TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH - KTNN
*************
ĐỖ HỒNG LAM NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI
TRONG TẦNG CÂY BỤI
TẠI TRẠM ĐA DẠNG
SINH HỌC MÊ LINH – VĨNH PHÚC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Thực vật học
HÀ NỘI - 2014
Để hoàn thành khoá luận này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân
thành và sâu sắc nhất đến ThS. Dương Thị Thanh Thảo và TS. Lê Đồng
Tấn là những ngƣời đã trực tiếp hƣớng dẫn, tận tình chỉ bảo tôi trong suốt
quá trình thực hiện đề tài và hoàn chỉnh khóa luận.
Tôi xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo trạm Đa dạng Sinh học
Mê Linh - Vĩnh Phúc đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong việc nghiên
cứu, thu thập số liệu.
Nhân dịp này tôi xin gửi lời cảm ơn tới anh Trịnh Xuân Thành
(trạm Đa dạng Sinh học Mê Linh - Vĩnh Phúc) đã nhiêt tình giúp đỡ tôi
trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành khóa luận.
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn tới những ngƣời thân và bạn bè
đã luôn ở bên động viên, giúp đỡ và khích lệ tôi trong suốt thời gian tôi
học tập và nghiên cứu.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 15 tháng 5 năm 2014
Sinh viên Đỗ Hồng Lam LỜI CAM ĐOAN
2.3. Thời gian nghiên cứu 8
2.4. Phƣơng pháp nghiên cứu 8
Chƣơng 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 12
3.1. Thành phần loài trong khu vực nghiên cứu 12
3.2. Hệ số tổ thành loài 17
3.3. Đa dạng về dạng sống 19
3.4. Đa dạng về giá trị sử dụng 21
3.5 . Đề xuất giải pháp quản lý thảm cây bụi phục vụ cho công tác bảo tồn đa
dạng sinh học tại trạm ĐDSH Mê Linh. 22
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 24
TÀI LIỆU THAM KHẢO 25
PHỤ LỤC
1
MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài
Việt Nam là một nƣớc nằm trong vùng nhiệt đới có hệ sinh thái rừng vô
cùng phong phú và đa dạng.
Trong hệ sinh thái rừng, tính đa dạng thực vật không chỉ thể hiện ở số
lƣợng loài và dạng sống của chúng, mà còn thể hiện ở tính chất cấu trúc của
thảm thực vật. Một trong những đặc điểm về cấu trúc rừng đƣợc các nhà
nghiên cứu quan tâm là cấu trúc đứng. Theo đó rừng nhiệt đới thƣờngxanh
thƣờng có cấu trúc thành tầng tán để tận dụng nguồn năng lƣợng một cách
hiệu quả nhất. Rừng nhiệt đới thƣờng xanh điển hình thƣờng có cấu trúc 5
tầng, trong đó có 3 tầng cây gỗ. Dƣới tầng cây gỗ là tầng cây bụi, dƣới cùng
là tầng cỏ quyết hay thảm tƣơi. Cho đến nay các nghiên cứu thƣờng tập trung
Mê Linh.
Đề xuất đƣợc giải pháp quản lý thảm cây bụi phục vụ cho công tác bảo
tồn đa dạng sinh học tại trạm ĐDSH Mê Linh – Vĩnh Phúc.
Ý nghĩa khoa học - thực tiễn
Ý nghĩa khoa học: Bổ sung các dẫn liệu về tính đa dạng loài và cấu trúc
của tầng cây bụi dƣới tán rừng thứ sinh tại khu vực nghiên cứu.
Ý nghĩa thực tiễn: Các kết quả nghiên cứu là cơ sở để đánh giá hiện
trạng phục vụ cho công tác bảo tồn và phát triển đa dạng thực vật tại
trạm.
Bố cục của khóa luận
Khóa luận gồm 26 trang, 2 bảng, đƣợc chia thành các phần chính nhƣ sau:
Mở đầu (2 trang), chƣơng 1. Tổng quan tài liệu (5 trang), chƣơng 2. Đối
tƣợng, phạm vi, thời gian và phƣơng pháp nghiên cứu (4 trang), chƣơng 3.
Kết quả nghiên cứu (12 trang), kết luận và đề nghị (1 trang), tài liệu tham
khảo (2 trang), ngoài ra còn phần phụ luc (không đánh số trang).
