Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân Hàng
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VIẾT TẮT
STT Từ viết tắt Ý nghĩa
1 NHTM Ngân hàng thương mại
2 NHNN Ngân hàng Nhà nước
3 NHNo&PTNT
Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông
thôn
4
NHNo&PTNT
TP Phủ Lý
Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông
thôn Thành phố Phủ Lý
5 NVHĐ Nguồn vốn huy động
6 TCTD Tổ chức tín dụng
7 TCKT Tổ chức kinh tế
8 TGCKH Tiền gửi có kì hạn
9 TGKKH Tiền gửi không kì hạn
10 TGNT Tiền gửi ngoại tệ
11 TG VNĐ Tiền gửi Việt Nam Đồng
Nguyễn Thị Thắm Lớp NHH - LTĐH8
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân Hàng
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Nguyễn Thị Thắm Lớp NHH - LTĐH8
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân Hàng
LỜI NÓI ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Hoạt động huy động vốn là nghiệp vụ truyền thống của các Ngân hàng
thương mại cũng là nền tảng cho sự thịnh vượng và phát triển của Ngân hàng.
Năng lực của đội ngũ nhân viên cũng như của các nhà quản lý Ngân hàng trong
4 – Phương pháp nghiên cứu
Áp dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, đồng thời kết
hợp các phương pháp khác như:phương pháp phân tích, thống kê phân tích,
phương pháp so sánh, tổng hợp các bảng biểu và khái quát hóa phương pháp
luận khoa học gắn giữa lý thuyết và thực tiễn, tư duy lôgic kinh tế nhằm làm
sáng tỏ những vấn đề đặt ra trong quá trình nghiên cứu.
V – Bố cục luận văn
Ngoài lời nói đầu và phần kết của bài khóa luận gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về huy động vốn của ngân hàng thương
mại trong nền kinh tế thị trường
Chương 2: Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng NN&PTNT TP PHỦ
LÝ-HÀ NAM từ năm 2010-2012
Chương 3:Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác
huy động vốn tại chi nhánh ngân hàng NN&PTNT TP PHỦ LÝ- HÀ NAM
Nguyễn Thị Thắm Lớp NHH - LTĐH8
2
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân Hàng
CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ
HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 KHÁI QUÁT VỀ HUY ĐỘNG VỐN
1.1.1. Khái niệm về huy động vốn.
Vốn huy động của NHTM là những giá trị tiền tệ mà ngân hàng huy động
được từ các tổ chức kinh tế và cá nhân trong xã hội thông qua hoạt động kinh
doanh của mình và được dùng làm vốn kinh doanh.
Vốn huy động đa dạng về thời gian, hình thức và nguồn gốc tạo lập ngân
hàng phải hoàn trả đầy đủ số gốc và lãi cho khách hàng khi đến hạn hoặc khi có
nhu cầu rút vốn.
Có nhiều tiêu thức để phân loại vốn huy động của ngân hàng thương mại,
dưới đây là 1 vài tiêu thức phân loại chủ yếu.
• Vốn là cơ sở để ngân hàng tổ chức mọi hoạt động kinh doanh.
Đối với ngân hàng, vốn là cơ sở để NHTM tổ chức mọi hoạt động kinh
doanh. Với đặc trưng của hoạt động ngân hàng, vốn không chỉ là phương tiện
kinh doanh chính mà còn là đối tượng kinh doanh chủ yếu của NHTM. Ngân
hành là tổ chức kinh doanh loại hàng hoá đặc biệt trên thị trường đó là tiền tệ.
Chính vì thế có thể nói: Vốn là điểm đầu tiên trong chu kỳ kinh doanh của ngân
hàng. Do đó, ngân hàng phải thường xuyên chăm lo tới việc tăng trưởng vốn
trong suốt quá trình hoạt động.
• Vốn quyết định quy mô tín dụng và các hoạt động khác.
