Dùng ngôn ngữ Prolog viết chương trình tư vấn cho các loại đối tượng khác nhau (lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp, địa vị xã hội,...) trong các lĩnh vực khác nhau - Pdf 29

Báo cáo tiểu luận môn Công nghệ tri thức Khóa 11
MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU
LỜI MỞ ĐẦU2
2
PHẦN I
PHẦN I3
3
LÝ THUYẾT
LÝ THUYẾT3
3
I. TÌM HIỂU VỀ QUẢN TRỊ TRI THỨC
I. TÌM HIỂU VỀ QUẢN TRỊ TRI THỨC3
3
1. Tri thức và Quản lý tri thức ?
1. Tri thức và Quản lý tri thức ? 7
7
2. Xuất phát từ nhu cầu kinh tế
2. Xuất phát từ nhu cầu kinh tế8
8
3. Công nghệ và nhu cầu về một hệ thống quản trị tri thức
3. Công nghệ và nhu cầu về một hệ thống quản trị tri thức8
8
4. Cơ cấu tổ chức và nhu cầu về một hệ thống quản trị tri thức
4. Cơ cấu tổ chức và nhu cầu về một hệ thống quản trị tri thức9
9
III. VÀI ỨNG DỤNG CỦA QUẢN LÝ TRI THỨC
III. VÀI ỨNG DỤNG CỦA QUẢN LÝ TRI THỨC11
11
1. Quản lý nhân sự
1. Quản lý nhân sự
17
17
Dùng ngôn ngữ Prolog viết chương trình tư vấn cho các loại đối tượng khác nhau (lứa
Dùng ngôn ngữ Prolog viết chương trình tư vấn cho các loại đối tượng khác nhau (lứatuổi, giới tính, nghề nghiệp, địa vị xã hội, ) trong các lĩnh vực khác nhau.
tuổi, giới tính, nghề nghiệp, địa vị xã hội, ) trong các lĩnh vực khác nhau.17
17
2. Giới thiệu sơ lược về ngôn ngữ Prolog
2. Giới thiệu sơ lược về ngôn ngữ Prolog17
17
Cú pháp
Cú pháp17
17
Dữ kiện
Dữ kiện
đối tượng thông tin được xử lí là các tri thức trong một lĩnh vực chuyên môn nào đó
và quá trình xử lí bằng máy tính nhằm giải quyết những bài toán phức tạp thông
thường đòi hỏi một trình độ cao về trí tuệ chuyên gia trong lĩnh vực bằng các công cụ
toán học; phát triển các phương pháp lựa chọn và thu thập tri thức, các cơ chế lập
luận trên các thông tin tri thức và việc thực hiện các phương pháp đó trên máy tính.
đó. Những vấn đề trung tâm của CNTT là tìm các phương pháp biểu diễn tri thức
trong các chuyên ngành CNTT được phát triển mạnh trong những năm gần đây, là
một nội dung chủ yếu của tin học hiện đại. Một loại sản phẩm tiêu biểu của CNTT là
các hệ chuyên gia, đó là các hệ chương trình máy tính thực hiện một số chức năng
của chuyên gia trong các hoạt động trí tuệ. Đã có một số hệ chuyên gia được ứng
dụng trong thực tế như các hệ trợ giúp xác định công thức cấu trúc của các hợp chất
hữu cơ phức tạp, hệ chẩn đoán bệnh trong y tế, hệ trợ giúp xác định thành phần địa
chất, hệ trợ giúp quyết định trong quản lí kinh doanh, vv.
Quản lý tri thức, viết tắt là QLTT (Knowledge Management) dùng để chỉ những
công nghệ, kỹ thuật, hoặc những thông lệ xã hội nhằm thu thập và tổ chức "tri thức"
sao cho có thể áp dụng chúng vào một địa điểm và thời điểm phù hợp. Nói chung,
việc quản lý tri thức tập trung vào những ứng dụng phần mềm hoặc cơ sở dữ liệu mà
cho phép sử dụng cho mục đích thu thập thông tin.
Xin chân thành cảm ơn PGS.TS Phan Huy Khánh đã nhiệt tình giảng dạy, góp
ý để nhóm em hoàn thành tiểu luận này.
Nhóm sinh viên thực hiện:
1. Huỳnh Tấn Dựng
2. Phạm Khánh Thiện
Nhóm 21 Trang: 2/26
Báo cáo tiểu luận môn Công nghệ tri thức Khóa 11
PHẦN I
LÝ THUYẾT
I. TÌM HIỂU VỀ QUẢN TRỊ TRI THỨC
1. Tri thức và Quản lý tri thức ?
Theo định nghĩa thông thường, Tri thức (knowledge) là HIỂU và BIẾT. Trong