3
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Khái niệm và định nghĩa về đa dạng sinh học
ĐDSH học đã đƣợc nghiên cứu từ lâu, tuy nhiên phải đến những năm
1990 của thế kỷ 20 vấn đề này mới thực sự trở nên cấp thiết và thu hút sự
quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học và nhiều quốc gia.
Tuy có khác nhau nhƣng đa số các tác giả đều thống nhất cho rằng ĐDSH là
sự khác biệt hay tính muôn hình muôn vẻ của thế giới sinh vật trên toàn trái
đất và đƣợc thể hiện ở 3 mức độ nhƣ sau [19]:
với rừng nhiệt đới vấn đề này mới đƣợc tiến hành chủ yếu từ những năm 30
của thế kỷ XX trở lại đây.
P.W. Richards (1952) đƣa ra nhận xét rằng ở rừng nhiệt đới có sự phân
bố số lƣợng cây trong các tầng rất khác nhau. Phần lớn các loài cây ƣu thế ở
tầng trên trong rừng nguyên sinh thƣờng có rất ít thậm chí vắng mặt ở những
tầng thấp hay cấp thể tích nhỏ. Ngƣợc lại, ở những rừng đơn ƣu nhƣ rừng
Mora gongifi ở Guana, rừng Mora exelsa ở Guana và Trinidat, rừng
Eusdezoxylon ở Borneo lại có đầy đủ đại diện ở các lớp kích thƣớc. Theo tác
giả thì sự phân bố này là do đặc tính di truyền của các loài cây, đƣợc thể hiện
ở khả năng sinh sản và tập tính của chúng trong các giai đoạn phát triển. Ông
cũng cho rằng, sự thiếu hụt ánh sáng trong rừng mƣa nhiệt đới ảnh hƣởng chủ
yếu đến sự phát triển của cây con, còn đối với sự nảy mầm và phát triển của
mầm non thƣờng không rõ [18].
H. Lamprecht (1989) căn cứ vào nhu cầu sử dụng ánh sáng trong suốt
đời sống của các loài cây, ông đã phân chia rừng nhiệt đới thành các nhóm
cây ƣa sáng, nhóm cây nửa chịu bóng và nhóm cây chịu bóng [20].
Từ những năm giữa thế kỷ XIX, do sự phát triển của ngành công nghiệp
hoá giấy, cho phép sử dụng một cách tổng hợp các sản phẩm gỗ tự nhiên nên
nhiều diện tích rừng đã bị khai thác trắng để làm nguyên liệu. Để phục hồi lại
thảm thực vật và đáp ứng nhu cầu về gỗ đang ngày càng gia tăng, trong Lâm
nghiệp đã hình thành xu hƣớng thay thế rừng tự nhiên bằng rừng trồng nhân
5
tạo cho năng suất cao. Nhƣng sau thất bại trong tái sinh nhân tạo ở Đức và
một số nƣớc ở vùng nhiệt đới, nhiều nhà khoa học đã nêu khẩu hiệu: “Hãy
quay trở lại với tái sinh tự nhiên” Nguyễn Văn Thêm (1992) [15].
1.2. Nghiên cứu về đa dạng các loài cây bụi ở Việt Nam
Loại I: Đất đai hoang trọc, những trảng cỏ và cây bụi, trên loại này cần
phải trồng rừng.
Loại II: Gồm những rừng non mới mọc, cần phải tra dặm thêm cây hoặc
tỉa thƣa.
Loại III: Gồm tất cả các loại hình rừng bị khai thác mạnh trở nên nghèo
kiệt tuy còn có thể khai thác lấy gỗ, trụ mỏ, củi, nhƣng cần phải xúc tiến tái
sinh, tu bổ, cải tạo.
Loại IV: Gồm những rừng già nguyên sinh còn nhiều nguyên liệu, chƣa
bị phá hoại, cần khai thác hợp lý.
Phan Nguyên Hồng (1991), khi nghiên cứu hình thái thảm thực vật ở
rừng ngập mặn Việt Nam đã chia thành 7 dạng sống cơ bản: cây gỗ (G), cây
bụi (B), cây thân thảo (T), dây leo (L), cây gỗ thấp hoặc dạng cây bụi (G/B),
kí sinh (K), bì sinh (B) [8].
