Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác xóa đói giảm GVHD: Lê Quang Vinh
nghèo ở phƣờng Mỹ Long,TPLX đến năm 2015 Học viên: Nguyễn Thị Thu
1
MỞ ĐẦU
Trong hệ thống chính sách an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo là chủ chương,
chính sách lớn của Đảng, Nhà nước, thể hiện sự cam kết mạnh mẽ của Việt Nam
với cộng đồng quốc tế trong việc thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ của liên hợp
quốc.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định đói nghèo như là một thứ “giặc”, cũng như
giặc dốt, giặc ngoại xâm, nên đã đưa ra mục tiêu phấn đấu để nhân dân lao động
thoát nạn bần cùng, làm cho mọi người có công ăn, việc làm, ấm no và đời sống
hạnh phúc. Giảm đói nghèo không chỉ là một trong những chính sách xã hội cơ
bản, được Nhà nước Việt Nam đặc biệt quan tâm, mà còn là một bộ phận quan
trọng của mục tiêu phát triển.
Nghèo đói đi liền với lạc hậu chính là lực cản kềm hãm sự phát triển, là sự đối
lập của bản chất XHCN. Trong nền kinh tế thị trường hiện nay ở nước ta bên cạnh
những thành tựu, hiệu quả đáng kể đạt được, nó còn bộc lộ không ít hạn chế,
khuyết điểm. Sự lôi cuốn của lợi nhuận đã làm nảy sinh, tăng thêm các vấn đề tiêu
cực, tệ nạn như: tham nhũng, ma túy, mại dâm, băng nhóm tội phạm, tình trạng
thất nghiệp thiếu việc làm….Sự phân hóa tăng khoản cách giữa giàu-nghèo ngày
càng xa. Đây không phải là điều trăng trở, bức xúc của riêng ai, nghèo đói hiện nay
đã trở thành thách thức chung của toàn xã hội.
Trong những năm qua, cùng với những địa phương khác trong cả nước, trên
địa bàn phường Mỹ Long thành phố Long Xuyên, công tác xóa đói giảm nghèo
luôn được đặc biệt quan tâm, đạt nhiều kết quả quan trọng, do đó đã hạn chế sự
phân cách giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư, xóa hộ đói và từng bước giảm
được số hộ nghèo.
Tuy nhiên, bên cạnh thành tựu đạt được thì công tác xói đói giảm nghèo ở
3
CHƢƠNG 1:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ XÓA ĐÓI GIẢM
NGHÈO TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
1.1. Quan niện và tiêu chí xác định đói nghèo:
1.1.1. Quan niệm đói nghèo của thế giới và Việt Nam:
Đói nghèo là vấn đề toàn cầu, đã và đang diễn ra trên khắp các Châu với
mức độ khác nhau và trở thành một thách thức lớn đối với sự phát triển của
từng khu vực, từng quốc gia, dân tộc và từng địa phương. Tại hội nghị chống
đói nghèo Châu á Thái Bình Dương tháng 9/1993 thì: “nghèo là tình trạng một
bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn nhu cầu cơ bản của con người
những nhu cầu nầy được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế-
Xã hội và phong tục tập quán ở địa phương”.
- Nghèo: là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống tối thiểu không
thỏa mãn nhu cầu về ăn, mặc, ở, y tế, giáo dục, đi lại, giao tiếp. Trên thế giới có
nhiều cách hiểu khác nhau về nghèo, song phổ biến hơn cả người ta hiểu nghèo
theo hai cách là: “nghèo tuyệt đối” và “nghèo tương đối”.
- Nghèo tuyệt đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới
trung bình của địa phương, ở một thời kỳ nhất định. Ngoài những đảm bảo trên
còn có ý kiến cho rằng nhu cầu tối thiểu bao gồm cả việc có quyền tham gia vào
các quyết định của cộng đồng.
Trên thực tế người ta dùng khái niệm: “nghèo tuyệt đối” khi đề cập đến sự
bất lực, không có khả năng đạt tới mức tăng trưởng tối thiểu, con người không
có khả năng: “đáp ứng nhu cầu cơ bản” về mức dinh dưỡng tối thiểu và nhu cầu
phi thực phẩm khác.