Tuỳ theo quy mô và cơ cấu nguồn vốn huy động được mà các ngân hàng sẽ
quyết định quy mô và cơ cấu đầu tư. Với nguồn vốn huy động lớn, ngân hàng có
đủ khả năng mở rộng phạm vi và khối lượng cho vay không chỉ giới hạn trên thị
trường trong nước mà còn cho vay vượt ra khỏi lãnh thổ một quốc gia (cho vay
trên thị trường quốc tế). Ngược lại, do khả năng vốn hạn hẹp nên các ngân hàng
Nguyễn Thị Thắm Lớp NHH - LTĐH8
4
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân Hàng
nhỏ không có những phản ứng nhanh nhạy trước sự biến động của lãi suất, ảnh
hưởng đến khả năng thu hút vốn đầu tư. Nói chung, một ngân hàng có nguồn vốn
dồi dào sẽ đáp ứng được nhu cầu xin vay, dễ dàng mở rộng thị trường tín dụng,
tăng khả năng thanh toán và các dịch vụ khác của ngân hàng.
• Vốn quyết định năng lực thanh toán và đảm bảo uy tín của ngân
hàng trên thị trường tài chính.
Trong nền kinh tế thị trường, để tồn tại và mở rộng quy mô hoạt động đòi
hỏi ngân hàng phải có uy tín lớn trên thị trường. Uy tín đó phải được thể hiện
trước hết ở khả năng sẵn sàng thanh toán khi khách hàng có yêu cầu. Khả năng
thanh toán của ngân hàng càng cao thì vốn khả dụng của ngân hàng càng lớn. Để
đảm bảo được các điều kiện trên, ngân hàng phải có một nguồn vốn thoả mãn
đồng thời cả hai yêu cầu: chất lượng và khối lượng. Vì vậy, để nguồn vốn huy
động sử dụng có hiệu quả thì trong kinh doanh ngân hàng cần phải mở rộng quy
suất. Lãi suất được xác định dựa vào kì hạn, tình hình cung cầu vốn tại thời điểm
huy động . Thông thường việc rút vốn trước hạn gửi danh nghĩa và hạn gửi thực
tế không mấy khi trùng khớp nên tạo ra nguồn vốn tương đối ổn định đẻ ngân
hàng có thể cho vay. Các NH áp dụng nhiều kỳ hạn với lãi suất khác nhau để đa
dạng hóa loại tiền gửi này và thu hút khách hàng
•Tiền gửi tiết kiệm
- Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn:
Đây là loại tiền gửi tiết kiệm không có kỳ hạn xác định, người gửi tiền có
thể rút vốn vào bất cứ thời gian nào.Lãi suất ngân hàng áp dụng cho TGTKKKH
thường thấp hơn TGTKCKH. Do tính ổn định thấp nên các ngân hàng chỉ sủ
dụng nguồn tiền gửi này ở 1 tỷ lệ nhất định, tùy thuộc vào dự định của ngân
hàng về tính ổn định của lượng tiền huy động được.
- Tiền gửi tiết kiệm có kì hạn:
Đây là loại tiền gửi mà trong đó người gửi tiền và ngân hàng đã có sự thỏa
thuận về số lượng, kỳ hạn, lãi suất cụ thể. Khách hàng khi sử dụng loại hình này
chỉ được rút gốc và lãi khi đến hạn. Tuy nhiên để tạo tính hấp dẫn, đồng thời
đảm bảo quyền lợi của khách hàng và tính cạnh tranh, các ngân hàng cho phép
khách hàng có thể rút trước hạn và hưởng lãi theo mức lãi suất của tiền gửi
Nguyễn Thị Thắm Lớp NHH - LTĐH8
6
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân Hàng
không kỳ hạn.
Do tính chất xác định về kỳ hạn nên TGTKCKH là 1 nguồn vốn có khả năng
ổn định cao, ngân hàng có thể chủ động cho vay với kỳ hạn tương ứng hoặc chuyển
hoán kỳ hạn một phần. Chi phí trả lãi với nguồn tiền gửi này cũng cao hơn so với
TGTKKKH, tuy nhiên chi phí duy trì và quản lý tài khoản nói chung thấp.
1.1.3.2.Phát hành giấy tờ có giá:
Trong quá trình hoạt động khi thiếu vốn hoặc khi cần vốn để đàu tư cho các
dự án thì ngân hàng có thể phát hành các giấy tờ có giá để huy động trên thị trường
tài chính. Đối với hệ thống ngân hàng thương mại nói riêng và các đơn vị sản xuât
hình thức có kỳ hạn khác.
