Tìm hiểu văn trên tri tân tạp chí - Pdf 29

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ PHƯƠNG LAN
TÌM HIỂU VĂN TRÊN TRI TÂN TẠP CHÍ Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 62.22.34.01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS. TS Lại Văn Hùng
2. TS Phạm Thị Thu Hương
HÀ NỘI - 2014
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết
quả trong luận án là trung thực, được nghiên cứu từ thực tế và chưa từng được ai
công bố trong bất kỳ công trình nào.

PHẦN MỞ ĐẦU 1
PHẦN NỘI DUNG 8
Chương 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VĂN TRÊN TRI TÂN TẠP CHÍ 8
1.1. Tri tân trong những công trình nghiên cứu về báo, tạp chí nửa đầu thế kỷ XX.8
1.2. Tạp chí Tri tân trong những công trình nghiên cứu về văn học 14
1.3. Những công trình sưu tầm, giới thiệu về tạp chí Tri tân 18
1.3.1. Công trình nghiên cứu tổng quan về tạp chí Tri tân 18
1.3.2. Công trình nghiên cứu về các tác gia 19
1.3.3. Công trình nghiên cứu về các thể loại 21
1.3.4. Công trình số hóa văn bản Tri tân 22
Chương 2. TRI TÂN TẠP CHÍ TRONG SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
CỦA BÁO CHÍ VIỆT NAM NHỮNG NĂM 1940-1945 26
2.1. Đặc điểm của báo chí Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến 1941 26
2.1.1. Lịch trình của báo chí Việt Nam qua các giai đoạn hình thành và phát
triển 26
2.1.2. Về sự xuất hiện của ba nhóm văn phái nổi bật. 35
2.2. Tiền đề cho sự ra đời của tạp chí Tri tân 39
2.2.1. Tiền đề về chính trị, xã hội và văn hóa, tư tưởng 39
2.2.2. Về đặc điểm của văn học những năm 1940-1945 46
2.3. Sự ra đời và diện mạo của tạp chí Tri tân 50
2.3.1. Sự ra đời của tạp chí Tri tân 50
2.3.2. Diện mạo của tạp chí Tri tân 53
2.3.3. Lí giải về sự sinh tồn, đình bản của Tri tân tạp chí 64
2.4. Kết luận chương 2 66
Chương 3. VĂN SÁNG TÁC TRÊN TRI TÂN TẠP CHÍ 67
3.1. Văn xuôi trên Tri tân tạp chí 67
3.1.1. Truyện và Ký 67
3.1.2. Tiểu thuyết lịch sử 81
3.2. Kịch trên Tri tân tạp chí 94
3.2.1. Quá trình kế thừa và tiếp biến của thể loại kịch ở Việt Nam 94

1. Lý do chọn đề tài
1.1. Báo chí Việt Nam ra đời vào cuối thế kỷ XIX và thật sự phát triển vào
khoảng giữa thế kỷ XX. Sự xuất hiện của báo và tạp chí không chỉ phản ánh thực trạng
xã hội nước ta trong thời kỳ bị áp đặt, cưỡng chế bởi văn minh phương Tây mà còn là:
“Sự phản ánh của lịch sử văn hóa ngôn ngữ (chữ quốc ngữ), văn học, nghề in…” [79,
7]. Dưới ách cai trị của thực dân, dù bị kiểm soát chặt chẽ, song báo chí Việt Nam vẫn
tìm được nguồn sống riêng và gắn chặt với đời sống văn hóa tư tưởng của dân tộc.
Ngoài việc chuyển tải những nội dung thông tin về thời sự, chính trị, khoa học, giáo
dục, báo chí còn thể hiện mục đích văn chương rõ rệt.
1.2. Một trong những yếu tố thúc đẩy quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam
nửa đầu thế kỷ XX diễn ra khẩn trương, dồn dập, mau lẹ không thể không kể đến sự
hình thành và xuất hiện của các nhóm phái văn học. Việc các tác giả tập trung quanh
một tờ báo hoặc một nhà xuất bản có ý nghĩa quan trọng: Vừa định hướng người viết
theo một tôn chỉ mục đích rõ ràng, vừa quy tụ các tác giả trong một khuynh hướng,
trường phái và thúc đẩy phong trào sáng tác văn học thêm phong phú, đa dạng. Điều
này cũng chứng tỏ, người cầm bút ngày càng có ý thức sâu sắc về vai trò, giá trị và sứ
mệnh của mình.
1.3. Tri tân (1941-1946) là một tạp chí văn hóa lớn, có vai trò quan trọng trong
đời sống báo chí và văn học Việt Nam những năm 40 của thế kỷ XX. So với nhiều tờ
báo, tạp chí xuất hiện ở nửa đầu thế kỷ XX thì Tri tân tạp chí tuy chỉ tồn tại trong thời
gian 5 năm (từ ngày 3/6/1941 đến ngày 16/7/1946) nhưng với 214 số ra đều đặn hàng
tuần thì tự thân nó đã xác lập được vai trò vị trí của mình.
Là loại tạp chí chuyên về khảo cứu nhưng thực chất Tri tân lại mang đặc điểm
của loại hình báo chí tổng hợp. Có thể tìm thấy trên tờ tuần báo này tri thức của nhiều
ngành, nhiều lĩnh vực: Lịch sử, địa lý, văn hóa, chính trị, khoa học, kỹ thuật, tôn giáo,
mỹ thuật, văn học… Riêng mảng văn học phải kể đến sự phong phú của nhiều thể loại:
Tiểu thuyết, truyện ngắn, ký, thơ ca, kịch, nghiên cứu, phê bình, dịch thuật… Mỗi thể
loại được Tri tân đón nhận và giới thiệu đều nhằm hướng tới chủ đích riêng của tờ báo
với mệnh đề thống lĩnh: Ôn cố tri tân (ôn cũ, biết mới). Thực tế, các tác phẩm được
Tri tân lựa chọn đăng tải lại chủ yếu nghiêng về khuynh hướng ôn cố. Đồng thời,