Báo cáo tiểu luận môn Công nghệ tri thức Khóa 11
(tri thức được tạo ra trong tổ chức thông qua những quan hệ xã hội). Các định nghĩa
về quản trị tri thức thể hiện nổi bật các đặc tính sau:
• Quản trị tri thức là một lĩnh vực có liên quan chặt chẽ với lý luận và thực tiễn,
và là một lĩnh vực mang tính đa ngành đa lĩnh vực.
• Quản trị tri thức không phải là công nghệ thông tin. Công nghệ thông tin chỉ là
yếu tố hỗ trợ, nhưng lại đóng vai trò rất quan trọng trong việc quản trị tri thức.
• Quản trị tri thức lấy yêu tố con người làm trọng tâm.
2. Tại sao tri thức lại quan trọng?
Khi tài nguyên thiên nhiên đã cạn kiệt, giá nhân công không còn rẻ mạt thì những
lợi thế thương mại khác phải được đánh giá đúng tầm của nó để mang lại những giá
trị mong đợi của tổ chức. Tỉ lệ giữa tài sản hữu hình và tài sản vô hình trong kỷ
nguyên công nghiệp là 75/25 nay đã chuyển thành 25/75 trong kỷ nguyên tri thức.
Các thước đo giá trị của một tổ chức hay doanh nghiệp cũng đã thay đổi theo hướng
đem lại lợi ích thoả mãn nhiều đối tượng liên quan khác nhau như cổ đông, nhân viên,
Nhà nước, nhà cung cấp, đối tác và cộng đồng.
3. Quản lý tri thức ra đời khi nào?
Thuật ngữ “tri thức” xuất hiện từ thời Plato và Aristote và được nghiên cứu nhiều
bởi các học giả hiện đại như Daniell Bell (1973), Peter Drucker (1993), Alvin Toffler
(1970, 1980), Macheal Polanyi (1958, 1967) và Ikujiro Nonaka (1991, 1995). Các học
giả này đã đưa ra những vấn đề xung quanh khái niệm tri thức, nguồn vốn hay tài sản
trí tuệ của doanh nghiệp. Các khái niệm dữ liệu, thông tin, tri thức và sự thông thái
của tổ chức cũng được hình thành và phát triển bởi các học giả trên. Tuy nhiên, khái
niệm “quản lý tri thức” lần đầu tiên được đề cập đến từ đầu những năm 80. Melissie
C. Rumizen, tác giả cuốn “The complete Idiot’s guide to Knowledge Management”,
cho rằng tiến sỹ Karl-Erik Sveiby, người Thuỵ Điển, là người đầu tiên đưa ra khái
niệm tài sản tri thức doanh nghiệp vào năm 1979 nhưng không được đón nhận. Một
báo cáo gần đây của Chính phủ Hoa Kỳ cho rằng tiến sỹ Karl M. Wiig (Viện nghiên
cứu tri thức - KRI) là người đầu tiên đưa ra khái niệm về quản lý tri thức trong một
bài phát biểu tại Tổ chức lao động quốc tế của Liên Hợp Quốc (ILO) vào năm 1986.