+ Nghèo tương đói: Là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới
mức trung bình của cộng đồng địa phương. Đây là cách tiếp cận nghiên cứu
Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác xóa đói giảm GVHD: Lê Quang Vinh
nghèo ở phƣờng Mỹ Long,TPLX đến năm 2015
nghèo ở phƣờng Mỹ Long,TPLX đến năm 2015 Học viên: Nguyễn Thị Thu
5
Ngưỡng đói nghèo ở mức thấp gọi là ngưỡng đói nghèo về lương thực,
thực phẩm, được xác định theo tiêu chuẩn mà hầu hết các nước đang phát triển
cũng như tổ chức y tế thế giới và các cơ quan khác đã xây dựng mức
Kcal/người/ngày. Theo đó thì những người có mức chi cần thiết để đạt được
lượng kcal này gọi là người nghèo về lương thực, thực phẩm. Những đói nghèo
ở mức cao hơn gọi là ngưỡng đói nghèo chung.
Ngưỡng đói nghèo chung là ngưỡng đói nghèo về lương thực, thực phẩm
tính thêm các chi phí cho các mặt hàng ngày phi lương thực thực phẩm.
Ngoài ra, ngân hàng thế còn đưa ra khuyến nghị thang đo nghèo đói theo
tiêu chí sau:
- Đối với nước nghèo: các cá nhân bị coi là nghèo đói khi có thu nhập dưới
0,5 USD/ngày.
- Đối với nước đang phát triển là 1 USD/ngày.
- Các nước thuộc Châu Mỹ La Tinh và Caribe là 2 USD/ngày
- Các nước Động Âu là 4USD/ngày
- Các nước công nghiệp phát triển là 14,4 USD/ngày.
Tuy vậy, các quốc gia đều tự đưa ra chuẩn riêng của mình, thông thường
nó thấp hơn thang nghèo đói mà thế giới đưa ra.
Ở Việt Nam, Bộ lao động-Thương binh & xã hội quy định: Hộ đói là hộ có
mức thu nhập bình quân đầu người trong hộ một tháng quy ra gạo dưới 13Kg,
tương đương 45.000đồng, Hộ nghèo ở vùng nông thôn đồng bằng dưới 20 kg
gạo/người/tháng tương đương 70.000đồng và ở thành thị dưới 25 kg
gạo/người/tháng tương đương 90.000đống
Năm 2006, Bộ lao động-Thương binh & xã hội đưa ra chuẩn đói nghèo là:
Hộ nghèo: Chuẩn nghèo mới được điều chỉnh theo Quyết định số
tăng lên, đặc biệt là ở đồng bằng Sông Cửu long. Thiếu đất đai ảnh hưởng đến
việc bảo đảm an ninh lương thực của người nghèo cũng như khả năng đa dạng
hóa sản xuất, để hướng tới sản xuất các loại cây trồng với gia trị cao hơn. Đa số
Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác xóa đói giảm GVHD: Lê Quang Vinh
nghèo ở phƣờng Mỹ Long,TPLX đến năm 2015 Học viên: Nguyễn Thị Thu
7
người nghèo lực chọn phương án sản xuật tự cung, tự cấp, họ vẫn giữ các
phương thức sản xuất truyền thống với giá trị thấp, thiếu cơ hội thực hiện các
phương án sản xuất mang lợi nhuận cao hơn. Do vẫn theo phương pháp sản
xuất truyền thống nên giá trị sản phẩm và năng suất các loại cây trồng, vật nuôi
còn thấp, thiếu tính cạnh tranh trên thị trường và vì vậy đã đưa họ vào vòng
luẩn quẩn của sự nghèo khó.
Bên cạnh đó, đa số người nghèo chưa có nhiều cơ hội tiếp cận với các dịch
vũ sản xuất như khuyến nông, khuyến ngư, bảo vệ động thực vật; nhiều yếu tố
đầu vào sản xuất như: điện, nước, giống cây trồng, vật nuôi, phân bón…đã làm
tăng chi phí, giảm thu nhập tính trên đơn vị giá trị sản phẩm.