tải gần 500 sáng tác văn học mới với những thể loại làm nên đặc trưng chỉ có ở Tri
tân: Ký khảo cứu, tiểu thuyết lịch sử, kịch thơ lịch sử…
Một số lượng văn chương đáng kể và có sắc thái riêng biệt như vậy thiết nghĩ cần
được nhìn nhận và đánh giá đích đáng để không những khẳng định vai trò, vị trí của tờ
tạp chí này trong đời sống báo chí và văn học nửa đầu thế kỷ XX mà còn góp phần
nhìn nhận đầy đủ hơn quá trình vận động của nền văn chương hiện đại trong tiến trình
văn học dân tộc.
Vì vậy, khi nghiên cứu văn học hiện đại Việt Nam không thể không xác định vai
trò của báo chí như “một động lực văn học”, bởi: “Từ Tri tân cũng có thể hình dung
được vai trò của báo chí đối với văn học đầu thế kỷ”

[158, 9].

3

1.5. Tìm hiểu bộ phận văn học trên báo chí nửa đầu thế kỷ XX là vấn đề thực sự
cần thiết và có ý nghĩa đối với việc nghiên cứu văn học sử bởi nó mở ra nhiều hướng
tiếp cận trong quá trình khôi phục, nhìn nhận và đánh giá lại một cách nghiêm túc
những giá trị văn hóa, văn học quá khứ. Đề tài luận án đi vào khái quát một cách có hệ
thống về diện mạo và chỉ ra những đặc điểm cơ bản của các thể văn trên Tri tân tạp
chí. Nói cách khác, luận án đi vào tìm hiểu quá trình hình thành, sự vận động của các
thể loại văn học những năm 40 của thế kỷ XX được Tri tân đón nhận và giới thiệu có
đóng góp như thế nào đối với nền văn học hiện đại Việt Nam.
Luận án luôn đặt đối tượng nghiên cứu trong sự so sánh, đối chiếu với các báo,
tạp chí xuất hiện trước và cùng thời với Tri tân để lí giải về sự vận động của các thể
loại văn học Việt Nam. Từ đó xác định vai trò tiên phong của báo chí trong quá trình
hiện đại hóa nền văn học dân tộc, đồng thời mở ra một hướng tiếp cận có nhiều triển
vọng: Nghiên cứu văn học hiện đại Việt Nam trong môi trường báo chí. Đó cũng là
yêu cầu thực tiễn và cấp thiết mà chuyên ngành nghiên cứu văn học sử đặt ra.
2. Đối tượng, mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Luận án đi vào khái quát một cách hệ thống về diện mạo của bộ phận văn học trên Tri
tân tạp chí. Từ đó, tìm hiểu đặc điểm về nội dung và hình thức của các thể loại Văn trên
Tri tân.
Đồng thời, xác định vai trò, vị trí, sự đóng góp cũng như mặt hạn chế của Văn
trên Tri tân và lí giải sự hình thành, suy vong của các thể loại văn học Việt Nam
những năm 40 của thế kỷ XX.
Luận án khẳng định mối quan hệ mật thiết giữa báo chí và văn học trong quá
trình hiện đại hóa văn học và vai trò của tạp chí Tri tân đối với đời sống báo chí, văn
chương, học thuật nửa đầu thế kỷ XX cũng như nội lực của nền văn học dân tộc.
2.3. Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để hoàn thành mục đích nghiên cứu, luận án sẽ tiến hành giải quyết các nhiệm
vụ cơ bản sau:
Khảo sát, thống kê một cách chi tiết cụ thể về mảng văn qua hơn 5000 trang văn
bản Tri tân.
Trên kết quả khảo sát, luận án sẽ phân tích lí giải nguyên nhân xuất hiện, quá
trình hình thành, hưng thịnh và suy vong của các thể Văn trên Tri tân. Từ đó, khái quát
sự vận động của các thể văn trên Tri tân trong sự so sánh đối chiếu với văn trên các
báo, tạp chí trước và cùng thời với Tri tân.
Định vị vai trò của mảng Văn trên Tri tân nói riêng và tạp chí Tri tân trong đời
sống báo chí và văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX.
3. Giới thuyết khái niệm Văn
Trong quá trình tiếp cận Tri tân, chúng tôi nhận thấy: Đặc điểm riêng của tờ tạp
chí này là chất khảo luận văn học nổi lên như một điểm nhấn làm cho khuôn diện của
tạp chí Tri tân không lẫn, không nhòa vào bất cứ một khuôn diện nào khác. Là một tạp
chí văn hóa, Tri tân là địa hạt thuận lợi cho các nhà văn, nhà nghiên cứu thể nghiệm.
Tạp chí dành sự ưu ái cho các bài khảo cứu về văn hóa, văn học, lịch sử dài kỳ; các bài

