bắc nước Mỹ có những mâu thuẫn sâu sắc tác
động lớn đến lịch sử nước này. Xét về mặt kinh tế, trong khi các bang miền Bắc chủ
yếu phát triển công thương nghiệp thì miền Nam lại duy trì nền nông nghiệp đồn điền
sử dụng sức lao động của nô lệ. Xét về mặt chính trị, mâu thuẫn giữa hai miền Nam
Bắc phản ánh sự hai quan điểm khác nhau giữa một bên ủng hộ việc tập trung quyền
hành ở chính quyền Liên bang được Đảng Cộng hòa của A.Lincoln ủng hộ (chủ yếu
ở miền Bắc) và việc phân chia quyền hành cho các tiểu bang vốn được ủng hộ bởi
Đảng Dân chủ (đa phần ở miền Nam). Xét về mặt đạo đức tôn giáo, đa phần người
Quaker ở miền Bắc ủng hộ tư tưởng khoan dung tôn giáo, coi chế độ nô lệ là tội ác đi
ngược lại với Kinh thánh. Tất cả các lý do trên dù xét dưới góc độ nào, dù trực tiếp
hay gián tiếp đều phản ánh hai quan điểm trái ngược về vấn đề nô lệ giữa hai miền
Nam-Bắc nước Mỹ. Vào đầu thế kỷ XIX, cuộc đấu tranh giữa chủ nô miền Nam và
giai cấp tư sản miền Bắc diễn ra khá gay gắt khi những bang mới gia nhập Liên bang.
Tháng 3 năm 1820, Quốc hội thông qua một dự án thỏa hiệp mang tên gọi Thỏa ước
Missouri tạo ra thế cân bằng giữa hai bên chống chế độ nô lệ và muốn duy trì chế độ
này. Sự nhượng bộ của tư sản miền Bắc vẫn không ngăn cản được ý định muốn mở
rộng chế độ sang phía Tây của chủ nô miền Nam. Năm 1854, Quốc hội đã thông qua
Đạo luật Kansas – Nebraska, kết quả của đạo luật này là một chuỗi các cuộc chạm
trán giữa những người ủng hộ và chống chế độ nô lệ diễn ra ở lãnh thổ Kansas và một
số thị trấn gần bang Missouri giữa năm 1854 và 1861. Cùng với những xung đột ở

đột kích ở Harpers Ferry.
3.1.2.2.Cuộc đột kích của John Brown
John Brown là một người da trắng có quan điểm chống nô lệ triệt để. Ông cho
rằng, cách duy nhất để xóa bỏ chế độ nô lệ là tiến hành khởi nghĩa vũ trang. Cuộc đột
kích vào kho vũ khí Harpers Ferry không nằm ngoài dự định đó. Rạng sáng ngày 17
tháng 10 năm 1859, quân Brown tiến hành đột kích. Dù có sự chuẩn bị kỹ lưỡng,
nhưng quân đội của Brown vẫn thất bại.
10
3.1.2.3.Sự phản kháng của nô lệ da đen trong thời kỳ Nội chiến
Nội chiến bùng nổ, đối với nhiều nô lệ miền Nam đây là cơ hội vàng để tự giải
phóng. Chiến tranh khiến các chủ nô miền Nam gặp khó khăn trong việc quản lý nô
lệ. Họ lao động ít hơn, bỏ trốn ra ngoài nhiều hơn. Những nô lệ bỏ trốn được sự hỗ
trợ rất lớn từ các tổ chức từ thiện và tôn giáo của miền Bắc.
3.2. Tiến trình đấu tranh công khai, hợp pháp
3.2.1. Xây dựng và phát triển mạng lưới các tổ chức chống chế độ nô lệ
3.2.1.1.Tổ chức của người Mỹ gốc Phi
Điển hình là Hội nghị của người da đen tự do – Negro Conventions (1830-
1864). Các Hội nghị của người da đen tự do thể hiện sự phát triển của mạng lưới các
nhà hoạt động xã hội da đen vào giữa thế kỷ XIX. Từ cuộc gặp đầu tiên vào năm
1830 ở Philadelphia đã có hàng chục các Hội nghị khác diễn ra trước khi Nội chiến
bùng nổ với các cấp độ khác nhau từ liên bang cho đến bang rồi các hạt cơ sở, vùng,
miền. Mục tiêu của các Hội nghị là kêu gọi sự hợp tác giữa người da trắng và người
da đen trong cuộc chiến chống lại chế độ nô lệ và đòi quyền bình đẳng cho người da
đen tự do. Các đại biểu tham dự Hội nghị chủ yếu là nô lệ từng bỏ trốn. Họ đến từ
nhiều ngành nghề và vị trí khác nhau như mục sư, thương nhân, chính trị gia, nhà
văn, nhà báo và các nhà hoạt động chống chế độ nô lệ.