Như vậy việc huy động vốn thông qua hình thức phát hành giấy tờ có giá
có ưu điểm là huy động được khối lượng tương đối lớn và nguồn vốn này có tính
ổn định cao. Tuy nhiên trong thực tế nguồn vốn huy động từ tiền gửi vẫn chiếm
tỷ trọng cao hơn so với nguồn vốn từ phát hành GTCG. Đó là do chi phí phát
hành GTCG cao hơn nhiều so với các khoản tiền gửi cùng kì hạn
1.1.3.3. Huy động vốn thông qua hình thức đi vay NHTW và các TCTD khác
Nguồn vốn đi vay thường chiếm tỷ trọng nhỏ trong kết cấu tổng nguồn vốn
của NHTM nhưng nó là nguồn vốn cần thiết đáp ứng nhu cầu thiếu hụt vốn tạm
thời nhằm đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng một cách bình
thường. Vốn đi vay bao gồm:
Vay ngân hàng trung ương
- NHTW cấp tín dụng cho các NHTM chủ yếu dưới các hình thức:
- Tái cấp vốn mà chủ yếu kà dưới hình thức tái chiết khấu các GTCG
- Cho vay thế cháp hay ứng trước
Vay từ các TCTD khác
Trong quá trình hoạt động do những nhu cầu phát sinh mà các NHTM có
thể thiếu hụt hoặc dư thừa tạm thời tiền dự trữ tại NHTW. Hành vi vay lẫn nhau
giữa các ngân hàng kà nhằm điều hòa vốn khả dụngtrong ngắn hạn và đảm bảo
nguồn vốn lưu chuyển liên tục trong hệ thống ngân hàng. Chi phí cho loại vốn
này cao, ngân hàng chỉ sử dụng khi có nhu cầu cần thiết đảm bảo an toàn cho
Nguyễn Thị Thắm Lớp NHH - LTĐH8
8
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân Hàng
hoạt động của mình.
Ngoài ra ngân hàng còn huy động từ các nguồn khác như từ các công ty
mẹ, phát hành các hợp đồng mua lại, vay nước ngoài…Vốn đi vay mang lại cho
ngân hàng sự chủ động cao và khả năng đáp ứng rất nhanh chóng và thuận tiện.
Tuy nhiên nguồn vốn này cũng có những hạn chế lớn: đó là kì hạn vay ngắn. lãi
suất phải trả cao và thường biến động. Do vậy các ngân hàng phải cân nhắc kỹ
Sự tăng trưởng của quy mô nguồn vốn huy động chỉ thể hiện xu hướng tốt khi
luôn có tốc độ tăng trưởng ổn định. Nếu quy mô vốn hiện tại lớn nhưng ngân
hàng không kiểm soát, không dự đoán được xu hướng biến động của dòng tiền
gửi vào và rút ra trong giai đoạn tiếp theo thì sẽ rất khó khăn trong việc quyết
định cho vay và đầu tư.
Chỉ tiêu 3: cơ cấu nguồn vốn huy động.
Công thức:
Chỉ tiêu này phản ánh quan hệ tỷ lệ giữa các loại vốn huy động, tính hợp lý
trong quá trình huy động các loại vốn khác nhau. Cơ cấu vốn cần đa dạng, cân
đối trong đó cần đảm bảo một tỷ lệ hợp lý giữa vốn huy động ngắn hạn với trung
dài hạn, giữa nội tệ và ngoại tệ …Mỗi nguồn vốn có điểm mạnh, điểm yếu riêng
biệt trong việc huy động và khai thác. Do đó sự biến đổi về cơ cấu vốn sẽ kéo
theo sự thay đổi trong cơ cấu sử dụng vốn và theo đó là thay đổi về lợi
nhuận,mức độ an toàn của ngân hàng. Xu hướng biến động trong cơ cấu vốn huy
động phụ thuộc một phần vào kế hoạch điều chỉnh của NHTM và sự biến động
của các yếu tố bên ngoài. Điều này đặt ra yêu cầu ngân hàng phải luôn quan tâm,
nghiên cứu thị trường để có những điều chỉnh phù hợp và kịp thời
1.2.2.2 Nhóm chỉ tiêu phản ánh độ đa dạng của các hình thức huy động vốn.
Số lượng công cụ huy động:
Tùy thuộc vào đặc điểm kinh doanh mà mỗi ngân hàng có hệ thống các
Nguyễn Thị Thắm Lớp NHH - LTĐH8
10
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân Hàng
công cụ huy động khác nhau. Số lượng các công cụ này phản ánh khả năng quản
lý của ngân hàng: chỉ có những ngân hàng có hoạt động kinh doanh đa dạng,
phong phú, có trình độ nhân viên cao, khả năng quản lý tốt mới có điều kiện phát
triển đa dạng các công cụ huy động vốn
Sự đa dạng về kỳ hạn và loại tiền sử dụng
Đây là khả năng huy động các nguồn vốn với kì hạn khác nhau, trong đó
có cả ngoại tệ và nội tệ. Tùy thuộc vào đặc điểm kinh doanh khác nhau mà ngân
Khi tính toán chi phí huy động nếu chỉ quan tâm tới lãi suất huy động mà
bỏ qua chi phí lãi khác thì sẽ là thiếu sót và không phản ánh đúng thực tế. Khoản
chi phí huy động vốn phi lãi bao gồm nhiều loại, trong đó chủ yếu là chi phí tiền
lương cho cán bộ và nhân viên, chi phí cho quảng cáo, xay dựng chiến lược
maketing để thu hút vốn… Công tác huy động vốn của các ngân hàng được coi
là có hiệu quả về mặt chi phí khi nó đạt được các mục tiêu sau
- Tìm kiếm được nguồn vốn huy động với chi phí thấp nhất nhưng vẫn đáp
ứng đủ nhu cầu vốn sử dụng cho các hoạt động kinh doanh của ngân hàng
thương mại và đảm bảo cân đối giữa huy động và sử dụng vốn.
- Quản trị chi phí các nguồn là hoạt động thường xuyên và quan trọng của
mỗi ngân hàng. Việc tính chi phí cho từng nguồn vốn huy động cụ thể cho phép
các nhà quản lý xác định được đâu là nguồn vốn rẻ hơn, mức lãi suất huy động
như thế nào là hợp lý. Từ đó ngân hàng quyết định lựa chọn cơ cấu nguồn vốn
của mình và có biện pháp huy động vốn hợp lý. Dưới đây là một số phương pháp
đo lường chi phí vốn:
1.2.2.4 Nhóm chỉ tiêu phản ánh việc cân đối giữa huy động vốn và sử dụng
vốn.
Nguồn vốn huy động của NHTM lớn, phát triển ổn định và có một cơ cấu
nguồn phù hợp chưa đủ để đánh giá tính hiệu quả của hoạt động huy động vốn.
Hoạt động huy động vốn của NHTM không thể tách rời với hoạt động sử dụng
vốn và hoạt động sử dụng vốn là mục tiêu của hoạt động huy động vốn
NHTM huy động vốn bằng nhiều hình thức với các kỳ hạn khác nhau. Tuy
Nguyễn Thị Thắm Lớp NHH - LTĐH8
12
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân Hàng
nhiên, tính tự chủ của NHTM đối với mỗi nguồn vốn có quan hệ tỷ lệ thuận với
chi phí trả lãi để có được quyền sử dụng nguồn vốn đó. Để có lợi nhận cao NH
lại mong muốn dung nguồn vốn có chi phí thấp để đầu tư hoặc cho vay với
những lĩnh vực có lợi tức cao như dùng nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung
dài hạn. Tuy nhiên NHTM không thể chỉ vì mục tiêu lợi nhuận mà làm như vậy
động vốn NHTM đã thay đổi khối lượng, kỳ hạn của nguồn vốn, cung cấp vốn
cho nhu cầu sản xuất kinh doanh của nền kinh tế. Hơn nữa trên cơ sở phát hành
các GTCG NHTM đã tạo hàng hóa cho thị trường vốn và phát triển thị trường
chứng khoán quốc gia.
1.2.3.2 Đối với NHTM
Đối với các NHTM nước ta việc tăng trưởng nguồn vốn chủ yếu dựa vào
mở rộng công tác huy động vốn bởi lẽ vốn huy động thường chiếm tỷ trọng cao
trong tổng nguồn vốn. Nâng cao được hiệu quả của công tác huy động vốn giúp
ngân hàng tăng được lượng tiền cung ứng cho khách hàng từ đó thu hút được
nhiều khách hàng, tạo điều kiện giúp ngân hàng mở rộng mạng lưới, tăng thị
phần, quyết định quy mô ngân hàng lớn hay nhỏ.
Công tác huy động vốn tốt chứng tỏ tình hình tài chính của ngân hàng lành
mạnh, vấn đề rủi ro được hạn chế, tạo niềm tin và nâng cao được vị thế của ngân
hàng trước công chúng.