5

nghiên cứu, nhất là các bài phê bình tác phẩm mới; tiểu thuyết lịch sử; các bài ký khảo

theo tiêu chí nguồn gốc, đề tài, thể loại.

6

4. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện nhiệm vụ mà đề tài đặt ra, luận án sử dụng phối hợp các phương
pháp nghiên cứu và các thao tác sau:
4.1. Phương pháp nghiên cứu văn học sử
Đây là phương pháp chủ đạo xuyên suốt quá trình nghiên cứu của luận án. Sử
dụng phương pháp nghiên cứu này, người viết đặt Tri tân trong bối cảnh lịch sử sinh
thành, tồn tại, tiếp diễn của tạp chí trong lịch sử báo chí và văn học nửa đầu thế kỷ XX
(nhất là những năm 40). Vận dụng phương pháp này chúng tôi phục dựng diện mạo
phần văn trên Tri tân một cách có hệ thống. Từ đó, luận án phân tích đánh giá về vai
trò, vị trí của tác giả, tác phẩm, đặc biệt về các thể loại loại văn học trên tạp chí Tri tân.
4.2. Phương pháp so sánh
Đây cũng là một phương pháp nghiên cứu quan trọng. Đối chiếu đồng đại và lịch
đại với một số báo và tạp chí trước hoặc cùng thời với Tri tân để từ đó, nhìn nhận đối
tượng như một bộ phận trong tính chỉnh thể cũng như quá trình vận động liên tục của nó.
4.3. Phương pháp tích hợp - liên ngành
Luận án sử dụng phương pháp này với mục đích nhìn nhận đối tượng trong mối
liên hệ giữa văn học với lịch sử, chính trị, văn hóa, triết học, báo chí… nhằm xem xét
đối tượng một cách đa chiều, soi chiếu trên nhiều phương diện khác nhau
4.4. Thao tác thống kê - phân loại:
Thao tác này là cơ sở, giúp người nghiên cứu có những đánh giá, nhìn nhận chính
xác và khách quan từ những số liệu thống kê, phân loại cụ thể về các thể loại, tiểu loại
văn học trên Tri tân.
4.5. Thao tác phân tích - tổng hợp
Thao tác này được vận dụng một cách thường xuyên trong quá trình nghiên cứu.
Phân tích tác phẩm, sự hình thành, phát triển, thoái trào của các thể loại văn học sẽ làm
cơ sở cho việc tổng hợp thành những vấn đề cần đạt được trong quá trình thực hiện đề


PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VĂN TRÊN TRI TÂN TẠP CHÍ
Tri tân là một tạp chí ra đời và phát triển trong một bối cảnh đặc biệt. Tình hình
chính trị trên thế giới diễn ra những biến động dữ dội, chứa đựng các mâu thuẫn chồng
chéo, phức tạp. Thế chiến lần thứ hai bùng nổ cùng với sự bành trướng của chủ nghĩa
phát xít… đã tạo nên tâm lý hoang mang, bất ổn trong nhân loại, nhất là đối với các
dân tộc thuộc địa.
Ở trong nước, những năm 40 của thế kỷ XX, không khí chính trị cũng bức bối,
căng thẳng; tình hình văn hóa, tư tưởng thì bộn bề, đa tạp; đời sống báo chí và văn học
bị kiểm soát ngặt nghèo Trước tất cả khó khăn, thách thức ấy, Tri tân tạp chí vẫn
vượt qua và đứng vững để hoàn thành sứ mệnh: “Xây dựng một nền văn hóa chân
chính cho nước nhà” (Lời Phi lộ).
Theo dõi lịch trình nghiên cứu về Tri tân tạp chí và những vấn đề có liên quan
đến việc tìm hiểu, nghiên cứu về bộ phận văn học trên tạp chí Tri tân từ trước tới nay,
chúng tôi tập hợp, tiếp nhận và đánh giá thành tựu của những công trình đi trước trên
ba phương diện:
Thứ nhất, đặt Tri tân tạp chí trong những công trình nghiên cứu về báo và tạp
chí nửa đầu thế kỷ XX, luận án xác định vai trò của báo chí nói chung và tạp chí Tri
tân nói riêng đối với lịch sử báo chí và nền văn chương hiện đại.
Thứ hai, đặt Tri tân tạp chí trong những công trình nghiên cứu về văn học, luận án
nhấn mạnh đến mối quan hệ gắn bó, tương tác không thể tác rời giữa báo chí và văn học.
Thứ ba, từ những công trình trực tiếp nghiên cứu, sưu tầm, biên soạn về Tri tân
tạp chí, chúng tôi phân tích, đánh giá những vấn đề có liên quan mật thiết đến đề tài,
những vấn đề còn tồn tại. Từ đó, luận án nêu lên vấn đề mà đề tài sẽ tập trung nghiên
cứu và giải quyết.
1.1. Tri tân trong những công trình nghiên cứu về báo, tạp chí nửa đầu thế kỷ XX.
Không phải là một hiện tượng đột hiện trong văn học Việt Nam, có thể khẳng
định, tạp chí Tri tân ra đời do nhu cầu bức thiết của lịch sử văn học và lịch sử dân tộc.

nền văn học chữ Quốc ngữ cùng với những tư tưởng, những học thuyết Tây phương
(…). Tuy nhiên trên thực tế, những nhà trí thức Việt Nam lúc bấy giờ đã biết lợi dụng
chính sách tuyên truyền văn hóa của người Pháp để phục vụ và làm cho hoàn hảo nền
văn học nước nhà còn ở trong tình trạng phôi thai” [188, 119].
Mặc dù Nam Kỳ được coi là cái nôi đầu tiên của báo chí và chữ Quốc ngữ,
nhưng Bắc Kỳ lại là địa hạt để báo chí trưởng thành, lớn mạnh đồng thời cũng là mảnh
đất màu mỡ ươm mầm cho nền văn chương hiện đại Việt Nam. Hầu hết báo chí miền
Bắc giai đoạn trước năm 1930: “Chỉ chú trọng vào vấn đề văn chương, khảo cứu lịch

10

sử, nhờ đó góp phần tích cực vào văn học” [188, 184]. Đến giai đoạn sau (1940-1945),
có thể thấy mảng văn chương hoài cổ là đặc thù của báo chí miền Bắc. Bởi so với
Nam Kỳ, chính quyền thực dân đã áp đặt một quy chế chính trị chặt chẽ, thu hẹp
quyền tự do của nhà văn, nhà báo ở Bắc Kỳ. Cho nên, ký giả miền Bắc không được
phát biểu ý kiến cởi mở như ở Nam Kỳ, họ chỉ còn một cách quay về với các di sản
tinh thần trong quá khứ qua việc tìm kiếm, thu lượm, sưu tầm, giới thiệu các bài văn
cổ. Đây là một điểm khả thủ để lí giải vì sao, trong sự tăng tốc của báo chí và văn học
hiện đại, lại định vị một dòng riêng luôn tìm về văn hóa, văn học quá khứ. Đồng thời,
việc tìm nguồn ấy cũng chính là vùng đất sống cho các tờ báo, tạp chí sinh tồn trong
thời điểm chính trị nhạy cảm như Nam phong, Thanh nghị, Tri tân…
Tiếp thu ý kiến của ông Huỳnh Văn Tòng, tác giả Đỗ Quang Hưng thêm một lần
nữa khẳng định về mối quan hệ mật thiết giữa báo chí với văn học, nhà báo với nhà văn:
Trong cuốn Nhập môn văn học Việt Nam, M. Durand và Nguyễn Trần Huân đã
nhìn nhận báo chí từ một bộ phận của tiến trình văn học và được coi là một chương của
bộ sách này, với ý nghĩa như một thể loại, một động lực của văn học. Vấn đề cũng không
chỉ là phương tiện. Một thời gian dài gần như tất cả các sáng tác văn học, kể cả dịch
thuật đều đăng tải trên báo chí (…) Vấn đề còn là, khi văn chưa tách khỏi báo (giữa thập
kỷ 30 về trước) thì phần lớn các nhà văn đều phải đi từ nghề báo [79, 234-235].
Điểm khác biệt của báo chí Việt Nam so với báo chí phương Tây là ra đời trước