3.2.1.2. Hội chống chế độ nô lệ
Vào cuối thế kỷ XVIII, một số người Quaker và người da trắng tiến bộ khác đã
thành lập nên các Hội chống chế độ nô lệ rải khắp nước Mỹ. Mục đích ban đầu của các
hội này là ngăn chặn quá trình nô lệ hóa những người da đen tự do và bảo vệ quyền

đến năm 1859, Ban chấp hành của AFSS chính thức giải tán.
3.2.2. Đấu tranh trên lĩnh vực truyền thông
3.2.2.1.Báo chí
Tờ báo có ảnh hưởng lớn đầu tiên trong lịch sử đấu tranh xóa bỏ chế độ nô lệ ở
Mỹ là tờ “The Liberator” (Người giải phóng) ra đời năm 1831 của William Lloyd
Garrison. Tờ báo này không phải là ấn phẩm duy nhất trong thế kỷ XIX có nội dung
đấu tranh xóa bỏ chế độ nô lệ, nhưng sự ra đời của nó đã đánh dấu một bước tiến vượt
bậc trong phong trào, tạo nền tảng cho hàng loạt hoạt động đấu tranh khác trên lĩnh vực
truyền thông. Garrison cho rằng, tuyên truyền về tội ác của chế độ nô lệ là cách duy
12
nhất để chấm dứt chế độ Ngoài tờ “Người giải phóng” của William Lloyd Garrison,
nhiều tờ tạp chí khác cũng góp phần là những công cụ tuyên truyền có sức ảnh hưởng
mạnh mẽ trong phong trào xóa bỏ chế độ nô lệ trong giai đoạn từ năm 1830 đến năm
1865. Nhiều nhà báo người Mỹ gốc Phi bằng tài năng của mình đã phơi bày một cách
chân thực nhất sự tàn ác của chế độ nô lệ và nỗ lực tìm tự do của nô lệ.
3.2.2.2.Sách, tác phẩm văn học
Nhiều tác phẩm văn học thời kỳ này không chỉ có giá trị nghệ thuật to lớn mà
còn là một bức tranh sinh động lột tả một cách chân thực đầy màu sắc về số phận
khốn khổ của những người nô lệ như tiểu thuyết “Uncle Tom’s Cabin” (Túp lều bác
Tom) của Harriet Beecher Stowe và cuốn sách “The Impending Crisis of the South:
How to Meet It ” (Cuộc khủng hoảng trước mắt của miền Nam: Làm thế nào để đối
mặt với nó). Bên cạnh các cuốn sách của người da trắng là những tác phẩm của người
da đen như Magaret Matilda Odell với cuốn “Memoir và Poems của Phillis
Wheatley” (Hồi ức và thơ của nữ thi sĩ Phillis Wheatley), “Một nô lệ bỏ trốn” của
William Wells Brown, “Đời sống nô lệ” của Richard Hildreth, “Những hồi ức” của
Archy Moore, loạt chuyện kể về David Barrett của Hiram Wilson, hồi ký của Jermain
Wesley Lougen (1859), hồi ký của James W.C Pennington, “12 năm nô lệ” của
Solomon Northup hay tự truyện của Fredrick Douglass
3.2.2.3.Diễn thuyết trước công chúng
Để vạch trần tội ác của chế độ nô lệ và kêu gọi sự ủng hộ, AASS đã tổ chức

ngày 6 tháng 7 năm 1854 tại Jackson, Michigan Từ đó Đảng Cộng hòa nhanh chóng
tạo được ảnh hưởng sâu rộng ở các bang miền Bắc. Vào cuộc bầu cử năm 1860, với
sự trúng cử của Abraham Lincoln, Đảng Cộng hòa đã thật sự kiểm soát được Quốc
hội. Kết quả này đã tác động mạnh vào hệ thống luật pháp nhằm thay đổi các quy
định về chế độ nô lệ, mang lại quyền tự do cho người Mỹ gốc Phi.
