Những thách thức trong quá trình cải cách thuế ở nước ta hiện nay - Pdf 29

I. ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI
1.1. Tổng quan chung về đầu tư nước ngoài

Các hình thức huy động vốn đầu tư nước ngoài bao gồm đầu tư trực tiếp
nước ngoài(FDI), đầu tư gián tiếp nước ngoài(FII) và vốn hỗ trợ phát triển chính
thức(ODA).

1.1.1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài:
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI = Foreign Direct Investment) là hình
thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng cách
thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh. Cá nhân hay công ty nước ngoài đó sẽ nắm
quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này. Phương diện quản lý là thứ để
phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà
đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh.
Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay đựoc gọi là "công ty mẹ" và
các tài sản được gọi là "công ty con" hay "chi nhánh công ty".
Về thực trạng thu hút và sử dụng vốn FDI, Bộ kế hoạch và đầu tư
cho biết:
- Trong 6 tháng đầu năm 2008,tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào
Việt Nam đạt mức kỉ lục 31,6 tỷ USD.
- 8 tháng đầu năm nay, cả nước đã thu hút trên 47 tỉ USD vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài FDI, tăng 4,5 lần so với cùng kỳ năm 2007 và đã vượt hơn 3 lần
kế hoạch của cả năm 2008.
- Tính chung trong 9 tháng, các doanh nghiệp nước ngoài đăng ký và
được cấp phép đầu tư vào Việt Nam 57,12 tỷ USD, gấp gần 5 lần so với cùng kỳ
năm trước. Cụ thể trong tháng 9, cả nước đã thu hút thêm 113 dự án FDI với
15/10/2008 Nhóm 3 1
tổng vốn đăng kí là 9,9 tỷ, nâng tổng số dự án FDI được cấp phép mới trong cả
năm lên 885 dự án với tổng vốn 56,2 tỷ USD, còn lượng tăng vốn cho các dự án
đang hoạt động chỉ chiếm 855,7 triệu USD.
Vốn đăng ký trong 9 tháng đầu năm nay tập trung vào các lĩnh vực công

thức đầu tư trực tiếp nước ngoài
Tuy nhiên, khác với FDI, những nhà đầu tư gián tiếp chỉ đóng góp vào thị
trường bất động sản hoặc các công ty cổ phần thông qua thị trường chứng khoán
mà không trực tiếp tham gia quản lý điều hành. Khi dòng vốn FII vào ồ ạt với
quy mô lớn sẽ gây mất cân bằng về mặt vĩ mô, hoặc nhà đầu tư có thể rút vốn
quy mô lớn và đột ngột gây ra sự khủng hoảng và sụp đổ của thị trường tài chính
trong nước.
Trong khi nguồn vốn FDI có vai trò trực tiếp thúc đẩy sản xuất, thì FII lại
có tác động kích thích thị trường tài chính phát triển theo hướng nâng cao hiệu
quả hoạt động, mở rộng quy mô và tăng tính minh bạch, tạo điều kiện cho doanh
nghiệp trong nước dễ dàng tiếp cận với nguồn vốn mới; nâng cao vai trò quản lý
nhà nước và chất lượng quản trị doanh nghiệp, có tác động thúc đẩy mạnh mẽ
các mối quan hệ kinh tế…
Về thực trạng thu hút và sử dụng vốn FII
Vốn đầu tư gián tiếp từ nước ngoài (FII) của VN đang được xem rất hấp
dẫn nhưng theo thống kê của Bộ Tài chính, việc thu hút nguồn vốn này của VN
còn quá khiêm tốn so với các nước trong khu vực cũng như nhu cầu vốn cho sự
phát triển. Theo thống kê của Bộ Tài chính:
15/10/2008 Nhóm 3 3
- Vốn FII vào VN chỉ chiếm 3,7% so với vốn đầu tư trực tiếp của nước
ngoài (FDI) năm 2004 và 17,5% vào năm 2005. Trong khi đó, tỷ lệ này ở các
nước khác trong khu vực như Thái Lan, Malaysia và Trung Quốc chiếm từ 30%
- 40%. Một trong những kênh dung nạp vốn FII mạnh nhất là thị trường chứng
khoán cũng chỉ mới đạt trên 1 tỷ USD, quá nhỏ so với Trung Quốc (480 tỷ
USD), Philippines (80 tỷ USD) hoặc Thái Lan (110 tỷ USD).
- Năm 2006, đầu tư FII vào Việt Nam có xu hướng tăng nhanh, thể hiện
ở việc đã xuất hiện thêm nhiều quỹ đầu tư mới, cũng như sự cam kết tăng vốn
của các quỹ hiện hữu.
- Tuy nhiên,từ giữa năm 2007 đến nay, dòng vốn FII chảy vào Việt Nam
ngày càng nhiều thông qua thị trường chứng khoán. Vào giữa năm 2007, lúc