1.2.3.3 Đối với khách hàng:
Công tác huy động vốn của ngân hàng tốt thì tạo ra những kênh huy động
vốn hấp dẫn đáp ứng tốt nhất những nhu cầu của khách hàng.
Tạo điều kiện cho ngân hàng có khả năng mở rộng tín dụng giúp doanh nghiệp,
cá nhân chủ động về tài chính, nắm bắt được các cơ hội đầu tư, tạo điều kiện mở rộng
sản xuất từ đó góp phần giải quyết công ăn việc làm, nâng cao thu nhập
1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả huy động vốn
1.2.4.1Nhân tố chủ quan:
- Vị trí và uy tín của ngân hàng:
Mỗi khách hàng khi gửi tiền của mình vào ngân hàng đều mong muốn tiền
của mình được an toàn và sinh lời. Do vậy họ thường tìm đến những ngân hàng
có uy tín cao để gửi. Uy tín giúp cho ngân hàng giữ được khách hàng truyền
Nguyễn Thị Thắm Lớp NHH - LTĐH8
14
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân Hàng
thống và thu hút ngày càng nhiều khách hàng đến với ngân hàng mình
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân Hàng
- Trình độ công nghệ ngân hàng: Thái độ của khách hàng đối với một
ngân hàng còn tùy thuộc rất lớn biểu hiện vật chất liên quan, mức độ hiện đại
của thiết bị máy móc của ngân hàng.trình độ công nghệ kỹ thuật được coi là sức
mạnh của hoạt động kinh doanh ngân hàng trong thời đại hiện nay. Kỹ thuật-
công nghệ ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, hiệu quả, sự chính xác… của công
tác huy động vốn
1.2.4.2 Nhân tố khách quan
- Pháp luật và chính sách của nhà nước:Ngân hàng là một doanh nghiệp
kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, đặc biệt chịu sự quản lý nghiêm ngặt từ Nhà
nước và NHTW thông qua hàng loạt các quy định, chính sách. Trong sự ràng
buộc về pháp luật như luật các tổ chức tín dụng luật NHNN… làm ảnh hưởng tới
quy mô, hiệu quả và chính sách huy động vốn của ngân hàng.
Bên cạnh đó thì chính sách tiền tệ của một quốc gia cũng ảnh hưởng rất lớn tới
hiệu quả huy động vốn của NHTM : Mục tiêu chính sách tiền tệ bao gồm: Kiểm
soát lạm phát, bình ổn giá cả, tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm. Tùy thuộc
vào việc thực hiện mục tiêu chính sách tiền tệ mà ảnh hưởng của nó đến hiệu quả
huy động vốn là khác nhau. Chẳng hạn nền kinh tế đang rơi vào tình trạng lạm phát
tăng cao, nhà nước sử dụng chính sách tiền tệ thắt chặt để kiềm chế lạm phát bằng
cách tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, hoặc yêu cầu ngân hàng phải mua các kỳ phiếu bắt
buộc… khi đó các ngân hàng thiếu vốn sẽ phải tăng lãi suất để huy động thêm một
lượng vốn lớn. Điều này tác động không tốt tới hiệu quả huy động vốn của ngân
hàng, nó làm tăng quy mô huy động vốn nhưng đồng thời làm tăng chi phí huy
động vốn lên rất cao. Hoặc khi nền kinh tế càng phát triển, khối lượng hàng hóa
luân chuyển trong xã hội ngày càng nhiều, nhà nước khuyến khích nhân dân thanh
toán không dung tiền mặt bằng cách trả lương qua tài khoản cá nhân tạo điều kiện
tăng quy mô huy động đối với ngân hàng …
- Nhân tố kinh tế:
Là nhân tố rất quan trọng cần phải được quan tâm trong lĩnh vực kinh
doanh, mọi sự thay đổi của môi trường kinh tế đều tác động tới hoạt động kinh
mở tài khoản để thanh toán không qua ngân hàng… nên tạo điều kiện huy động
vốn. Tuy nhiên ở các nước đang phát triển, hay chậm phát triển, nhu cầu giao
Nguyễn Thị Thắm Lớp NHH - LTĐH8
17
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân Hàng
dịch qua ngân hàng còn hạn chế làm giảm khả năng huy động vốn của ngân
hàng.Bên cạnh đó trình độ dân trí cũng ảnh hưởng không nhỏ tới khả năng sử
dụng các dịch vụ của ngân hàng mà ở Việt Nam trình độ dân trí của người dân
chưa cao, đại bộ phân dân cư tập trung ở vùng nông thôn nên nhiều nơi còn xa lạ
với các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng làm công tác huy động vốn gặp nhiều
khó khă
-Yếu tố công nghệ:
Công nghệ thông tin và truyền thông có vai trò đặc biệt quan trọng và có
ảnh hưởng tới nền kinh tế nói chung và ngàng ngân hàng nói riêng. Do sự phát
triển mang tính đột phá của khoa học công nghệ mà ngày nay chất lượng cuộc
sống của người dân đã thay đổi mạnh mẽ, nhu cầu và thị hiếu của người tiêu
dùng cũng đã đa dạng và tinh tế hơn. Để đáp ứng được tốt nhất các nhu cầu của
khách hàng thì các sản phẩm của ngân hàng cũng phải đa dạng hóa và hiện đại.