cầu thay đổi nơi làm việc của người lao động có trình độ và kỹ năng cao
tăng lên chính là nguy cơ suy giảm nguồn tri thức của tổ chức. Khi ra đi, họ
không chỉ làm giảm năng suất của tổ chức mà còn mang đi những tri thức
của mình, thậm chí cả tri thức của tổ chức
 Đa phần các công ty thành công là những công ty nắm bắt nhanh, kịp thời,
và xử lý chính xác các nguồn thông tin (thị trường, khách hàng, sản
phẩm…). Việc biến các thông tin đó thành tri thức của tổ chức chính là lợi
thế cạnh tranh mà không phải nhà quản lý nào cũng làm được.Quản lý tri
thức đạt hiệu quả, tổ chức hay doanh nghiệp sẽ đạt được những kết quả rõ
rệt như:
• Tăng Năng suất
• Thúc đẩy hoạt động đổi mới
• Cải thiện hiệu quả quản lý
Nhóm 21 Trang: 5/26
Báo cáo tiểu luận môn Công nghệ tri thức Khóa 11
• Nâng cao sự thoả mãn của Khách hàng
• Thu hút và khai thác nhân tài
• Khuyến khích học hỏi, chia sẻ
Nhóm 21 Trang: 6/26
Báo cáo tiểu luận môn Công nghệ tri thức Khóa 11
II. VAI TRÒ THỰC TIỄN CỦA QUẢN LÝ TRI THỨC
1. Xuất phát từ nhu cầu nhân sự
Từ khía cạnh nhân sự, những nhu cầu về việc tăng việc trao đổi, chia sẻ và sáng
tạo trong các nhóm hoạt động gồm nhiều lĩnh vực khác nhau là một trong những lý do
chính dẫn tới việc xây dựng quản trị tri thức. Bên cạnh đó, nhu cầu tăng khả năng xử
lý của nhân viên trong các tình huống phức tạp và lưu giữ những tri thức khi các
nhóm làm việc tan rã hay tái lập cũng khiến việc xây dựng hệ thống QTTT trở nên
cần thiết.
Thứ nhất, nhu cầu về việc đẩy mạnh trao đổi, chia sẻ và sáng tạo trong các
nhóm hoạt động ngày càng lớn hơn. Lí do là vì các công ty đang có xu hướng kết hợp

được cung cấp nhanh chóng, chính xác hơn. Nếu quản trị tri thức tốt, bạn hoàn toàn
có thể giải quyết được những vấn đề này.
2. Xuất phát từ nhu cầu kinh tế
Lý thuyết kinh tế cũ cho rằng mọi tài sản đều dễ bị giảm giá trị khi thu hồi, nhưng
điều này không đúng với tri thức. Những quy luật chi phối tri thức thì khác hẳn những
quy luật chi phối thế giới vật chất.
Ví dụ:
• Cùng một cái máy tính, khi người A đang sử dụng, những người khác không sử
dụng được nữa.
• Sau khi người A sử dụng và chuyển giao cho người khác, chất lượng máy tính
coi như bị hao mòn và giảm giá trị.
Nhưng với tri thức, khi một người đang dùng, những người khác cũng có thể sử
dụng được. Và tri thức càng sử dụng nhiều thì càng tăng giá trị. Các nhà kinh tế học
gọi đó là quy luật tăng lợi nhuận: càng sử dụng, càng cung cấp nhiều giá trị - từ đó tạo
ra một chu trình tự tăng cường. Tri thức là biến số duy nhất lý giải nguyên nhân có
một khoảng cách ngày càng lớn giữa giá trị thị trường và cơ sở tài sản của một công
ty thành đạt. Không như các tài nguyên có giới hạn như đất, vốn, và nhân công, tài
sản tri thức và trí tuệ là những nguồn tài khuyên không giới hạn có thể sinh ra nhiều
lợi nhuận qua hệ thống sử dụng và ứng dụng chúng. Tri thức rộng giúp bạn có cái
nhìn đa chiều về cùng một hiện tượng, một biến đổi bất thường trên thị trường. Từ đó
vừa có khả năng chống đỡ, vừa có lợi thế cạnh tranh so với đối thủ. Muốn có được
điều này, các doanh nghiệp bắt buộc phải không ngừng sáng tạo, sáng tạo không
ngừng nghỉ để bắt kịp với xu thế chung của thời đại. Cứ như thế tri thức ngày càng
gia tăng.
Quản trị tri thức mang đến cơ hội duy nhất biến tri thức thành hệ thống giúp tạo ra
lợi thế về thời gian giữ cho sự cạnh tranh được liên tục, tạo ra giá trị kinh tế và giá trị
thị trường không thể chối cãi được.
3. Công nghệ và nhu cầu về một hệ thống quản trị tri thức
Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin đã thay đổi hoàn toàn công việc.
Hiện nay chúng ta có thể thu thập và lưu trữ một khối lượng lớn thông tin dễ dàng,