Người nghèo cũng thiếu khả năng tiếp cận các nguồn tín dụng. Sự hạn chế
của nguồn vốm là một trong những nguyên nhân trỉ hoãn khả năng đổi mới sản
xuất, áp dụng khoa học-công nghệ, giống mới…Mặc dù trong khuôn khổ của
dự án tín dụng cho người nghèo thuộc Chương trình xóa đói giản nghèo quốc
gia, khả năng tiếp cận tín dụng đã tăng lên rất nhiều, song vẫn còn khá nhiều
người nghèo, đặc biệt là người rất nghèo, không có khả năng tiếp cận với các
nguồn tín dụng. Một mặt, do không có tài sản thế chấp, những người nghèo,
phải dựa vào tín chấp với các khoản vay nhỏ, hiệu quả thấp đã làm giảm khả
năng hoàn trả vốn. Mặt khác, đa số người nghèo không có kế hoạch sản xuất cụ
thể, hoặc sử dụng các nguồn vốn vay không đúng mục đích, do vậy họ khó có
điều kiện tiếp cận các nguồn vốn và cuối cùng sẽ làm cho họ càng nghèo hơn.
c) Ngƣời nghèo không có đủ điều kiện tiếp cận với pháp luật, chƣa
đƣợc bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp.
Người nghèo, đồng bào dân tộc ít người và các đối tượng có hoàn cảnh đặc
biệt thường có trình độ học vấn thấp nên không có khả năng tự giải quyết các
vấn đề vướng mắc có liên quan đến pháp luật. Nhiều văn bản pháp luật có cơ
chế thực hiện phức tạp, người nghèo khó nắm bắt; mạng lưới các dịch vụ pháp
lý, số lượng các luật gia, luật sư hạn chế, phân bố không đều, chủ yếu tập trung
ở các thành phố, thị xã; phí dịch vụ pháp lý còn cao.
Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác xóa đói giảm GVHD: Lê Quang Vinh
nghèo ở phƣờng Mỹ Long,TPLX đến năm 2015 Học viên: Nguyễn Thị Thu
9
d) Các nguyên nhân về nhân khẩu học
Quy mô hộ gia đình là “mẫu số” quan trong có ảnh hưởng đến mức thu
nhập bình quân của các thành viên trong hộ. đông con vừa là nguyên nhân vừa
là hệ quả của nghèo đói. Tỷ lệ sinh trong các hộ gia đình nghèo còn rất cao.
Đông con là một trong những đặc điểm của các hộ gia đình nghèo. Năm 1998,
số con bình quân trên một phụ nữ của nhóm 20% nghèo nhất là 3,5 con so với
mức 2,1 con của nhóm 20% giàu nhất. Quy mô hộ gia đình lớn làm cho tỷ lệ
người ăn theo cao. ( tỷ lệ người ăn theo của nhóm nghèo nhất là 0,95 so với
0,37 của nhóm giàu nhất ). Một trong những nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ sinh cao
trong các hộ nghèo là do hộ không có kiến thức củng như điều kiện tiếp cận với
các biện pháp sức khỏe sinh sản. Tỷ lệ phụ nữ nghèo đặt vòng tránh thai thấp,
tỷ lệ nam giới nhận thức đầy đủ trách nhiệm kế hoạch hóa gia đình và sử dụng
các biện pháp tránh thai chưa cao. Mức độ hiểu biết của các cặp vợ chồng
nghèo về vệ sinh,an toàn tình dục, cũng như mối liên hệ giữa tình trạng nghèo
đói, sức khỏe sinh sản và gia tăng nhân khẩu còn hạn chế. Tỷ lệ người ăn Theo
f) Bệnh tật và sức khỏe yếu kém cũng là yếu tố đẩy con ngƣời vào
tình trạng nghèo đói trầm trọng
Vấn đề bệnh tật và sức khỏe kém ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập và chi
tiêu của người nghèo, làm họ rơi vào vòng tròn luẩn quẩn của đói nghèo. Họ
phải gánh chịu hai gánh nặng: một là mất đi thu nhập từ lao động, hai là gánh
chịu chi phí cao cho việc khám, chữa bệnh, kể cả các chi phí trực tiếp và gián
tiếp. Do vậy, chi phí chữa bệnh là gánh nặng đối với người nghèo và đẩy họ đến
chỗ vay mượn, cầm cố tài sản để có tiền trang trải chi phí, dẫn đến tình trạng
càng có ít cơ hội cho người nghèo thoát khỏi vòng đói nghèo. Trong khi đó, khả
năng tiếp cận đến các dịch vụ phòng bệnh (nước sạch, các chương trình y tế…)
của người nghèo còn hạn chế càng làm tăng khả năng bị mắc bệnh của họ.