3.2.4. Lồng ghép với phong trào xã hội khác
3.2.4.1. Phong trào tôn giáo và xóa bỏ chế độ nô lệ
Sang thế kỷ XIX, các cuộc cải cách tôn giáo đã thúc đẩy tiến trình phát triển
của phong trào đấu tranh xóa bỏ chế độ nô lệ. Ở miền Bắc các cuộc cải cách tôn giáo
phát triển mạnh mẽ, được các nhà sử học gọi là cuộc “Đại thức tỉnh tôn giáo lần thứ
hai”. Phụ nữ là một thành phần tích cực trong phong trào cải cách tôn giáo. Nói cách
14
khác, tôn giáo cũng là một công cụ hữu hiệu cho phong trào đòi quyền bình đẳng giới
cho phụ nữ. Nhiều nữ diễn giả đã sử dụng Kinh thánh làm cơ sở cho việc thuyết phục
xóa bỏ chế độ nô lệ. Tuy nhiên, mâu thuẫn giữa hai miền Nam - Bắc về chế độ nô lệ
đã dẫn tới sự chia rẽ về tôn giáo giữa hai miền trong những năm 1836-1840. Trong
khi nhiều nhà thờ miền Bắc đấu tranh đòi xóa bỏ chế độ nô lệ, coi chế độ nô lệ là đi
ngược lại với Kinh thánh thì ở miền Nam quan niệm rằng chế độ nô lệ chỉ là một điều
không tốt chứ không phải là tội lỗi. Cho đến trước khi Nội chiến bùng nổ, vai trò của
tôn giáo trong cuộc chiến chống lại chế độ nô lệ được thể hiện rất rõ, từ việc khai
thác những nội dung nhân đạo trong Kinh thánh để tác động vào niềm tin của giáo
dân đến sự tham gia của nhiều vị giám mục, mục sư, giáo sĩ trong các hoạt động của
phong trào đấu tranh xóa bỏ chế độ nô lệ, thậm chí tại nhiều nơi, nhà thờ còn là địa
điểm họp mặt của các nhà hoạt động trong phong trào dù gặp phải không ít sự phản
đối từ các giáo dân là chủ nô ở miền Nam.
3.2.4.2. Phong trào nữ quyền và xóa bỏ chế độ nô lệ
Phụ nữ trong phong trào xóa bỏ chế độ nô lệ hoạt động khá yên lặng, không
gây chú ý nhưng có tính tổ chức và mang lại hiệu quả khá cao. Đầu tiên, họ tham gia
vào các hội kín, các tổ chức tôn giáo, các câu lạc bộ phụ nữ bí mật đòi quyền bình
đẳng cho phụ nữ và nô lệ như Hội chống chế độ nô lệ Mỹ, Hội những người bạn…

còn nhiều hạn chế nhưng xét về mặt quân sự, bản Tuyên ngôn giải phóng nô lệ đã
mang lại những tác động đúng như mong muốn bằng việc tạo ra sự hỗn loạn ở miền
Nam và lấy đi của quân Liên minh nhiều nguồn lao động giá trị. Xét về mặt ngoại
giao, thì văn kiện này cũng đã thành công trong việc tập hợp cho miền Bắc sự ủng hộ
của hàng nghìn người lao động Anh và Châu Âu – những người luôn muốn chứng kiến
nhân dân lao động giành quyền tự do ở khắp nơi trên thế giới. Xét về mặt nhân quyền,
văn kiện đã mang lại hy vọng cho hàng triệu người da đen vào một tương lai tươi sáng,
khôi phục lại niềm tin cho những người đã tham gia đấu tranh bền bỉ vì nền tự do của
nước Mỹ. Đó chính là kết quả đầu tiên quan trọng nhất của phong trào đấu tranh xóa
bỏ chế độ nô lệ. Không dừng lại ở đó, bản Tuyên ngôn giải phóng nô lệ đã tạo đà cho
những bước tiến sâu sắc hơn với sự ra đời của các Tu chính án thứ 13, 14 và 15.
4.1.2. Các tu chính án
16
Với việc bổ sung các nội dung liên quan đến xóa bỏ chế độ nô lệ và công nhận
quyền công dân của người da đen trong Hiến pháp Mỹ, người Mỹ gốc Phi đã bước
sang một trang sử mới, vị thế luật pháp thay đổi, có quyền bầu cử và tham gia chính
thức vào các hoạt động chính trị. Đây chính là những kết quả sâu sắc nhất mà phong
trào đấu tranh xóa bỏ chế độ nô lệ hướng tới và đã thành công.