những thay đổi về cơ cấu tổ chức này bắt buộc có một hệ thống quản trị tri thức hữu
hiệu.
Ví dụ với một dự án lớn đột nhiên gặp phải một vấn đề nan giải, sau một thời gian
tìm kiểm giải pháp, một thành viên trong dự án nhớ ra rằng trong một dự án trước kia,
vấn đề tương tự cũng đã nảy sinh và được giải quyết khá hiệu quả. Ở đây, đặt ra vấn
đề là làm sao áp dụng tốt nhất tri thức đã có để giải quyết vấn đề này.
Ngày nay, các công ty làm việc theo định hướng dự án. Mỗi thành viên được nhặt
ra từ các bộ phận chức năng khác nhau để tạo ra một đội duy nhất. Các đội sau khi
hoàn thành xong dự án thường chuyển lên một dự án khác cao hơn hoặc phân tán sang
Nhóm 21 Trang: 9/26
Báo cáo tiểu luận môn Công nghệ tri thức Khóa 11
các dự án khác. Các tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng thu được trong suốt quá trình phát
triển sản phẩm , dịch vụ lại không được chuyển đến các đội dự án phụ trách việc phát
triển các phiên bản sau trong quá trình tiến hoá dịch vụ sản phẩm đó . Ngoài ra với cơ
cấu tổ chức làm việc theo đội và dự án, các kỹ năng được phát triển trong quá trình
hợp tác thường sẽ bị mất đi khi đội đó tan rã và các tri thức qui trình mà đội thu được
sẽ không có điều kiện để sử dụng lại trong tương lai. Một hệ thống quản tri tri thức
trong trường hợp này sẽ giúp nắm bắt được các tri thức dự án, cho phép sử dụng lại
nó trong tương lai.
Toàn cầu hoá tạo ra một sân chơi phẳng, cạnh tranh hơn bao giờ hết. 20 năm trước
không ai có thể nghĩ Ấn Độ lại có thể trở thành sân sau của Mĩ với hàng loạt các “call
center” nằm rải rác khắp đất nước, cung cấp dịch vụ cho khách hàng trên toàn thế
giới, đặc biệt là các khách hàng từ Châu Âu và Mĩ. Ngày nay, Microsoft không nhất
thiết phải động tay vào tất cả các giai đoạn tạo ra một phần mềm. Họ có thể chuyển
phần việc gia công “ ít chất xám” sang các nước khác với mức lương chỉ bằng ½ mức
phải trả cho một lập trình viên tại Redmond. Cũng lúc đó, để sản xuất ra một chiếc
máy tính xách tay, Dell có một tập hợp hơn 40 nhà cung cấp – là những công ty,
xưởng, nhà máy trên toàn thế giới chuyên sản xuất linh kiện lắp ráp. Đó là lý do vì
sao cần quản trị tri thức.
Việc cạnh tranh ngày càng khốc liệt hơn khi các nước đang dần dần dỡ bỏ các qui

trở thành một nguồn lực kinh tế chủ yếu và là một nguồn lực thống trị - và có thể là
duy nhất - của lợi thế cạnh tranh. Những nhận xét của Drucker hoàn toàn phù hợp với
những dự báo của Alvin Tofler trong tác phầm nổi tiếng của ông về một xã hội tri
thức.”
Sự bùng nổ thông tin và tri thức với tốc độ chóng mặt hiện nay đã làm cho
những người lao động và các tổ chức khó khăn hơn trong việc giải quyết các vấn đề
của mình. Trong điều kiện bùng nổ của tri thức và thông tin, sự quá tải thông tin trở
thành một gánh nặng và vì thế để tìm được những thông tin cần thiết cho việc ra quyết
định hoặc gỉải quyết vấn đề là cực kỳ khó và là một quá trình tốn kém rất nhiều thời
gian và công sức cho tất cả mọi người hiện nay. Trong một cuộc hội thảo về quản lý
tri thức, Bill Gate(1999) đã nhận xét: “Những người công nhân trí thức cần chia sẻ
những hiểu biết của họ, và cần tiếp cận những thông tin đúng (cần thiết) vào đúng
thởi điểm. Và điều này là cực kỳ khó hiện nay” (Trích từ VNU Business Media). Để
giúp cho các tổ chức và cá nhân xử lý và giải quyết tốt các vấn đề của mình cũng như
để nâng cao hiệu quả của các quyết định nói chung, với sự phát triển của công nghệ
thông tin, từ đầu những năm 1990 trở lại đây, các công ty trên thế giới và các nhà
nghiên cứu đã áp dụng và tiếp cận một xu hướng mới trong phát triển doanh nghiệp
và các tổ chức đó là: Quản lý tri thức (Knowledge Management).
Việc sớm và kiên trì ứng dụng quản lý tri thức vào quản lý và họat động của
doanh nghiệp dù dù trong một thời gian ngắn ngủi đã mang lại những kết quả khích
lệ. Cuộc khảo sát của Reuters vào năm 2001 chỉ ra rằng 90% các công ty triển khai
Nhóm 21 Trang: 11/26
Báo cáo tiểu luận môn Công nghệ tri thức Khóa 11
các giải pháp quản lý tri thức đă có những quyết định tốt hơn, và 81% công ty cho
rằng họ nhận thấy sự gia tăng năng suất một cách rõ rệt (Malhotra, 2001).
Vào đầu những năm 80, tiến sỹ Eric Sveiby - một học giả người Thụỵ Điển - đã
gửi tới tạp chí Kinh Doanh thuộc đại học Harvard của Mỹ (Harvard Business Review)
một bài viết về tài sản tri thức doanh nghiệp. Ban biên tập tạp chí lịch sự từ chối đăng
bài của ông vì lý do “không phù hợp với các doanh nghiệp Mỹ”. Hơn 10 năm sau,
chính người Mỹ lại nói nhiều nhất đến tài sản tri thức và quản lý tri thức trong doanh