Tình trạng sức khỏe ở Việt Nam trong thập kỷ qua đã được cải thiện. song
tỷ lệ người mắc các bệnh thông thường vẫn còn khá cao. Theo số liệu điều tra
mức sống năm 1998, số ngày ốm bình quân của nhóm 20% người nghèo là 3,1
Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác xóa đói giảm GVHD: Lê Quang Vinh
nghèo ở phƣờng Mỹ Long,TPLX đến năm 2015 Học viên: Nguyễn Thị Thu
11
ngày/năm so với khoảng 2,4 ngày/năm của nhóm 20% giàu nhất. Trong thời kỳ
1993-1997, tình trạng ốm đau của nhóm người giàu đã giảm 30%, trong khi tình
trạng của nhóm người nghèo vẫn giữ nguyên. Việc cải thiện điều kiện sức khỏa
cho người nghèo là một trong những yếu tố rất cơ bản để họ tự thoát nghèo.
Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác xóa đói giảm GVHD: Lê Quang Vinh
nghèo ở phƣờng Mỹ Long,TPLX đến năm 2015 Học viên: Nguyễn Thị Thu
12
Theo số liệu thống kê, tỷ lệ hộ nghèo và hộ cận nghèo năm 2010 còn
0,81%; hộ đời sống khó khăn 72 hộ; hộ có thu nhập khó khăn 56 hộ theo điều
tra mức hộ nghèo, hộ cận nghèo giai đoạn 2011-2015 và được ban điều hành
phường đề nghị công nhận.
Tỷ lệ hộ đạt danh hiệu Gia đình văn hóa 87,29%, 100% cơ quan đơn vị giữ
vững danh hiệu văn hóa; 5/8 khóm giữ vững danh hiệu “khón văn hóa” (khóm 7
được đề nghị đạt khóm văn hóa 5 năm liền), 3/8 khóm giữ vững danh hiệu
“khóm tiên tiến”.
Thông qua việc vận động quỹ “khuyến học”, riêng năm 2010 phường đã
cấp 541 phần quà (tập + học phẩm) cho học sinh nghèo, hoàn cảnh khó khăn tại
3 trường tiểu học và địa bàn 8 khóm; trao 3 xe đạp (800.000đ/chiếc), 24 suất
học bổng từ quỹ trẻ em nữ nghèo vượt khó học giỏi (200.000đ/suất), Hội phụ
nữ thành phố hỗ trợ 4 suất học bổng (500.000đ/suất)…tổng giá trị 47.077.000đ.
Ngoài công tác khám trị bệnh thường xuyên và thực hiện các chương trình
y tế quốc gia, Trạm y tế phường phối hợp cùng Câu lạc bộ Y-Bác sĩ trẻ Bệnh
viện Đa Khoa An Giang tổ chức khám bệnh, siêu âm và cấp thuốc miễn phí cho
712 lượt người cao tuổi, hội viên phụ nữ, gia đình chính sách, hộ nghèo, hộ khó
khăn nhân các ngày lễ, tết với kinh phí trên 58.000.000đ.
2.2. Thực trạng xóa đói giảm nghèo ở phƣờng Mỹ Long thành phố
Long Xuyên hiện nay:
2.2.1. Kết quả đạt đƣợc và nguyên nhân:
a) Kết quả đạt được:
Trong những năm qua, kết quả xóa đói giảm nghèo của phường đạt nhiều
kết quả khả quan. Trên cơ sở tiến hành rà soát, phân loại đối tượng, phường đã
thực hiện lồng ghép nhiều chính sách, giải pháp, qua đó tạo điều kiện cho hộ
nghèo có điều kiện vươn lên thoát nghèo.
Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác xóa đói giảm GVHD: Lê Quang Vinh
nghèo ở phƣờng Mỹ Long,TPLX đến năm 2015
nghèo ở phƣờng Mỹ Long,TPLX đến năm 2015 Học viên: Nguyễn Thị Thu
15
Cũng trong năm 2011 thông qua việc vận động quỹ “khuyến học” đã cấp
529 phần quà cho học sinh nghèo, hoàn cảnh khó khăn tại 3 trường tiểu học và
địa bàn 8 khóm gồm : 10.100 quyển tập, 300 cây viết, 200 cặp học sinh… tổng
trị giá 47.270.000 đ và 74 suất học bổng trị giá 7.400.000 đ. Ngoài công tác
khám trị bệnh thường xuyên và thực hiện các chương trình y tế quốc gia, trạm y
tế phường phối hợp cùng câu lạc bộ Y- Bác sĩ trẻ Bệnh viện Đa Khoa An Giang
tổ chức khám bệnh siêu âm và cấp thuốc miễn phí cho 893 lượt người nhân các
ngày lễ, tết với kinh phí 62.420.000 đ. Trên cơ sở khảo sát hộ nghèo, cận
nghèo, hộ khó khăn chí thú làm ăn có nhu cầu vay vốn sản xuất mua bán nhỏ
cải thiện cuộc sống đã có 548 trường hợp được xét phát vay vốn, 281 học sinh
sinh viên được vay vốn phục vụ hộc tập. Số dư nợ hiện nay như sau: Hộ nghèo
1 tỷ 194 triệu. Học sinh sinh viên 3 tỷ 0,09 triệu, vay học nghề 25 triệu, xuất
khẩu lao động 110 triệu…Qua đối chiếu nợ các hộ sự dụng vốn đúng mục đích
và có hiệu quả.
Về các chính sách hỗ trợ khác: có 23 trường hợp người già neo đơn, tàn
tật, trẻ mồ côi và 318 cụ 80 tuổi trở lên hưởng theo trợ cấp quy định. Sổ hộ
nghèo, cận nghèo và người cao tuổi điều được cấp thẻ bảo hiểm y tế có: Có 98
trường hợp là con em hộ nghèo, cận nghèo, hộ khó khăn được lập danh sách
phòng Lao động thương binh xã hội thành phố để được chính sách miễn giảm
học phí trong năm hộc mới.
Toàn phường hiện có 68 trẻ có hoàn cảnh khó khăn đặc biệt; có 02 trường
hợp được giới thiệu, hỗ trợ đi mổ tim, phầu thuật mắt tại TP.HCM, 03 trẻ
khuyết tật được phẩu thuật chỉnh hình tại Cần thơ, hiện các cháu đã ổn định: có
163 trẻ dưới 6 tuổi được cấp bảo hiểm y tế: tổ gia đình - trẻ em phường kế hợp
các nghành, đoàn thể và 8 khóm tổ chức thực hiện mô hình “Xã, phường phù
Hộ nghèo phát sinh
/
05
02
Tỷ lệ hộ nghèo
0,81%
0,66%
0,54%
Sở dĩ trong năm 2011 và 2012 số hộ nghèo từng năm có phát sinh là
do trong hộ có người mang những chứng bệnh nan y, nên phải điều trị lâu dài
tốn rất nhiều tiền của và nhân lực, cuối cùng không còn khả năng về tài chính
rơi vào mức thu nhập của chuẩn nghèo. Những hộ nầy rất cần đến sự quan tâm
của các cấp chính quyền, nhất là sự quan tâm của chính quyền địa phương.
b) Nguyên nhân:
Đạt được những kết quả đáng khích lệ trên do các nguyên nhân chủ yếu
sau:
- Chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo triển khai thực
hiện đồng bộ từ Trung ương đến cơ sở với những chính sách hộ trợ thiết thực,
từng bước đi vào cuộc sống, tiếp thêm điều kiện cho nhiều hộ dân có ý chí vươn
Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác xóa đói giảm GVHD: Lê Quang Vinh
nghèo ở phƣờng Mỹ Long,TPLX đến năm 2015 Học viên: Nguyễn Thị Thu
17
lên vượt qua khó khăn để không còn sống trong vòng lẩn quẩn của sự nghèo
khó.
- Tình hình kinh tế - xã hội của phường thời gian qua không ngừng khởi
sắc, cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch theo hướng tích cực, tạo cơ hội việc làm
và thu nhập cho người dân. Cấp ủy, chính quyền địa phương quyết tâm lãnh chỉ
2.2.2. Những khó khăn, hạn chế và nguyên nhân:
a) Khó khăn, hạn chế:
Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác xóa đói giảm nghèo ở phường
Mỹ Long những năm qua vẫn còn không ít khó khăn, hạn chế:
- Đảng ủy, Chính quyền địa phương đôi lúc còn chưa quan tâm đúng mức
đến công tác xóa đói giảm nghèo, còn giao khoán cho cán bộ phụ trách. Trong
quản lý điều hành có mặt chưa sâu sát, chưa nắm hết công việc và đối tượng,
chưa tổ chức và bình xét hộ nghèo theo từng nhóm đặc trưng để có giải pháp hỗ
trợ phù hợp. Tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh qua các năm nhưng thiếu vững chắc, tỷ
lệ hộ cận nghèo còn cao, một số hộ nghèo còn lúng túng trong phương thức làm
ăn, có hộ thiếu ý thức vươn lên, còn tư tưởng an phận hoặc ỷ lại vào chính sách
trợ giúp của Đảng, nhà nước và cộng đồng xã hội.