Bùi Đức Tịnh khi tìm hiểu Những bước đầu của báo chí, truyện ngắn, tiểu
thuyết và thơ mới (1865-1932), (2002, tái bản lần 2) cũng đã xác định báo chí như một
bộ phận của nền văn học hiện đại Việt Nam. Cho nên khi nghiên cứu các thể loại văn
học mới (truyện ngắn, tiểu thuyết và thơ) ông rất quan tâm đến báo chí với tư cách là
môi trường thúc đẩy sự sinh sôi, nảy nở của các thể loại văn học: “Sở dĩ cần quan tâm
nhiều đến báo chí là vì đó là bộ môn tiền phong của nền văn học mới. Đồng thời, đó
cũng là môi trường để nảy sinh và phát triển của tất cả các bộ môn khác như tiểu
thuyết, thơ, văn nghị luận, phê bình…” [185, 13].
Ngay từ khi tìm hiểu về những tờ báo đầu tiên, ông cũng đã khẳng định vai trò
của chúng đối với văn học. Với Gia Định báo thì việc: “Truyền bá thứ chữ viết dùng
mẫu tự La Tinh để ghi âm thanh của tiếng Việt cần được lưu tâm đến khi nghiên cứu
những bước đầu của nền văn chương hiện đại” [185, 29]. Với những tờ như Nông cổ
mín đàm, Lục tỉnh tân văn một mặt: “Để thực hành sứ mạng giúp đồng bào văn minh
tiến bộ hơn”, mặt khác, “Góp công xây dựng nền quốc văn mới trong giai đoạn chuyển
tiếp từ văn chương cổ điển sang văn chương hiện đại” [185, 35].
Báo chí càng phát triển phong phú thì càng phân hóa phức tạp. Có thể hình dung
lược trình của nền báo chí tiếng Việt như sau:
Lúc đầu báo chí ra đời do nhu cầu thống trị và xâm lăng văn hóa của chủ nghĩa
thực dân nên mang tính chức năng. Chính quyền thực dân dùng báo chí chủ yếu nhằm

12

thực hiện mục đích chính trị. Chủ thuyết của A.Sarraut là dựa vào sức mạnh của báo
chí để tạo ra: “Một thứ huyền thoại độc tôn về nền văn minh Pháp và thứ mặc cảm tự ti
nơi những nhà trí thức Việt Nam lúc bấy giờ” [188, 88]. Cho nên hầu hết, nội dung của
các báo, tạp chí thời kỳ đầu tập trung đăng tải những thông tin mang tính thời sự, xoay
quanh các vấn đề về kinh tế, chính trị, tuyên truyền văn hóa, văn minh nước Đại Pháp
… Các tờ báo tiếng Việt tiêu biểu buổi đầu như: Gia Định báo (1865), Lục tỉnh tân
văn (1907), Đông Dương tạp chí (1913), Nam phong tạp chí (1917)… được ra đời
trước hết để thực hiện chức năng và nhiệm vụ cụ thể đó.