* Tu chính án thứ 13 (Sửa đổi Hiến pháp lần thứ 13)
Ngày 18 tháng 12 năm 1865, Tu chính án thứ 13 chính thức được thông qua xóa
bỏ hoàn toàn chế độ nô lệ trên lãnh thổ Liên bang Mỹ.
* Luật các quyền dân sự năm 1866 và Tu chính án thứ 14 (1868)
Luật các quyền dân sự năm 1866 là một bước tiến quan trọng trong quá trình đòi
nhân quyền cho người da đen vào thời kỳ sau Nội chiến. Đạo luật chứa đựng ba yếu tố
cơ bản đưa người da đen vào dòng chảy của lịch sử xã hội nước Mỹ một cách công
bằng với người da trắng: là công nhận quyền bình đẳng của mọi người dân bất kể màu
da, chỉ rõ các quyền công dân của họ và đưa ra chế tài cho bất cứ một hành vi bất bình
đẳng nào với người da đen. Tu chính án thứ 14 được đề xuất ngày 13 tháng 6 năm
1866 và phê chuẩn ngày 9 tháng 7 năm 1868, đề cập đến quyền bình đẳng của công
dân trước pháp luật trong đó có những người công dân mới - tức những nô lệ mới

của nó sau Nội chiến là giải phóng nô lệ da đen. Người Mỹ gốc Phi giờ đây về mặt luật
pháp được công nhận bình đẳng với người da trắng. Một là, những tác động tích cực
về mặt kinh tế. Tự do đồng nghĩa với vị thế kinh tế mới đối với người da đen đã được
xác lập. Từ địa vị của những người nô lệ không sở hữu bất cứ tư liệu sản xuất nào giờ
đây họ đã được sở hữu đất đai. Hai là, tác động tích cực về mặt xã hội. Về tôn giáo,
trước khi chế độ nô lệ kết thúc, nô lệ da đen không được tham gia nhà thờ của người da
trắng nhưng khi tự do họ đã xây dựng nhà thờ của riêng mình. Đa số các nhà thờ của
người da đen thuộc Hội thánh Baptist và Hội Giám lý (gốc từ đạo Tin lành). Về giáo
dục, người da đen đã có cơ hội được học tập nhiều hơn. Ba là, tác động tích cực trong
đời sống chính trị. Thứ nhất, việc ban hành các bộ luật về nhân quyền và bổ sung các
điều khoản mới của Hiến pháp giúp người da đen có cơ sở pháp lý để thực hiện
quyền công dân. Hai là, người da đen được tham gia vào các cơ quan nhà nước, vào
bộ máy chính quyền các bang và Liên bang. Như vậy, tác động tích cực nhất của
phong trào đấu tranh xóa bỏ chế độ nô lệ ở Mỹ (1830-1865) là thay đổi vị trí của
18
người Mỹ gốc Phi trong xã hội hay nói cách khác là chính thức “trao quyền” cho họ
về luật pháp, tạo cho họ có cơ hội được sống và cống hiến cho nước Mỹ.
4.2.3. Tác động tới sự phát triển của kinh tế, xã hội Mỹ
* Tác động tới kinh tế tư bản Mỹ
Khi chế độ nô lệ kết thúc, kinh tế Mỹ có điều kiện phát triển phát triển mạnh
mẽ cả về công nghiệp và nông nghiệp. Cơ sở tồn tại của kinh tế miền Nam là bóc lột
nô lệ, phát triển nền nông nghiệp dựa trên việc bóc lột sức lao động của nô lệ là chủ
yếu bị lung lay đến tận gốc, buộc thế lực chủ nô ở miền Nam phải thay đổi phương
thức kinh doanh. Sự phát triển nông nghiệp trang trại tư bản với quy mô lớn đã tạo ra
hậu thuẫn vững chắc cho sự phát triển công nghiệp. Chỉ chưa tới 50 năm sau Nội
chiến, Hoa Kỳ đã chuyển từ một nước nông nghiệp thành một nước công nghiệp. Các
nhà máy lớn và xưởng công nghiệp luyện thép, các tuyến đường sắt xuyên lục địa,
các thành phố sầm uất, các khu nông nghiệp rộng lớn xuất hiện khắp đất nước.