- Chương trình xóa đói giảm nghèo mới chỉ trập trung chủ yếu là tạo quỹ
và trợ vốn, chưa chú trọng nhiều đến việc chuyển biến nhận thức của người
dân, vốn đầu tư chưa đáp ứng được nhu cầu cho hộ nghèo vươn lên thoát
nghèo. Các thành viên trong ban xóa đói giảm nghèo thiếu kiểm tra giám sát
việc quản lý và sử dụng các nguồn vốn dẫn đến kết quả sử dụng vốn kém hiệu
quả, một số hộ vay vốn sử dụng không đúng mục đích.
- Chương trình mua bán nhỏ còn bộc lộ hạn chế là do khi xét cho vay đã
không đánh giá đúng mục đích và nhu cầu của người vay nên một số hộ nghèo
vay vốn sử dụng sai mục đích, không hiệu quả. Bên cạnh đó một số cán bộ làm
công tác thẩm định đôi lúc thiếu khách quan và công tâm nên còn xảy ra tình
trạng hộ có nhu cầu thì không được vay, nhưng hộ có nhu cầu mà không chịu
sản xuất kinh doanh thì lại được vay. Mặt khác, do nguồn vốn của ngân hàng
chính sách xã hội có giới hạn, không đáp ứng kịp thời. Vì vậy, một số hộ nghèo
Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác xóa đói giảm GVHD: Lê Quang Vinh
nghèo ở phƣờng Mỹ Long,TPLX đến năm 2015 Học viên: Nguyễn Thị Thu
Học viên: Nguyễn Thị Thu
20
các hộ vay để thực hiện chương trình của dự án còn chậm, ban xóa đói giảm
nghèo thiếu sự quan tâm đôn đốc, nhắc nhở nhất là công tác kiểm tra sử dụng
vốn vay xem các hộ vay vốn có sử dụng đúng mục đích hay không, cho vay
không đúng đối tượng, thời gia đáo hạn quá sớm, nên hầu hết các hộ nghèo điều
gặp khó khăn trong việc hoàn vốn.
- Công tác quản lý chính quyền đôi lúc còn thiếu quan tâm thường xuyên,
thường giao hẳn cho cán bộ xóa đói giảm nghèo, cán bộ chuyên trách chưa phát
huy tốt vai trò trách nhiệm của mình về chuyên môn cũng như tham mưu với
cấp ủy, chính quyền nhằm thực hiện tốt công tác giảm nghèo ở địa phương. Qua
nắm bắt thông tin tình hình thực tế ở xã cho thấy có khoảng 20% số hộ không
biết làm gì để thoát nghèo, vì vậy nếu chỉ đầu tư vốn cho các hộ này thị không
phải là giải pháp căn bàn để giải quyết đói nghèo.
Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác xóa đói giảm GVHD: Lê Quang Vinh
nghèo ở phƣờng Mỹ Long,TPLX đến năm 2015 Học viên: Nguyễn Thị Thu
21
CHƢƠNG 3:
MỤC TIÊU GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC
XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO Ở PHƢỜNG MỸ LONG ĐẾN NĂM 2015
3.1. Mục tiêu, quan điểm:
a) Mục tiêu:
Mục tiêu phát triển của phường nói chung và xóa đói giảm nghèo nói riêng
từ nay đến năm 2015 được Đảng bộ phường xác định là : Tiếp tục quản lý tốt
trật tự và xây dựng nếp sống văn minh đô thị. Giữ vững tốc độ tăng trưởng lĩnh
- Đảm bảo 100% học sinh con em các gia đình nghèo, cận nghèo không bỏ
học giữa chừng vì hoàn cảnh gia đình khó khăn.
- Tiếp tục thực hiện cuộc vân động quỹ vì người nghèo, mỗi năm từ trên
100% triệu đồng, để xây dựng nhà đại đoàn kết cho hộ nghèo không còn nhà
tạm bợ trong nhân dân. Thành lập “chi hội mái ấm tình thương” để cùng với
chính quyền kịp thời giải quyết nhu cầu về nhà ở cho hộ nghèo.