của họ: “Có thể rút ra rằng, chính làm báo đã giúp cho tôi làm văn. Nếu không có làm
báo chắc chắn tôi sẽ không làm văn được và không thể trở thành nhà văn (…) Tôi cho
rằng, không có nghề báo thì tôi sẽ không có vốn sống, không có nền tảng để tôi viết
văn” [38, 9]. Quả thật, “Báo và tạp chí là nơi thử thách ngòi bút của nhiều người,
trước khi trở thành nhà văn chuyên nghiệp”.
Tác giả Trần Thị Trâm trong chuyên luận Văn học và báo chí từ một góc nhìn
(2003) thêm một lần nữa khẳng định mối quan hệ “đan xen, cộng hưởng, nâng đỡ,
chuyển hóa” lẫn nhau giữa báo chí và văn học để “cùng phát triển với một gia tốc lớn”.
Có khi tác giả lại “tuyệt đối hóa” vai trò của báo chí: “Tìm hiểu sự phát triển của báo
chí cũng chính là nói đến đời sống của bản thân văn học bởi vì trong thời kỳ đầu, đặc
biệt trước khi có sự ra đời của các nhà xuất bản thì hầu như báo chí là phương tiện duy
nhất để truyền bá tác phẩm, nơi giới thiệu kinh nghiệm sáng tác, nghiên cứu phê bình.
Có những lúc, báo chí là phương tiện duy nhất, quan trọng nhất để truyền bá tác phẩm
văn chương, đồng thời còn là trung tâm văn hóa lớn của thời đại” [191, 196].
Đến nay, khi đã có khá đầy đủ tư liệu về báo chí và có đủ độ lùi về thời gian để
nhìn lại thì rõ ràng cách đánh giá của tác giả Trần Thị Trâm chưa thật khách quan và
thỏa đáng song cái đích cuối cùng mà tác giả hướng tới cũng là nhằm khẳng định vai
trò “quan trọng, duy nhất” của báo chí và các nhà xuất bản đối với nền văn chương
hiện đại Việt Nam.
Như vậy, khi nghiên cứu về lịch sử báo chí, các nhà nghiên cứu đều thống nhất
khẳng định vai trò quan trọng của báo chí đối với tiến trình hiện đại hóa văn học Việt
Nam nửa đầu thế kỷ XX:
Sự thật dần dần chứng tỏ: Báo chí cần sử dụng và mở rộng địa bàn cho văn
chương (gồm cả sáng tác và nghiên cứu - dịch thuật) để phát triển số lượng người đọc.
Còn văn chương cần dựa vào báo chí để rèn luyện và nâng cao khả năng diễn đạt, miêu
tả, qua đó từng bước hoàn thiện các thể văn mới đến từ các ảnh hưởng phương Tây
đồng thời đưa tiếng Việt - chữ Quốc ngữ lên tầm một ngôn ngữ phong phú, linh hoạt, có
năng lực thể hiện mọi trạng huống sinh hoạt xã hội và tâm lý con người [102, 57].
Hay nói cách khác, báo chí như một bộ phận của tiến trình văn học. Đó là mối
quan hệ biện chứng, thẩm thấu tạo nên nét đặc thù của báo chí cũng như của văn học

đặt tên cho tờ tuần báo của họ [125, 615].
Nhà nghiên cứu văn học Vũ Ngọc Phan trong cuốn Nhà văn hiện đại (1994, in
lần đầu 1942) đã nói đến vai trò của chữ Quốc ngữ và văn học Quốc ngữ được khẳng
định bởi các nhà văn tiên phong xuất thân từ báo chí: “Quốc văn bắt đầu thịnh, bắt
đầu có cái giọng hoa mỹ, dồi dào và chú trọng về tư tưởng là công các nhà biên tập
hai tờ tạp chí Bắc Hà: Đông Dương tạp chí và Nam phong tạp chí” [139, 33].

15

Chuyên luận Quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam 1900-1945 (2000) do
Mã Giang Lân chủ biên là cuốn sách tập hợp được các bài viết quan trọng cung cấp
cho ta những điểm nhìn gợi mở, có ý nghĩa khái quát về văn học Việt Nam trên tiến
trình hiện đại hóa. Đặc biệt, các tác giả đều khẳng định vai trò không thể thiếu của báo
chí đối với quá trình hiện đại hóa văn học: “Có thể nói, đối với công việc nghiên cứu
văn học Việt Nam 30 năm đầu thế kỷ XX, những tờ báo Quốc ngữ xuất bản công khai
đương thời mang ý nghĩa của những hoa thạch văn hoá” [94, 128].
Đồng thời, tác giả nhấn mạnh đến báo chí với tư cách là: “Môi trường lưu giữ
những tác phẩm văn học Quốc ngữ viết theo lối mới, mà đặc biệt là các thể đoản thiên
tiểu thuyết, ký… đều được đăng tải trên báo chí hoặc để lại dấu ấn trên báo chí qua
những bài giới thiệu sách, phê bình văn học, tranh luận văn học. Những khuynh hướng
khác nhau tác động đến sự ra đời của văn học hiện đại viết bằng Quốc ngữ đều hiện
diện và quy tụ ở môi trường báo chí, từ những hoạt động dịch thuật cho đến việc kiểm
kê, thức nhận lại kho tàng văn học truyền thống. Hoàn toàn có thể khẳng định ít nhất
trong ba thập niên đầu thế kỷ (nếu thậm chí không muốn nói là một khoảng thời gian
còn rất dài sau đó) các nhà văn hiện đại đã xuất hiện, định hình và trưởng thành trong
môi trường báo chí” [94, 128-129].
Vì vậy, nghiên cứu quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam: “Cần phải khai
thác mối quan hệ đặc thù giữa văn chương và báo chí” [94, 131]. Hơn nữa, cũng cần
phải khẳng định: “Vị trí đặc biệt quan trọng của báo chí đối với sự nghiệp xây dựng
quốc văn, quốc học lúc bấy giờ” [94, 14]. Có nghĩa việc nghiên cứu văn học hiện đại