người duy nhất.
Các nhân viên điều hành cấp cao trong công ty cần phải có niềm tin vào việc
chia sẻ thông tin, kể cả khi có những lỗ lực lớn trong việc chia sẻ thông tin bị thất bại.
Các nhà lãnh đạo phải cho nhân viên thấy rằng họ không tự giam mình trong trong
Nhóm 21 Trang: 12/26
Báo cáo tiểu luận môn Công nghệ tri thức Khóa 11
tháp ngà, tách rời khỏi mọi người mà là sẵn sàng tham gia vào mọi công việc chia sẻ
tri thức của nhân viên. VD như Jacques Nasser, chủ tịch hãng xe hơi Ford vào mỗi
ngày thứ sáu đều gửi Mail cho 89.000 nhân viên của hãng trên toàn thế giới, thông tin
cho mọi người dù tốt hay xấu xảy ra trong công ty.
Khi tạo được một không khí động viên sự hợp tác chia sẻ tri thức, các nhà lãnh
đạo doanh nghiệp cần phải thiết lập các dự án chia sẻ tri thức trong toàn công ty để
làm cho viêc chia sẻ thông tin trở thành một phần trong công việc. Sức mạnh không
chỉ đến từ tri thức tích luỹ mà phải từ tri thức chia sẻ. Giá trị và hệ thống khen thưởng
của một công ty phải phản ánh được tư tưởng này.
Quản trị tri thức sẽ hỗ trợ cho công ty trong bốn lĩnh vực chính: hoạch định,
dịch vụ khách hàng, huấn luyện và hợp tác dự án. Nếu các nhà lãnh đạo chưa từng
thực hiện công tác quản trị tri thức tại công ty, hãy xem xét lại một trong hai lĩnh vực
nào đó để tiến hành các dự án quản trị tri thức. Các nhà lãnh đạo có thể dùng thành
công của những dự án này để khuyến khích các dự án quản trị tri thức trong các lĩnh
vực kinh doanh khác. “Trong một vài năm tới, tất cả các công ty hàng đầu sẽ có khả
năng chia sẻ tri thức tương tự như những gì Microsoft đã thực hiện” – Bill Gates
2. Quản lý tri thức ở các doanh nghiệp
Sự quan tâm đến công tác quản lý tri thức đã tăng lên cùng với sự tiến bộ của
các công nghệ tạo điều kiện thuận lợi cho việc chia sẻ tri thức một cách hiệu quả. Tuy
nhiên, lịch sử đã nhắc nhở rằng mọi người vẫn có khả năng truyền đạt tri thức cho
nhau mà không hề được trang bị những công nghệ như hiện nay. Các thợ thủ công đã
truyền nghề bằng những phương pháp đã tồn tại được qua rất nhiều thế kỷ. Nhiều thứ
trong cuộc sống của chúng ta hiện nay có được là nhờ vào thành quả của những việc
làm như vậy. Việc truyền nghề và dạy việc được thực hiện theo những nhóm ít người,