Lê Đồng Tấn (2000) nghiên cứu quá trình phục hồi rừng tự nhiên sau
nƣơng rẫy tại Sơn La, tác giả kết luận: số lƣợng cây/ô tiêu chuẩn, mật độ cây
giảm dần từ chân đồi lên sƣờn và đỉnh đồi. Mật độ cây giảm khi độ dốc tăng.
Tổ hợp loài cây ƣu thế trên cả 3 vị trí địa hình và 3 cấp độ dốc là giống nhau,
sự khác nhau chính là hệ số tổ thành của các loài trong tổ hợp đó, tính chất
này càng thể hiện rõ trên cùng một địa điểm (một khu đồi). Độ cao có ảnh
hƣởng lên sự phân bố của các loài cây và sự hình thành thảm thực vật. Thoái
hoá đất có ảnh hƣởng đến: mật độ cây, số lƣợng loài cây và tổ thành loài
cây [13].
Nguyễn Thế Hƣng (2003), khi nghiên cứu thảm cây bụi ở huyện Hoành
Bồ, thị xã Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh cũng dựa trên nguyên tắc phân loại theo
UNESCO (1973) đã xây dựng đƣợc 4 trạng thái thảm cây bụi khác nhau:
7
Vĩnh Phúc.
2.2. Phạm vi nghiên cứu
Tại trạm ĐDSH Mê Linh, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
2.3. Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 9/2012 tới tháng 4/2014.
2.4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Phương pháp kế thừa tài liệu
Kế thừa các kết quả về thông tin, số liệu và những tƣ liệu, kết quả liên
quan đến đề tài mà các công trình nghiên cứu đã báo cáo tổng kết công khai,
công bố, đăng tải trên các phƣơng tiện thông tin chính thức. Đặc biệt là những
số liệu của trạm ĐDSH Mê Linh và các đề tài khác do Viện Sinh thái và Tài
nguyên sinh vật đã thu thập trong những năm gần đây.
Phương pháp điều tra
Đƣợc thực hiện trong các chuyến đi thực địa nhằm thu thập các dữ liệu
về phân loại (thu thập mẫu vật, chụp ảnh, quan sát và ghi chép các đặc điểm
của mẫu ở trạng thái tƣơi,… và các đặc điểm khác); thu thập số liệu về đa
dạng sinh học (số lƣợng, chất lƣợng, diễn biến về số lƣợng và chất lƣợng),
tình trạng suy thoái trong những vùng tiểu sinh thái cụ thể về các loài ở nơi
nghiên cứu. Để làm tốt công tác điều tra thực địa, chúng tôi tiến hành nghiên
cứu theo phƣơng pháp của Thái Văn Trừng (1978) [17] và Nguyễn Nghĩa
Thìn (2004) [16] để điều tra theo tuyến và lập ô tiêu chuẩn (OTC).
9
Lập tuyến điều tra: Điều tra theo tuyến để xác định sự phân bố của các
đối tƣợng nghiên cứu, dự kiến địa điểm bố trí ô tiêu chuẩn. Tuyến điều tra
(TĐT) đƣợc thiết lập dựa trên các thông tin về thảm thực vật (bản đồ hiện
trạng rừng, bản đồ qui hoạch các khu vực), các thông tin từ ban quản lý và
dọc theo hai bên tuyến. Số liệu đƣợc ghi chép theo mẫu sau (Biểu 1).
Biểu 1. Điều tra thực vật theo tuyến
Số hiệu tuyến……………… Ngƣời điều tra……………
Bắt đầu từ………. đến……… Ngày điều tra…………….
Chiều dài tuyến……………
TT
Tên họ
(khoa học –
Việt Nam)
Tên loài
(khoa học –
Việt Nam)
Công dụng
Ghi chú
01
02 Lập ô tiêu chuẩn (OTC) và thu thập dữ liệu.
Phân tích và xử lý số liệu
Để tra cứu nhận biết các họ, chúng tôi căn cứ vào Cẩm nang tra cứu và nhận
biết các họ thực vật Hạt kín ở Việt Nam của Nguyễn Tiến Bân (1997) [2] và
Chƣơng 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1.Thành phần loài trong khu vực nghiên cứu
Bảng 3.1. Danh lục các loài thực vật trong tầng cây bụi dưới tán rừng
thứ sinh phục hồi tự nhiên tại trạm ĐDSH Mê Linh.