nhất đến đầu những năm 30, gương mặt báo chí nổi bật trên hai tờ Đông Dương tạp chí
của Nguyễn Văn Vĩnh và Nam phong tạp chí của Phạm Quỳnh, thì chuyển vào những
năm 30, trên nền rộng của nhiều loại báo chí đưa tới sự xuất hiện những tờ chuyên cho
văn chương và học thuật như Phong hóa, Ngày nay, Tiểu thuyết thứ Bảy, Ích hữu, Tao
đàn, Tiểu thuyết thứ Năm, Tri tân, Thanh nghị… ” [102, 63].
Đồng hướng nghiên cứu với chúng tôi có luận án Tiến sĩ của Nguyễn Đức Thuận
với đề tài “Tìm hiểu văn trên Nam phong tạp chí” (2006) đã có ý nghĩa định hướng,
gợi mở cho chúng tôi trong quá trình tiếp cận, thực thi đề tài. Tuy kế thừa thành tựu
của người đi trước nhưng luận án không rập theo khuôn mẫu sẵn có. Người viết luôn
cố gắng tạo một hướng tiếp cận riêng với Tri tân. Điều đó được quy định bởi những
đặc điểm riêng mang tính thời đại về hoàn cảnh lịch sử cụ thể, bối cảnh tư liệu cũng
như tâm lí của công chúng tiếp nhận để giải mã Tri tân. Nam phong là một tờ tạp chí
bề thế, có khuynh hướng tư tưởng khá phức tạp nên khi đánh giá về tờ tạp chí này, dù
ít dù nhiều, người nghiên cứu vẫn phải giữ thái độ thận trọng, đôi khi phải né tránh.
Tạp chí Tri tân ra đời độc lập, không chịu sự chi phối của tư tưởng chính trị mà hoàn
toàn trên tinh thần tự chủ của các trí thức có tâm huyết trong việc gìn giữ, khôi phục

17

các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc. Cho nên, những nghiên cứu về Tri tân
đảm bảo tính khách quan, khoa học.
Những tham luận tại Hội thảo về Quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam diễn
ra hai ngày 18 và 19 tháng 3 năm 2010 tại trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân
văn thành phố Hồ Chí Minh mà chúng tôi cập nhật được từ trang web: khoavanhoc-
ngonngu.edu.vn cũng đã đặt ra vấn đề cần nghiên cứu mảng văn chương trên báo chí
đầu thế kỷ XX với mục đích xác nhận giá trị, ý nghĩa của mảng văn chương đó trong
tiến trình hiện đại hóa văn học dân tộc cũng như khôi phục gìn giữ, bảo tồn kho tư liệu
quý hiếm này để phục vụ cho các công trình nghiên cứu chuyên sâu.
Gần đây nhất là công trình nghiên cứu Những sự kiện văn học Việt Nam (từ
1865 đến 1945) của Vũ Tuấn Anh do Nhà xuất bản Khoa học xã hội phát hành vào

1.3. Những công trình sưu tầm, giới thiệu về tạp chí Tri tân
Nhìn lại lịch trình nghiên cứu Tri tân tạp chí, chúng tôi nhận thấy việc nghiên
cứu tờ tạp chí này tựu chung lại đã được những người đi trước đề cập trên ba phương
diện sau:
1.3.1. Công trình nghiên cứu tổng quan về tạp chí Tri tân
Công trình đầu tiên nghiên cứu một cách tổng quan về tạp chí Tri tân phải kể đến
là Mục lục phân tích tạp chí Tri tân (1941-1945) (1998) của Hồng Nhuệ Nguyễn
Khắc Xuyên. Với mục đích tổng hợp, thống kê, phân loại các đề mục xuất hiện trên
Tri tân, nhà thư mục Nguyễn Khắc Xuyên đã phân chia một cách chi tiết và sắp xếp
tương đối hệ thống về các đề mục xuất hiện trên Tri tân dựa trên hai tiêu chí: Mục lục
các tác giả và Mục lục các bộ môn .
Phần một, về Mục lục các tác giả, Nguyễn Khắc Xuyên đã tổng hợp, sắp xếp tên
các tác giả theo thứ tự A, B, C… Đối với mỗi tác giả lại có phần thống kê cụ thể bài
viết của họ được đăng trên các số của tạp chí Tri tân trong suốt 5 năm. Các bài viết
này cũng được tác giả sắp xếp theo thứ tự A, B, C… dựa vào chữ cái đầu tiên của tiêu
đề bài báo. Để tiện cho việc tra cứu, Nguyễn Khắc Xuyên đã đặt ra quy ước, kí hiệu rất
rõ ràng: đặt số tạp chí đứng trước và số trang của bài viết đứng sau: Chẳng hạn, phần
mục lục về tác giả Cây Thông, có các bài: 1- Ban kịch Hà Nội với Thế chiến quốc;
Bóng giai nhân (68, 16); 2- Học thêm; (32, 19-21); 3- Nên luyện cho trẻ em tập đọc
quốc văn (42, 4)… Với cách hệ thống, phân loại công phu, tỉ mỉ, Hồng Nhuệ Nguyễn
Khắc Xuyên đã cung cấp cho độc giả một hình dung “tổng thể” về diện mạo của tờ tạp
chí này.
Phần hai, về Mục lục các bộ môn được tác giả chia thành 21 bộ môn: Tôn giáo,
Kinh tế, Mỹ thuật, Kịch, Chính trị, Triết học, Giáo dục, Du ký, Sách báo, Địa lý, Học
đường, Thời sự, Khoa học, Ngữ học, Báo chí - thư viện – truyện, Tiểu thuyết dài –
khảo cứu dài, Phê bình giới thiệu sách, Xã hội – phong tục – phụ nữ - thanh niên, Thơ,
Văn học, Lịch sử. Với cách phân chia này, ta thấy các bài viết trong từng bộ môn chủ
yếu được lựa theo tiêu chí đề tài và thể loại. Tuy nhiên, đây là cách phân chia còn