đồ, phim ảnh, CSDL v.v ). Khi đó, tri thức sẽ trở thành thông tin. Theo định nghĩa
này, các cán bộ thông tin chủ yếu có quan hệ với thông tin (những bản ghi chép về tri
thức), chứ không phải với bản thân tri thức, còn các nhà quản lý và điều hành của tổ
chức thì lại có quan hệ với tri thức.
Việc quản lý tri thức hiện nay, được đề cập rất nhiều trong công trình của
Nonaka và Takeuchi (1995), trong đó đều nhận định về sự khác nhau giữa thông tin
và tri thức đã làm nảy sinh một số vấn đề then chốt. Chúng chủ yếu liên quan tới quá
trình mọi người tạo ra và chia sẻ tri thức, đem lại những khái niệm như: Một ý tưởng
sẽ có giá trị và hiệu quả chỉ khi nào mọi người có thể biết được điều họ biết; hay ý
thức được rằng, khi ai đó rời khỏi tổ chức thì tổ chức đó để mất đi những tri thức ẩn
chứa của người đó; hoặc sự cần thiết của sự chia sẻ thông tin và tri thức giữa các cán
bộ công nhân viên trong tổ chức nếu muốn tạo ra tri thức mới.
Với những vướng mắc như vậy, phần lớn những tài liệu gần đây về QLTT đều
chú trọng đến việc ghi chép, truy cập và chia sẻ loại tri thức vô hình, chứ không chú ý
lắm đến các phương pháp quản lý những thông tin và tri thức đã được ghi chép.
McShane và Glinow (1999) đã đề xuất một số phương pháp để tiếp nhận, chia sẻ và
sử dụng tri thức, tuy nhiên chúng không được phản ánh vào trong thực tiễn QLTT. Tri
thức là một thứ khó nắm bắt và tổ chức vì nó dựa vào kinh nghiệm và đặc thù với mỗi
hoàn cảnh một. Bởi vậy, không có gì ngạc nhiên là hầu hết các nỗ lực để nắm bắt và
tổ chức tri thức đều sử dụng các phương pháp mà sẽ dùng máy tính để lưu trữ tri thức.
Do đó, phần lớn hệ thống mà được mệnh danh là quản lý tri thức hiện nay đã đều
nhắm vào các biện pháp để ghi, đánh chỉ số và phân phối tốt hơn các tư liệu và nguồn
tin hiện có của tổ chức. Quan niệm cho rằng cần phải có công nghệ máy tính để quản
lý tri thức đã chiếm lĩnh toàn bộ công việc này. Theo Gartner (2000), việc đó đã hạ
thấp công tác QLTT thành ra một thứ mốt nhất thời về công nghệ thông tin.
Vấn đề Quản lý tri thức ở những tổ chức nhỏ
Nhóm 21 Trang: 14/26
Báo cáo tiểu luận môn Công nghệ tri thức Khóa 11
Trong khi những tài liệu hiện nay đều cung cấp kiến thức về các chiến lược
QLTT ở các tổ chức lớn thì hầu như chưa có tài liệu nào đề cập đến công tác này ở

đầu” nhằm bắt kịp nhịp phát triển với Thư viện điện tử là một loại hình phục vụ cho
thư viện truyền thống, bao gồm việc phục vụ thông tin điện tử được đọc với sự hỗ trợ
của máy tính. Thư viện số - Digital Library, Thư viện số bao gồm những cơ sở dữ liệu
mở với siêu dữ liệu – metadata chứa những kết nối và mối quan hệ với những dữ liệu
và siêu dữ liệu khác chứa trong hay ngoài thư viện. Thư viện số là hình thức liên
thông giữa các thư viện điện tử được xây dựng theo những tiêu chí:
• Số hóa từng phần các cơ sở dữ liệu
Nhóm 21 Trang: 15/26
Báo cáo tiểu luận môn Công nghệ tri thức Khóa 11
• Cung cấp cơ sở tri thức chuyên ngành
• Xây dựng kho tài nguyên học tập
• Khai thác qua cổng thông tin – Portals
• Chuẩn hóa việc truy cập và trao đổi thông tin
Thư viện ảo – Virtual Library, thư viện ảo tổ chức một phương cách tra cứu tài
liệu đồng nhất trên các CSDL thật của các thư viện thành viên trong một consortium
bằng cách xây dựng một CSDL ảo.
Tài nguyên điện tử - Electronic Resources, Tài nguyên điện tử bao gồm: tài
nguyên điện tử miễn phí trên Internet, CD-ROM và CSDL CD-ROM, tạp chí điện tử,
CSDL trực tuyến, sách điện tử, vv…
Nhóm 21 Trang: 16/26
Báo cáo tiểu luận môn Công nghệ tri thức Khóa 11
PHẦN II
BÀI TẬP
1. Yêu cầu bài toán
Dùng ngôn ngữ Prolog viết chương trình tư vấn cho các loại đối tượng khác
nhau (lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp, địa vị xã hội, ) trong các lĩnh vực khác nhau.
2. Giới thiệu sơ lược về ngôn ngữ Prolog
Prolog là một ngôn ngữ lập trình. Tên gọi Prolog được xuất phát từ cụm từ
tiếng Pháp Programmation en logique, nghĩa là "lập trình theo lô gích". Xuất hiện từ
năm 1972 (do Alain Colmerauer và Robert Kowalski thiết kế), mục tiêu của Prolog là