năng giải ngân năm 2008 hoàn toàn có thể thực hiện đúng tiến độ.
Tính đến hết quý I/2008, tổng giá trị ODA ký kết thông qua các hiệp định
cụ thể với các nhà tài trợ đạt 369,06 triệu USD, tăng 16% so với cùng kỳ năm
2007, trong đó vốn vay đạt 342,69 triệu USD và vốn viện trợ không hoàn lại đạt
26,37 triệu USD. Trong số này có những dự án tài trợ lớn như: ADB tài trợ cho
dự án “Đường hành lang ven biển phía Nam thuộc tiểu vùng Mê Kông mở rộng”
150 triệu USD; Nhật Bản tài trợ “Chương trình ngân hàng - tài chính III” 75
triệu USD; dự án “Giáo dục trung học cơ sở vùng khó khăn nhất” trị giá 50 triệu
15/10/2008 Nhóm 3
NĂM Số vốn ODA kí kết Số vốn ODA giải
ngân
2006 3.75 1.8
2007 4.45 2
2008 5.426 2.2(dự kiến)
5
USD, “Chương trình tín dụng hỗ trợ giảm nghèo lần thứ 6” (PRRSC6) trị giá
30,67 triệu USD
Như vậy trong 5 năm gần đây Việt Nam liên tục đạt kỷ lục trong thu
hút vốn ODA. Điều này chứng minh cho thực tế hiện nay Việt Nam đang nhận
được sự ủng hộ mạnh mẽ của cộng đồng quốc tế đối với chính sách phát triển
kinh tế. Hy vọng rằng với nỗ lực chung, trong quý 4/2008 sẽ có thêm những
chuyển biến tích cực trong thu hút vốn đầu tư ODA.
1.2. Hạn chế và áp lực cải cách trong tiến trình hội nhập
Việt Nam đã là thành viên Tổ chức Thương mại thế giới - WTO vào ngày 7-
11-2006. Gia nhập WTO mở ra cho Việt Nam những vận hội mới, nhưng cũng
đầy thách thức.
Vào WTO là chấp nhận cạnh tranh, xem cạnh tranh là động lực thúc đẩy sự
phát triển. Cạnh tranh diễn ra ở nhiều cấp độ khác nhau: Cạnh tranh giữa sản
phẩm với sản phẩm, doanh nghiệp với doanh nghiệp, nhà nước với nhà nước.
Thu hút vốn đầu tư, công nghệ tiến tiến… diễn ra ngày càng gay gắt hơn giữa