19

văn học hiện đại Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, đặc biệt là vào những năm 1940. Vì thế,
ông là tác gia được giới nghiên cứu, phê bình văn học quan tâm, chú ý trong việc sưu
tầm, biên soạn các sáng tác của ông thành các tuyển tập: Nguyễn Huy Tưởng, Tuyển
tập ký sự (Nxb Văn học, 1963), Nguyễn Huy Tưởng, Tác phẩm chọn lọc (Nxb Hội

20

Nhà văn, 1994), Nguyễn Huy Tưởng toàn tập (Nxb Văn học, 1996)… hoặc chọn các
sáng tác của ông làm đối tượng nghiên cứu của luận văn, luận án. Ngoài ra, các tiểu
thuyết lịch sử (Đêm hội Long Trì, An Tư), các vở kịch lịch sử (Vũ Như Tô, Bắc Sơn)
của ông được các nhà xuất bản in ấn, phát hành, tái bản nhiều lần. Điều đó chứng tỏ
sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng có sức hút lớn đối với độc giả đương thời. Từ
Nguyễn Huy Tưởng, Tri tân tạp chí đã được mở rộng hơn về đối tượng tiếp nhận.
Tác giả Lại Nguyên Ân là người có công lớn trong việc giới thiệu tạp chí Tri tân
qua các bài viết, các công trình sưu tầm, biên soạn thành tuyển tập. Công trình Nghiên
cứu và phê bình văn học của Lê Thanh (Nxb Hội Nhà văn, 2002) là cuốn sách được
tác giả sưu tầm, biên soạn, tập hợp các bài viết của nhà nghiên cứu, phê bình văn học Lê
Thanh trên nhiều phương diện. Trong đó, có các bài viết về các tác giả (Tản Đà, Tú Mỡ,
Trương Vĩnh Ký), có các bài phỏng vấn các nhà văn (Ứng Hòe Nguyễn Văn Tố, Tùng
Vân Nguyễn Đôn Phục, Trúc Khê Ngô Văn Triện, Song An Hoàng Ngọc Phách, Vệ
Thạch Đào Duy Anh…), có các bài nghiên cứu về văn học, sử học, triết học, có các bài
phê bình văn học (Phê bình Khói lam chiều, Sách Kỹ nghệ lấy Tây, Người bạn gái; Giới
thiệu Hàn Mặc Tử, Ảnh hưởng của văn chương Pháp trong văn chương Việt Nam, Ba
người thợ cần mẫn…). Các bài viết này đều được đăng trên các báo Tin văn, Tiểu thuyết
thứ Bảy và phần lớn là Tri tân. Lê Thanh là cây bút nghiên cứu, phê bình tiêu biểu của
văn học Việt Nam những năm 40. Tên tuổi của Lê Thanh xuất hiện trên nhiều mặt báo
nhưng gắn bó và tâm huyết nhất dành cho Tri tân.
Với tác giả Phan Khắc Khoan, người có sở trường đặc biệt về thể tài kịch thơ lịch
sử, ông đã đóng góp 5/11 vở kịch thơ, chiếm 46% mảng kịch thơ được Tri tân đăng tải.
Ông cũng là đối tượng được các nhà nghiên cứu quan tâm, chú ý. Tuyển tập Phan


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status