Luật
Phần còn lại của các mệnh đề trong một chương trình Prolog được gọi là luật.
Nó thường thể hiện những phát biểu logic trong bài toán, ví dụ như nếu công tác đèn
bật thì đàn sáng:
đèn_sáng(X) :- công_tắc_bật(X).
Toán tử ":-" được dịch thô là "nếu", trong logic thì nó đại diện cho toán tử suy
ra "<-". Phát biểu trên được phát biểu dưới dạng văn xuôi là "Nếu công tắc của đèn X
bật thì đèn X sẽ sáng". Tất nhiên, bạn có thể chưa thoả mãn với phát biểu này và bổ
xung vào nó để có một phát biểu chặt chẽ hơn:
đèn_sáng(X) :- công_tắc_bật(X), có_điện.
Dấu phẩy "," trong mệnh đề trên được dịch là toán tử "và"; biến trong Prolog
được quy ước bắt đầu là một chữ cái hoa.
Ngữ nghĩa
Một chương trình logic có ngữ nghĩa của riêng nó. Ngữ nghĩa quyết định những
kết luận "đúng" nào có thể rút ra được từ một chương trình Prolog. Ví dụ một chương
trình Prolog gồm một dữ kiện:
mèo(tôm).
Khi đó, ta có thể rút ra duy nhất một dữ kiện đúng là "tôm là một con mèo".
Trong một ứng dụng Prolog, bạn có thể hỏi một trong hai câu hỏi sau để có được trả
lời đúng:
?- mèo(tôm).
yes.

?- mèo(X).
X = tôm;
no.
Trong ví dụ trên, "no" có nghĩa là không còn câu trả lời nào nữa. Mọi câu hỏi
khác đều cho trả lời là sai. Điều này có nghĩa là trong một chương trình Prolog, người
ta sử dụng giả thiết thế giới đóng, mọi thứ bạn khai báo là đúng, nếu không thì nó là
sai. Vì vậy trong ví dụ trên, khi bạn hỏi "mitu có phải là một con mèo hay không",

% Luật tư vấn cho người X ở độ tuổi 13 đến 18 và giới tính là Nữ.
tuvan5(X,Y):-
nguoi(X), tuoi(X,Y), (Y>17), (Y<22), gioitinh(X,'Nam'),
nl, !, write_ln('Hua mua cho xe de di hoc.').
% Luật tư vấn cho người X ở độ tuổi 18 đến 22 với giới tính là Nam.
tuvan6(X,Y):-
nguoi(X), tuoi(X,Y), (Y>17), (Y<22), gioitinh(X,'Nu'),
nl, !, write_ln('Hua se mua cho xe may di hoc va mua MTXT').
Nhóm 21 Trang: 19/26
Báo cáo tiểu luận môn Công nghệ tri thức Khóa 11
% Luật tư vấn cho người ở độ tuổi 18 đến 22 với giới tính là Nữ.
tuvan7(X,Y):-
nguoi(X), tuoi(X,Y), (Y>21), Y<30, gioitinh(X,'Nam'), nghenghiep(X,'LDTO'),
nl, !, write_ln('Trao cac giai thuong khich le tinh that,cup, bang khen').
% Luật tư vấn cho người ở độ tuổi 22 đến 30 với giới tính là Nam và nghề nghiệp
là lao động trí óc.
tuvan8(X,Y):-
nguoi(X), tuoi(X,Y), (Y>21), (Y<30), gioitinh(X,'Nu'), nghenghiep(X,'LDTO'),
nl, !, write_ln('Trao cac cup, bang khen').
% Luật tư vấn cho người ở độ tuổi 22 đến 30 với giới tính là Nữ và nghề nghiệp :
lao động trí óc.
tuvan9(X,Y):-
nguoi(X), tuoi(X,Y), (Y>21), Y<30, gioitinh(X,'Nam'), nghenghiep(X,'LDCT'),
nl, !, write_ln('Thuong tien mat hoac hien vat').
% Luật tư vấn cho người ở lứa tuổi 22 đến 30 với giới tính là Nam và nghề
nghiệp là lao động chân tay.
tuvan10(X,Y):-
nguoi(X), tuoi(X,Y), (Y>21), (Y<30), gioitinh(X,'Nu'), nghenghiep(X,'LDCT'),
nl, !, write_ln('Thuong tien va hien vat').
% Luật tư vấn cho người ở lứa tuổi 22 đến 30 với giới tính là nữ và nghề nghiệp :