Theo tinh thần chung, công việc thẩm định, đánh giá dự án phải được tiến
hành thường xuyên, định kỳ và tất cả các cơ quan quản lý nhà nước về ODA đều
có trách nhiệm tham gia, nhằm phân tích làm rõ tương quan giữa kết quả đạt
được trên thực tế so với mục tiêu cần đạt được, đồng thời phát hiện những khó
khăn, vướng mắc nhằm tìm ra biện pháp khắc phục, phòng ngừa.
Quy định là vậy, nhưng theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, hiện nay ở Việt Nam có rất
ít kinh nghiệm về thẩm định đánh giá tình hình thực hiện các chương trình dự án
ODA ở cấp chủ dự án và ban quản lý dự án. Công tác theo dõi các chương trình,
15/10/2008 Nhóm 3 7
dự án ODA hầu như mới tập trung vào báo cáo tiến độ, tình hình thực hiện và
giải ngân dự án, chủ yếu nhằm đáp ứng yêu cầu của cấp trên, của nhà tài trợ để
được giải ngân vốn.
- Ban quản lý dự án được giao quá nhiều quyền:
Trọng trách thực hiện, giám sát và thẩm định hiệu quả dự án, tiến độ thi
công phần lớn được phó thác cho chủ đầu tư, mà đại diện là các ban quản lý dự
án. Ban quản lý dự án thường được thành lập theo quyết định của cơ quan chủ
quản (các bộ hoặc uỷ ban nhân dân cấp tỉnh) ngay sau khi văn kiện chương trình
dự án ODA được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Cơ quan này có toàn quyền thay
mặt chủ dự án thực hiện các quyền hạn và nhiệm vụ được giao từ khi bắt đầu
thực hiện cho đến khi kết thúc dự án, kể cả việc quyết toán, nghiệm thu, bàn giao
đưa vào dự án khai thác, sử dụng. Vì được uỷ quyền rất lớn, hơn ai hết, chỉ các
ban quản lý dự án mới là nơi nắm sát nhất thực tế triển khai công trình và hiệu
quả sử dụng đồng vốn
- Giải ngân thấp ảnh hưởng đến tăng trưởng:
Mới đây, một nghiên cứu của Tổ công tác ODA của Chính phủ cũng chỉ
rõ việc giải ngân ODA chậm đang phát sinh một vòng "luẩn quẩn". Khi các dự
án ODA chậm trễ, mức độ giải ngân thấp hơn. Điều này khiến nảy sinh hai vấn
đề, thứ nhất là vốn đầu tư cho phát triển giảm xuống, không đạt như dự kiến; thứ
hai khi nguồn vốn hiện tại không được sử dụng đúng cam kết các nhà tài trợ sẽ
cam kết thấp hơn cho những kỳ tiếp theo. Cả hai yếu tố này tất yếu sẽ khiến tốc

15/10/2008 Nhóm 3 9
- Sự phối hợp trong quản lý hoạt động FDI giữa các Bộ, ngành, địa phương
chưa chặt chẽ. Đánh giá tình hình FDI vẫn nặng về số lượng, chưa coi trọng về
chất lượng, còn bệnh thành tích trong cơ quan quản lý các cấp.
- Tổ chức bộ máy, công tác cán bộ và cải cách hành chính chưa đáp ứng
yêu cầu phát triển trong tình hình mới. Năng lực của một bộ phận cán bộ, công
chức làm công tác kinh tế đối ngoại còn hạn chế về chuyên môn, ngoại ngữ,
không loại trừ một số yếu kém về phẩm chất, đạo đức, gây phiền hà cho doanh
nghiệp, làm ảnh hưởng xấu đến môI trường đầu tư-kinh doanh.
II. ÁP LỰC CẢI CÁCH THUẾ TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP
Xu thế hội nhập, liên kết kinh tế trong khu vực tiến tới toàn cầu hoá kinh
tế là tất yếu khách quan. Theo đó hội nhập quốc tế về thuế ngày càng rộng và
càng sâu, nhằm khuyến khích đầu tư, tự do hoá thương mại trong khu vực và
trên toàn thế giới. Ngoài việc phải xây dựng hệ thống chính sách thuế tương
thích, công tác quản lý thuế phải được cải cách và hiện đại hoá theo các chuẩn
mực quản lý thuế quốc tế nhằm tạo điều kiện thuận lợi để thu hút mạnh mẽ đầu
tư nước ngoài vào Việt Nam và khuyến khích doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra
nước ngoài, tạo môi trường thuận lợi, đồng nhất về thuế để phát triển kinh tế -
xã hội đất nước.
Sự hội nhập buộc Chính phủ VN phải làm nhiều nỗ lực trong việc cải
cách chính sách, đặc biệt là chính sách thuế. Bởi lẽ, chính sách này liên quan
đến nhiều mặt kinh tế xã hội, không những đến sự củng cố nguồn lực tài chính
công, kích thích tăng trưởng kinh tế mà còn góp phần tăng cường khả năng cạnh
tranh và hội nhập của nền kinh tế.
2.1. Thực trạng hệ thống Thuế Việt nam
Tính đến nay, hệ thống thuế nước ta bao gồm 10 sắc thuế chủ yếu, được
chế tài bằng 6 luật, 4 pháp lệnh, áp dụng thống nhất đối với mọi đối tượng nộp
15/10/2008 Nhóm 3 10
thuế của các thành phần kinh tế. Các khoản thu khác có quy mô nhỏ, mang tính
chất chi phí, lệ phí như thuế môn bài, lệ phí trước bạ được quy định bởi các văn

tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ, nhờ đó khắc phục được nhược điểm đánh thuế
trùng của thuế doanh thu trước đây.
- Chính sách thuế đã bắt đầu phát huy được tác dụng quản lý, điều tiết vĩ
mô nền kinh tế. Hệ thống thuế được áp dụng thống nhất đã tạo ra môi trường
bình đẳng về pháp luật cho sự cạnh tranh lành mạnh giữa các thành phần kinh tế,
góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Chính sách thuế từng bước tạo ra sự
công bằng về nghĩa vụ nộp thuế giữa các đối tượng khác nhau, góp phần thúc
đẩy đầu tư vốn, cải tiến công nghệ, tăng năng suất lao động, giảm giá thành …
- Chính sách thuế đã góp phần khuyến khích xuất khẩu. Hàng hóa xuất
khẩu không phải chịu thuế giá trị gia tăng, đồng thời được hoàn lại toàn bộ số
thuế giá trị gia tăng đã nộp ở đầu vào. Luật thuế thu doanh nghiệp cũng có quy
định khuyến khích đối với doanh nghiệp xuất khẩu lớn: nếu dự án đầu tư có giá
trị hàng hóa xuất khẩu trên 30% tổng giá trị được hưởng thuế suất ưu đãi 25%,
nếu giá trị hàng hóa xuất khẩu trên 50% thì được miễn thuế thu nhập doanh
nghiệp bổ sung.
- Chính sách thuế có tác dụng thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế
theo hướng tiến bộ. Các luật thuế mới đã khuyến khích việc chuyển hướng sản
xuất theo hướng xuất khẩu và hình thành cơ cấu kinh tế mới. Thông qua việc ưu
đãi đầu tư, các luật thuế mới đã khuyến khích đầu tư vào các lĩnh vực, ngành
nghề, vùng kinh tế theo hướng phát triển do nhà nước đề ra. Nhà nước không thu
15/10/2008 Nhóm 3 12
thuế giá trị gia tăng đối với những ngành hàng mà Việt Nam có thế mạnh như
nông sản, lâm sản, hải sản do nông dân sản xuất bán ra; đối với các cơ sở kinh
doanh thu mua chế biến lại được khấu trừ đầu vào với một tỷ lệ ấn định từ 3-5%
như hình thức trợ giá của nhà nước. Các biện pháp này đã có tác dụng tích cực
đối với việc sản xuất và tiêu thụ các mặt hàng này. bvh
- Chính sách thuế đã từng bước tương đồng và phù hợp với thông lệ quốc
tế.
Có thể nói, thành tựu nổi bật và bao trùm trong lĩnh vực thuế là việc
chuyển hóa thành công từ hệ thống thuế chỉ phù hợp với cơ chế kinh tế kế hoạch