STT
Tên Khoa học
Tên Việt Nam
Dạng sống
Công dụng
Số lƣợng cá thể
1. Anacardiaceae Lindl. - Họ Xoài
1
Allospondias
lakonensis (Pierre)
Stapf.
Giâu da xoan
Gỗ trung
bình
G, Q
6
2
Toxicodendron
succedanea (L.) Mold.
Sơn
Gỗ nhỏ
Cho nhựa
30
2. Annonaceae Juss. - Họ Na
3
G, Q
58
5. Euphorbiaceae Juss. - Họ Thầu dầu
7
Allospondias
lakonensis (Pierre)
Stapf.
Chòi mòi
Gỗ nhỏ
T, Q
17
8
Aporosa dioica
(Roxb.) Muell Arg.
Thẩu táu,
Ngăm
Gỗ nhỏ
G
10
9
Breynia fruticosa (L.)
Bồ cu vẽ
Bụi
T
10
13
G
40
14
Desmodium
gangeticum(L.) DC.
Thóc lép
Bụi
T
4
15
Mimosa pudica L.
Xấu hổ
Bụi
T
10
7. Clusiaceae Lindl. - Họ Bứa
16
Garcinia hainanensis
Merr.
Bứa hải nam
Gỗ nhỏ
G, Q
5
8. Hypericaceae Juss. - Họ Ban
17
Cratoxylum
cochinchinensis
(Lour.) Blume
Thành ngạnh
nam
21
Litsea cubeba (Lour.)
Pers.
Màng tang
Gỗ nhỏ
G, Cho tinh
dầu
8
14
22
Litsea monopetala
(Roxb.) Pers.
Bời lời
Gỗ nhỏ
T, Cho keo
6
23
Litsea verticillata
Hance
Bời lời đắng
Gỗ nhỏ
T
5
24
Machilus parviflora
Meisn.
28
Ficus heterophylla L.
f.
Vú bò lá xẻ
Bụi
T
76
29
Ficus hirta Vahl.
Ngái lông
Bụi
T, Q
8
14. Myristicaceae R. Br. - Họ Máu chó
30
Knema globularia
(Lamk.) Warrb.
Máu chó lá
nhỏ
Gỗ nhỏ
G
59
31
Knema pierrei Warb.
Máu chó lá lớn
Gỗ nhỏ
G
110
15. Myrsinaceae R. Br. - Họ Đơn nem
32
operculatus (Roxb.)
Merr.
Vối
Gỗ nhỏ
T, R
15
36
Rhodomyrtus
tomentosa (Ait.)
Hassk.
Sim
Bụi
T, Q
7
17. Rhizophoraceae R. Br. - Họ Đƣớc
37
Carallia lanceafolia
Roxb. ex Wight.
Xăng mả
nguyên, Xăng
mả thon
Bụi
T
16
18. Rosaceae Juss. - Họ Hoa hồng
38
Prunus arborea
(Blume) Kalkm.
Xoan đào
Gỗ trung
T
38
20. Rutaceae Juss. - Họ Cam
43
Acronychia
pedunculata (L.) Miq.
Bƣởi bung
Gỗ nhỏ
T
30
44
Euodia lepta (Spreng)
Merr.
Ba chạc
Bụi
T
40
45
Micromelum hirsutum
Oliv.
Mắt trâu
Bụi
28
21. Simaroubaceae DC. - Họ Thanh thất
46
Ailanthus triphysa
(Dennst.) Alst.
Thanh thất
Gỗ trung
(Garcinaceae), họ Hồ đào (Juglandaceae), họ Đƣớc (Rhizopholiaceae), họ
Hoa hồng (Rosaceae), họ Thanh thất (Simbarutaceae), họ Bồ đề (Styracaceae)
mỗi họ có 1 loài, chiếm 2,13%.
Chi nhiều loài nhất là chi Litsea thuộc họ Long não (Lauraceae) có 3
loài, chiếm 6,38% tổng số loài; sau đó là các chi Glochidion thuộc họ Thầu
dầu (Euphorrbiaceae), chi Cratoxylum thuộc họ Ban (Hyperaceae), chi
Melastoma thuộc họ Mua (Melastomataceae), chi Ficus thuộc họ Dâu tằm
(Moraceae), chi Kneama thuộc họ Máu chó (Myriticaceae), chi Ardisia thuộc
họ Đơn nem (Myrsinaceae), chi Psychotria thuộc họ Cà phê (Rubiaceae) đều
có 2 loài, chiếm 4,26% tổng số loài; các chi còn lại có 1 loài, chiếm 2,13%.