% Luật tư vấn cho người ở độ tuổi 45 đến 54 với giới tính Nữ, nghề nghiệp lao
động trí óc và địa vị xã hội cao.
tuvan16(X,Y):-
nguoi(X), tuoi(X,Y), (Y>44), (Y<55), gioitinh(X,'Nam'),
nghenghiep(X,'LDTO'), diavixahoi(X,'Cao'),
nl, !, write_ln('Thang tien trong su nghiep.').
% Luật tư vấn cho người ở độ tuổi 45 đến 54 với giới tính Nam, nghề nghiệp
lao động trí óc và địa vị xã hội Cao.
tuvan17(X,Y):-
nguoi(X), tuoi(X,Y), Y>54, gioitinh(X,'Nu'), nghenghiep(X,'LDTO'),
diavixahoi(X,'Trungbinh'),
nl, !, write_ln('Duoc nghi ngoi va di du lich').
% Luật tư vấn cho người ở độ tuổi lớn hơn 55 với giới tính Nữ, nghề nghiệp lao
động trí óc và địa vị xã hội trung bình.
Nhóm 21 Trang: 21/26
Báo cáo tiểu luận môn Công nghệ tri thức Khóa 11
tuvan18(X,Y):-
nguoi(X), tuoi(X,Y), Y>54, gioitinh(X,'Nam'), nghenghiep(X,'LDTO'),
diavixahoi(X,'Trungbinh'),
nl, !, write_ln('Duoc tiep tuc cong hien cho su nghiep khoa hoc').
% Luật tư vấn cho người ở độ tuổi hơn 54 với giới tính Nam, nghề nghiệp lao
động trí óc và địa vị xã hội trung bình.
tuvan19(X,Y):-
nguoi(X), tuoi(X,Y), Y>54, gioitinh(X,'Nu'), nghenghiep(X,'LDCT'),
nl, !, write_ln('Duoc huong luong cao va duoc nghi ngoi').
% Luật tư vấn cho người ở độ tuổi >54 với giới tính Nam, nghề nghiệp lao động
chân tay.
tuvan20(X,Y):-
nguoi(X), tuoi(X,Y), Y>54, gioitinh(X,'Nam'), nghenghiep(X,'LDCT'),
nl, !, write_ln('Duoc nghi ngoi va duoc di day di do.').

với khả năng tính toán khoa học ký thuật không ngừng được nâng cao, các hệ thống
máy tính đã được ứng dụng để tổ chức nhiều cơ sở dữ liệu thuộc mọi qui mô trong
các ngành kinh tế, xã hội, hình thành dần kết cấu hạ tầng thông tin quốc gia, nền
móng của sự phát triển kinh tế thông tin ở nhiều nước. Sự phong phú về thông tin, dữ
liệu cùng với khả năng kịp thời khai thác chúng đã mang đến những năng suất và
chất lượng mới cho công tác quản lý, hoạt động kinh doanh, phát triển sản xuất và
dịch vụ…
Do là công cụ quản lý, hệ QTTT đòi hỏi phải có công nghệ và nhà tư vấn để
khuyến cáo về cách thức thực hiện đối với việc kiểm soát, phân ích và lập lưu đồ đối
với tri thức.
Nhóm 21 Trang: 25/26


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status