vào đó, thu nhập được phân phối không công bằng giữa các tầng lớp dân cư
dẫn đến tình thế khó khăn: để có thể thu được số thuế lớn (đạt được sự luỹ tiến
hiệu quả đối với thuế thu nhập) thì những người có thu nhập cao cần phải chịu
thuế với tỷ lệ cao hơn những người có thu nhập thấp. Nhưng vì quyền lực kinh
tế và chính trị thường tập trung vào nhóm người có thu nhập cao, nên việc đạt
các mục tiêu cải cách thuế cũng trở nên khó khăn hơn, nhất là khi chương
trình cải cách ảnh hưởng đến lợi ích của họ.
Ba là, năng lực quản lý và điều hành thuế còn nhiều hạn chế:
Có cả nguyên nhân chủ quan và khách quan của vấn đề này. Nguyên
nhân chủ quan từ phía cơ quan thuế xuất phát từ chỗ đội ngũ cán bộ thuế còn
mỏng, quá trình đào tạo không thường xuyên, chưa theo kịp yêu cầu quản lý
kinh tế. Bên cạnh đó là hạn chế về nguồn lực vật chất phục vụ cho công tác
quản lý thuế, đặc biệt là hệ thống tin học. Yêu cầu của quản lý thuế trong giai
15/10/2008 Nhóm 3 14
đoạn hiện nay đòi hỏi không chỉ nối mạng máy tính trong toàn quốc mà còn
phải cập nhật và trao đổi thông tin với các nước trên thế giới để đối chiếu,
kiểm tra và xử lý thông tin một cách kịp thời. Trong điều kiện hội nhập thì hệ
thống mạng máy tính là một trong những công cụ quản lý thuế quan trọng.
Nguyên nhân khách quan là do khu vực không chính thức đóng vai trò
khá quan trọng trong nền kinh tế. Các hoạt động "ngầm" làm cho cơ quan thuế
và thống kê gặp nhiều khó khăn trong việc thiết lập hệ thống thông tin tin cậy
nhằm giúp cho các nhà hoạch định chính sách đánh giá được những tác động
thay đổi về chính sách thuế đến nền kinh tế nói chung và ảnh đến nguồn thu
nói riêng. Việc khó lượng hoá những thay đổi về nguồn thu của ngân sách
trong điều kiện hạn hẹp thường dẫn tới những rủi ro lớn về khó khăn tài khoá.
2.3. Nội dung cải cách Thuế
2.3.1 Mục tiêu
2.3.1.1. Mục tiêu tổng quát: Xây dựng hệ thống chính sách thuế đồng bộ,
có cơ cấu hợp lý phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa, gắn với hiện đại hoá công tác quản lý thuế nhằm đảm bảo chính sách động

f) Nhanh chóng hiện đại hoá và nâng cao năng lực của bộ máy quản lý
thuế; khắc phục các hiện tượng tiêu cực, yếu kém làm cho bộ máy quản lý thuế
trong sạch, vững mạnh.
2.3.2. Nội dung cải cách hệ thống thể chế chính sách thuế:
2.3.2.1 Nội dung cải cách hệ thống chính sách thuế:
15/10/2008 Nhóm 3 16
- Ban hành mới các sắc thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp, thuế
chống phân biệt đối xử; thuế bảo vệ môi trường; thuế tài sản; thuế sử dụng đất.
Việc ban hành và thực hiện các sắc thuế mới trên đây phải chú ý đến đối
tượng, mức độ và thời điểm áp dụng cho phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội
của đất nước, đảm bảo ổn định sản xuất, thị trường và đời sống nhân dân.
- Sửa đổi, bổ sung đồng bộ các sắc thuế hiện hành; tăng dần tỷ trọng các
nguồn thu trong nước cho phù hợp với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, mở
rộng diện thuế trực thu và tăng tỷ trọng thuế trực thu trong tổng số thu về thuế.
Đến năm 2010: Hệ thống thuế của nước ta bao gồm các sắc thuế sau:
- Thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp, thuế chống phân biệt đối
xử,
- Thuế bảo vệ môi trường,
- Thuế tài sản,
- Thuế sử dụng đất,
- Thuế giá trị gia tăng,
- Thuế tiêu thụ đặc biệt,
- Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu,
- Thuế thu nhập doanh nghiệp,
- Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao được sửa đổi thành thuế
thu nhập cá nhân,
- Thuế tài nguyên,
- Phí, lệ phí.
2.3. 2.2 Ban hành luật quản lý thuế nhằm xác định rõ nghĩa vụ, trách nhiệm,
quyền lợi của đối tượng nộp thuế; Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan

0%
- Thuế thu nhập doanh nghiệp: Hạ mức thuế TNDN từ 32% xuống 28%, sắp
tới mức thuể này giảm còn 25%, bỏ thuế TNDN bổ sung đối với doanh nghiệp
trong nước, bỏ thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài đối với nhà đầu tư nước
ngoài, giảm mức thuế suất ưu đãi từ 25%, 20%, 15% xuống còn 20%, 15%,
10%; mở rộng diện ưu đãi thuế cho cả đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài;
bổ sung nhiều khoản chi phí được tính khi tính thuế TNDN; nâng mức khấu hao
bằng hai lần, lãi tiền vay bên ngoài bằng 1,2 lần so với lãi tiền vay của tổ chức
tín dụng; chi phí quảng cáo, tiếp thị, khuyến mại được nâng từ 5%, 7% lên 10% .
- Thuế tiêu thụ đặc biệt: Mở rộng đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt đối
với các loại hàng hóa, dịch vụ như các thiết bị điện, điện tử gia dụng cao cấp,…
không phân biệt đó là hàng hóa sản xuất trong nước và hàng nhập khẩu.
+ Về thuế suất, sự điều tiết cần đặt trong mối quan hệ với các sắc thuế
khác. Cụ thể, trong điều kiện thuế nhập khẩu tiếp tục được điều chỉnh giảm theo
cam kết thực hiện Chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT), áp
dụng thuế VAT đối với hàng hóa, dịch vụ thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt,
… Theo đó, cần điều chỉnh thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt hiện hành xuống mức
hợp lý, không làm ảnh hưởng đến kết quả sản xuất kinh doanh của các doanh
nghiệp đang sản xuất kinh doanh các mặt hàng, dịch vụ này.

15/10/2008 Nhóm 3 19
- Thuế xuất, nhập khẩu: Thực hiện cắt giảm thuế nhập khẩu theo lộ trình
thực hiện AFTA/CEPT và các cam kết quốc tế; bãi bỏ trên 300 loại phí, lệ phí,
tạo điều kiện cho doanh nghiệp giảm bớt chi phí đầu vào và tránh được nhiều thủ
tục hành chính phiền hà.
2.4 Lợi ích của cải cách Thuế
2.4.1. Về phía Nhà nước: Đảm bảo thực thi tốt các luật thuế để chính
sách thuế thực sự là công cụ điều tiết vĩ mô của Đảng và Nhà nước đối với nền
kinh tế- xã hội, thúc đẩy sản xuất kinh tế phát triển, tạo việc làm, tăng thu nhập
cho người lao động; Hạn chế đến mức thấp nhất thất thu về thuế, vừa đảm bảo