* Tác động tới xã hội Mỹ
Sự bình đẳng về mặt luật pháp dành cho con người cụ thể là trao quyền cho

Nội chiến Mỹ (1861 - 1865) đã xóa bỏ chế độ nô lệ về pháp lý nhưng phong trào đấu
tranh xóa bỏ chế độ nô lệ (1830-1865) vẫn còn nhiều hạn chế trên thực tế và người Mỹ
gốc Phi chưa hề nhận được sự bình đẳng.
Thứ nhất, Tuyên ngôn giải phóng nô lệ ra đời là một kết quả rất quan trọng
trong phong trào đấu tranh xóa bỏ chế độ nô lệ (1830-1865), nhưng trên thực tế
không một nô lệ nào được giải phóng. Bởi bản Tuyên ngôn này chỉ áp dụng cho
những vùng không thuộc quyền kiểm soát của Liên bang, không bao gồm bốn bang
có nô lệ và những vùng ở miền Nam do Liên bang chiếm đóng.
Thứ hai, dù đã được giải phóng và được công nhận quyền công dân nhưng sự
tự do của người Mỹ gốc Phi vẫn bị hạn chế trên nhiều phương diện. Chính những
điều này đã khiến cuộc đấu tranh đòi quyền bình đẳng và chống phân biệt chủng tộc
còn tiếp diễn ở thế kỷ sau. Về kinh tế, người da đen không thể sở hữu những mảnh đất
canh tác có giá trị như người da trắng. Họ bị ép ký kết các hợp đồng lao động bất
bình đẳng và hoạt động kinh doanh của những người da đen luôn bị cản trở nên vị trí
kinh tế của họ luôn thấp kém. Về mặt xã hội, sau Nội chiến, tình trạng bạo lực đối với
người da đen ở miền Nam hết sức nghiêm trọng. Nhiều cuộc nổi loạn, đánh đập, giết
20
hại của người da trắng với người da đen liên tục diễn ra từ năm 1866 đến năm 1876.
Dù vậy, hầu như không có bất cứ một nỗ lực nào nhằm ngăn chặn bạo lực và bảo vệ
quyền lợi của người da đen. Song song với những nỗ lực giáo dục của người da đen
là những phản ứng tiêu cực của người da trắng ở miền Nam. Họ cho rằng, giáo dục
cho nô lệ cũ là điên rồ vì đầu óc họ không thể tiếp thu được kiến thức. Họ dọa giết
giáo viên, đốt trường và phản đối chính phủ vì làm hao tổn ngân sách của quốc gia
cho giáo dục người da đen. Về chính trị, do những biến đổi về mặt kinh tế và chính trị
vào thập niên 80 của thế kỷ XIX, quyền công dân của người da đen vẫn bị xem nhẹ
và bị tước bỏ trong những năm cuối thế kỷ XIX.
4.4. Đặc điểm của phong trào đấu tranh xóa bỏ chế độ nô lệ ở Mỹ (1830-
1865)
Tính chất của phong trào đấu tranh xóa bỏ chế độ nô lệ ở nước Mỹ (1830-
1865) có sự thay đổi xét về phía lực lượng tham gia và theo tiến trình thời gian. Với

Phi xa xôi phải chịu cảnh gông cùm và nô dịch. Ngay từ những ngày đầu bị bắt làm
nô lệ, những người da đen đã kháng cự quyết liệt, nhưng tất cả đều thất bại. Lợi
nhuận khổng lồ từ buôn bán nô lệ và sử dụng lao động nô lệ khiến chế độ này là một
yếu tố không thể thiếu trong nền kinh tế của 13 thuộc địa Anh ở Bắc Mỹ. Theo quy
luật, cùng sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, chế độ nô lệ ngày càng trở thành một
“vật cản” của nước Mỹ đặc biệt từ sau cuộc chiến tranh giành độc lập. Sau cuộc cách
mạng, nhận thức về chế độ nô lệ và việc xóa bỏ nó có sự khác biệt giữa hai miền
Nam Bắc. Nếu như miền Nam với nhận thức cố hữu muốn duy trì sự tồn tại của chế
độ nô lệ thì người da trắng miền Bắc dưới góc độ kinh tế, xã hội hay đạo đức, tôn
giáo thì chế độ nô lệ đều cần phải xóa bỏ. Cùng với sự mở rộng lãnh thổ ra phía Tây,
mâu thuẫn giữa các nhóm thế lực tư sản công thương ở miền Bắc và chủ nô ở miền
Nam càng gay gắt. Từ những thỏa ước khoan nhượng tạo thế cân bằng (thỏa ước
Missouri 1820) cho đến những xung đột mang tính bạo lực không thể điều hòa được
(xung đột ở Kanas) đã dần châm ngòi nổ cho cuộc Nội chiến đau thương trong lịch sử
nước Mỹ. Nhìn rộng ra trên thế giới đầu thế kỷ XIX, có thể thấy, chế độ nô lệ đã
được xóa bỏ ở nhiều nơi, phong trào đấu tranh đòi giải phóng nô lệ ngày càng rầm rộ
và đạt được các kết quả khả quan.