17 3.2. Hệ số tổ thành loài
Bảng 3.2. Hệ số tổ thành loài trong tầng cây bụi dưới tán rừng thứ sinh
tại trạm ĐDSH Mê Linh.
STT
Tên loài
Số cây
Hệ số tổ
thành (%)
1
Kháo lá nhỏ
250
13,67
2
Cơm nguội 5 cạnh
10
Bộp lông
60
3,28
11
Máu chó lá nhỏ
59
3,22
12
Trám chim
58
3,17
13
Sóc lông
42
2,29
14
Ba chạc
40
2,19
15
Mán đỉa, Mắn đỉa
40
2,19
16
Găng tu hú
38
2,08
17
Mua bà
28
1,53
23
Mắt trâu
28
1,53
24
Giền đỏ
22
1,20
25
Hoa dẻ thơm
19
1,04
26
Chòi mòi
17
0,93
27
Lấu
17
0,93
28
Xăng mả nguyên ( Xăng mả thon)
16
0,87
28
Vối
15
0,98
7
0,38
38
Bời lời
6
0,32
39
Giâu da xoan
6
0,32
40
Bồ đề
6
0,32
41
Mẫu đơn
5
0,27
42
Bời lời đắng
5
0,27
43
Nhựa ruồi (Bùi lá tròn)
5
0,27
44
Bứa hải nam
5
0,27
có 4 loài trên đạt hệ số tổ thành loài > 5%.
Vậy công thức tổ thành sinh thái nhƣ sau:
P = 13,67 Kln + 10,38 Cn5c + 9,84 Lđ + 6,01 Mcll.
Có nhiều cây đạt hệ số tổ thành loài thấp, chỉ đạt 0,27% gồm các cây:
Mẫu đơn, Bời lời đắng, Nhựa ruồi (Bùi lá tròn), Bứa hải nam; đạt 0,21% gồm
các cây Thóc lép, Đỏ ngọn và Quếch hoa chùy.
3.3. Đa dạng về dạng sống
Để phân chia dạng sống, chúng tôi căn cứ vào dạng sống của cây trƣởng
thành. Vì đối tƣợng nghiên cứu là cây bụi, nên dạng sống chính của nhóm cây
này đều thuộc nhóm cây có chồi trên mặt đất (theo bảng phân loại của
Raunkieaer), do đó chúng dựa vào các tiêu chuẩn phân loại của cây gỗ rừng để
phân chia dạng sống. Theo đó, thành phần loài thực vật trong tầng cây bụi dƣới
tán rừng thứ sinh phục hồi tự nhiên tại trạm ĐDSH Mê Linh có các nhóm chính
với số lƣợng nhƣ sau:
- Cây gỗ lớn: Có 2 loài thuộc 2 họ 2 chi, chiếm 4,26% tống số loài, đó là
Quếch (Chisocheton paniculatus) thuộc họ Xoan (Meliaceae) và Chẹo
(Engelhardtia roxburghiana) thuộc họ Hồ đào (Juglandaceae).
20
- Cây gỗ trung bình: có 9 loài thuộc 8 họ, 8 chi, chiếm 19,15% tổng số
loài gồm: Giâu da xoan (Allospondias) thuộc họ Xoài (Anacardiaceae); Giền đỏ
(Xylopia vielana) thuộc họ Na (Annonaceae); Nhựa ruồi hay Bùi lá tròn (Ilex
rotunda) thuộc họ Trâm bùi (Aquifoliaceae); Trám chim (Canarium tonkinense
) thuộc họ Trám (Burseraceae); Thành ngạnh nam (Cratoxylum
cochinchinensis), Đỏ ngọn (Cratoxylum pruniflorum) thuộc họ Ban
(Hypericaceae), Thanh thất (Ailanthustriphysa) thuộc họ Thanh thất
(Simaroubaceae) và Bồ đề (Styraxtonkinensis) thuộc họ Bồ đề (Styracaceae).