được đảm nhiệm bởi các chi nhánh, công ty con ở các quốc gia khác nhau và có
một chi nhánh làm công việc hoàn chỉnh sản phẩm đưa ra thị trường. Từ đây sản
phẩm được xuất đi khắp các nước.
Cơ cấu tổ chức nhiều tầng của các công ty đa quốc gia với một mang lưới
lớn các chi nhánh và công ty con, trong khi đó quyền kiểm soát chủ yếu trong
các hoạt động đầu tư, sản xuất và kinh doanh chính vẫn thuộc về công ty mẹ.
Đặc điểm này kết hợp với sự chuyên môn hóa cao trong các công ty này là điều
kiện cho hoạt động chuyển giá và tránh thuế xảy ra.
3.1.2. Thế nào là chuyển giá quốc tế ?
Chuyển giá được hiểu là việc thực hiện chính sách giá đối với hàng hóa,
dịch vụ và tài sản được chuyển dịch giữa các thành viên trong tập đoàn qua biên
15/10/2008 Nhóm 3 22
giới không theo giá thị trường nhằm tối thiểu hóa số thuế của các công ty đa
quốc gia trên toàn cầu.
Như vậy, chuyển giá là một hành vi do các chủ thể kinh doanh thực hiện
nhằm thay đổi giá trị trao đổi hàng hóa, dịch vụ trong quan hệ giữa các bên liên
kết. Hành vi ấy có đối tượng tác động chính là giá cả. Sở dĩ giá cả có thể xác
định lại trong những giao dịch như thế xuất phát từ 3 lý do sau.
Thứ nhất, xuất phát từ quyền tự do định đoạt trong kinh doanh, các chủ
thể hoàn toàn có quyền quyết định giá cả của một giao dịch. Do đó họ hoàn toàn
có quyền mua hay bán hàng hóa, dịch vụ với giá họ mong muốn.
Thứ hai, xuất phát từ mối quan hệ gắn bó chung về lợi ích giữa nhóm liên
kết nên sự khác biệt về giá giao dịch được thực hiện giữa các chủ thể kinh doanh
có cùng lợi ích không làm thay đổi lợi ích toàn cục.
Thứ ba, việc quyết định chính sách giá giao dịch giữa các thành viên
trong nhóm liên kết không thay đổi tổng lợi ích chung nhưng có thể làm thay đổi
tổng nghĩa vụ thuế của họ. Thông qua việc định giá, nghĩa vụ thuế được chuyển
từ nơi bị điều tiết cao sang nơi bị điều tiết thấp hơn và ngược lại. Tồn tại sự khác
nhau về chính sách thuế của các quốc gia là điều không tránh khỏi do chính sách
kinh tế - xã hội của họ không thể đồng nhất, cũng như sự hiện hữu của các quy

15/10/2008 Nhóm 3 24
Thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp tại Singapore:
(100.000 - 90.000) x 20% = 2.000 ($)
Thuế nhập khẩu phải nộp ở Việt Nam:
Thuế nhập khẩu 100.000 x 60% = 60.000 $,
Thuế tiêu thụ đặc biệt (100.000 + 60.000) x 50% = 80.000$,
Thuế VAT (100.000 + 60.000 + 80.000) x 10% = 24.000$ (VAT này sẽ
được khấu trừ người tiêu dùng phải chịu)
Sản phẩm bán giá 300.000$ (chưa tính VAT), chi nhánh ở Việt Nam thu
được lợi nhuận
300.000 – 100.000 – 60.000 – 80.000 = 60.000$,
Phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp 15.000$.
Tổng thuế phải nộp của công ty này là:
2.000 + 60.000 + 80.000 + 15.000 = 157.000$
+ Nếu doanh nghiệp định giá lô hàng chỉ là 10.000$
Thuế thu nhập doanh nghiệp tại Singapore là 0$.
Thuế nhập khẩu phải nộp ở Việt Nam:
thuế nhập khẩu 10.000 x 60% = 6.000 $,
thuế tiêu thụ đặc biệt (10.000 + 6.000) x 50% = 8.000$,
thuế VAT (10.000 + 6.000 + 8.000) x 10% = 2.400$,
sản phẩm bán giá 300.000$, chi nhánh ở Việt Nam thu được lợi nhuận
300.000 – 10.000 – 6.000 – 8.000 = 276.000$, phải nộp thuế thu nhập doanh
nghiệp 69.000$.
Tổng thuế phải nộp của công ty này là: 0 + 6.000 + 8.000 + 69.000 = 83.000$
15/10/2008 Nhóm 3 25

Trích đoạn Thực trạng: *Tình trạng chung
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status