22
2. Những thay đổi mạnh mẽ của bối cảnh trong nước và quốc tế đã thúc đẩy sự
phát triển của phong trào đấu tranh xóa bỏ chế độ nô lệ ở Mỹ vào thế kỷ XIX. Thập
niên 30 của thế kỷ XIX là thời gian quan trọng của phong trào, với sự ra đời của Hội
nghị của người da đen tự do (1830), của tờ báo chống nô lệ có ảnh hưởng đầu tiên
mang tên “Người giải phóng” của William Lloyd Garrison (1831), cuộc khởi nghĩa
của nô lệ da đen do Nat Turner lãnh đạo – làm chấn động các chủ nô phía Nam
(1831) cũng như sự phát triển mở rộng của mạng lưới hỗ trợ nô lệ bỏ trốn “Đường sắt
ngầm”. Cũng trong thập niên đó, nước Mỹ chứng kiến sự ra đời của các Hội chống
chế độ nô lệ với cương lĩnh được xây dựng dựa trên mục tiêu đấu tranh rõ ràng nhằm
xóa bỏ chế độ nô lệ đã khiến phong trào có tính tổ chức và hoạt động hiệu quả hơn rất
nhiều so với các hoạt động đấu tranh ở giai đoạn trước đó. Dù có nhiều quan điểm
khác nhau về đường lối đấu tranh nhưng chính sự đa dạng, phong phú về phương

quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.
4. Tổng thống Abraham Lincoln đã từng nói “Một ngôi nhà bị chia cắt không
thể đứng vững… chính phủ này không thể chấp nhận vĩnh viễn một nửa là chế độ tự
do, một nửa là chế độ nô lệ” [6, tr.380]. Nước Mỹ đã phải trả một cái giá quá đắt để
có thể hoàn thành nhiệm vụ còn dang dở của cuộc cách mạng tư sản lần thứ nhất. Bên
cạnh những ý nghĩa của những kết quả lớn lao mà phong trào đấu tranh xóa bỏ chế độ
nô lệ ở Mỹ có được, nhiều hạn chế vẫn tồn tại trên thực tế. Bản Tuyên ngôn giải
phóng nô lệ hay các Tu chính án vẫn chưa thể kết thúc được câu chuyện đòi nhân
quyền của người Mỹ gốc Phi vì họ vẫn phải đấu tranh trong gần một thế kỷ nữa để
giành được quyền công dân đích thực. Dù vậy, những trang sử đẫm máu về chế độ nô
lệ cũng đã khép lại vào năm 1865 và mở ra một thời kỳ mới cho dân tộc Mỹ. Nước
Mỹ dù chưa thể xóa bỏ được chủ nghĩa phân biệt chủng tộc nhưng đã và đang cố
gắng thực hiện các nguyên tắc nền tảng của cha ông từ thời lập quốc rằng “tất cả mọi
người sinh ra đều có quyền bình đẳng” dù màu da có khác biệt. Đúng như Foner đã
viết “Đây là sự khởi đầu của một kỷ nguyên mới của nền văn minh… phân chia rạch
ròi giữa quá khứ cũ kỹ và mệt mỏi với một tương lai mới và tươi sáng” [7, tr.44].
Năm 2008, vị Tổng thống người Mỹ gốc Phi đầu tiên – Barack Obama đã lên nắm
quyền – chứng tỏ một vị thế hoàn toàn mới của người da đen trên đất Mỹ, dù ở đâu
đó tại Liên bang Mỹ vẫn xuất hiện các hình thức phân biệt đối xử với người da đen.
24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status