- Mở rộng cuộc vận động xây dựng nhà tình thương, nhà đại đoàn kết cho
hộ nghèo. Huy động nhiều nguồn vốn cho chương trình nhà ở như: Vốn Chính
phủ, vốn xã hội hóa, phối hợp với hội mái ấm tình thương, xây dựng nhà cho
các hộ nghèo để không còn nhà tạm bợ, dột nát.
b) Quan điểm:
Để nâng cao hiệu quả công tác xóa đói giảm nghèo ở phường từ nay đến
năm 2015 cần bám sát một số quan điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, Xóa đói giảm nghèo vừa là nhiệm vụ cơ bản lâu dài, vừa là
nhiệm vụ trọng tâm trước mắt.
- Xóa đói giảm nghèo là nội dung, và nhiệm vụ cần thực hiện để bảo đảm
công bằng xã hội. Thực tiễn cho thấy, có những nguyên nhân nảy sinh nghèo
đói không phải do môi trường xã hội, không do điều kiện kinh tế -địa lý, mà do
hoàn cảnh và đặc điểm của từng cá nhân, từng hộ gia đình. Những trường hợp
này huôn có khả năng xuất hiện và việc xóa đói giản nghèo mang tính thường
trực.
Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác xóa đói giảm GVHD: Lê Quang Vinh
nghèo ở phƣờng Mỹ Long,TPLX đến năm 2015 Học viên: Nguyễn Thị Thu
23
- Chủ trương của Đảng ta phát triển kinh tế nhiền thành phần là một định
hướng chiến lược. Nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường luôn có xu
hướng phân hóa hai cực giàu nghèo. Vì vậy, cùng với việc tăng cường sự quản
Thứ ba, xóa đói giảm nghèo và thực hiện công bằng xã hội không có nghĩa
là kìm hãm sự phát triển kinh tế, không có nghĩa là cào bằng.
Kinh nghiệm thực tế cho thấy rằng, nếu đặt công bằng xã hội lên trên hết
và tách rời với phát triển kinh tế thì trước hết dẫn tới sự triệt tiêu các động lực
phát triển. Tuy nhiên, nếu đặt hiệu quả kinh tế là mục tiêu duy nhất thì sẽ làm
tăng tình trạng phân hóa hai cực, làm tăng sự khốn khó đối với không ít quần
chúng nhân dân. Bởi vậy, trong khi thực hiện bài toán phát triển đất nước, làm
sao phải tạo mọi điều kiện và tăng nguồn lực cho sự phát triển, đồng thời hạn
chế mặt tiêu cực của nó, đặt vấn đề xóa đói giảm nghèo thành công việc thường
xuyên, liên tục.
Thứ tư, Xóa đói giảm nghèo là công việc của toàn xã hội.
Cần khẳng định một cách mạnh mẽ rằng, xóa đói giảm nghèo không dừng
lại ở việc thực hiện chính sách xã hội, không phải việc riêng của ngành lao
động-xã hội hay một số ngành khác, mà là nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa,
là nhiệm vụ chung của toàn Đảng, toàn dân. Muốn thực hiện thành công việc
xóa đói giảm nghèo, tất cả mọi cán bộ đảng, chính quyền đều phải quan tâm
cùng giải quyết, thực hiện các giải pháp một cách đồng bộ và phải có sự tham
gia của toàn thể cộng đồng.
3.2. Những giải pháp cơ bản góp phần nâng cao hiệu quả công tác xóa
đói giảm nghèo ở phƣờng Mỹ Long từ nay đến năm 2015:
Phát huy những kết quả đạt được, đồng thời góp phần khắc phục những
khó khăn, hạn chế trong công tác xóa đói giảm nghèo ở phường Mỹ Long
những năm qua, từ nay đến năm 2015 cần quan tâm thực hiện đồng bộ một số
giải pháp sau:
3.2.1 Tăng cƣờng vai trò của phụ nữ trong công tác xóa đói giảm
nghèo:
+ Hỗ trợ phụ nữ làm kinh tế, tạo việc làm và xóa đói giảm nghèo.
Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác xóa đói giảm GVHD: Lê Quang Vinh
nghèo ở phƣờng Mỹ Long,TPLX đến năm 2015