Và nhờ có công nghệ ngày càng phát triển hiện đại mà các NHTM có thể quản lý
kinh doanh an toàn và hiệu quả, thông qua việc tập trung hóa tài khoản của
khách hàng, kiểm soát tốt nguồn vốn, mở rộng và đa dạng hóa các loại hình dịch
vụ kinh doanh, nâng cao khả năng cạnh tranh. Chính vì vậy, hiện đại hóa ngân
hàng là mục tiêu quan trọng được đặt ra rất sớm để phục vụ cho chiến lược phát
triển của ngân hàng
-Yếu tố quốc tế:
Do xu hướng toàn cầu, hội nhập giữa các nền kinh tế mang tính khu vực
hay toàn cầu. Do đó mỗi biến động về kinh tế, chính trị, công nghệ trên thế giới
đều ảnh hưởng tới hoạt động của ngân hàng trong nước.Nếu thị trường tài chính
bị khủng hoảng toàn cầu thì chắc chắn cũng ảnh hưởng không nhỏ tới tình hình
hoạt động của các NHTM trong nước trong đó có hoạt động huy động vốn
động mạnh đến hiệu quả huy động vốn tiền gửi. Bêb cạnh đó B.B thường xuyên
quan tâm đến việc xây dựng nguồn lực con người, đưa ra các sản phẩm dịch vụ
tiện ích
1.3.1.2 Kinh nghiệm huy động vốn của ngân hàng Credit Lyonais
Ngân hàng Credit Lyonais đã đưa ra hình thức mở tài khoản tiền gửi cá
nhân chuyên dung cho những ai có khả năng muốn đẻ dành mua nhà, xây nhà…
Nguyễn Thị Thắm Lớp NHH - LTĐH8
19
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân Hàng
Mức ký gửi ban đầu là 750F, sau đó mỗi lần gửi thêm đều đặn150F. Nếu cần
thiết khách hàng có thể rút một phần nhưng số dư tối thiểu phải là 750F. Điều
hấp dẫn là sau một thời gian gia chủ có thể được ngân hàng chấp nhận cho vay
thêm tiền để xây nhà hoặc mua nhà… Nếu mức gửi lần đầu tiên là 1500F và
hàng năm có ký gửi thêm 3600F thì được ngân hàng ưu đãi hơn bằng cách trả lãi
cao hơn so với gửi 750F. Qua nghiên cứu Credit Lyonais đã cho thấy ngân hàng
tập trung vào huy động tiền gửi với đối tượng cán bộ công nhân viên có thu nhập
ổn định, áp dụng các huy động đa dạng với khách hàng
1.3.2 Bài học kinh nghiệm cho các NHTM Việt Nam trong huy động vốn
- Hình thức huy động phải đa dạng, phù hợp với từng đối tượng vùng miền,
nhằm khai thác tốt nhất mọi nguồn lực tiềm tang trong dân cư
- Mô hình ngân hàng cần phải linh hoạt hơn, đáp ứng được những yêu cầu
của người dân, từng bước hướng người dân tới các dịch vụ ngân hàng một cách
thoải mái nhất
- Phải đưa ra chính sách lãi suất thích hợp, linh hoạt để khuyến khích người
dân tiết kiệm và gửi tiền vào ngân hàng. Phải áp dụng lãi suất linh hoạt mềm dẻo
để thu hút vốn theo cơ cấu có lợi cho ngân hàng
- Thường xuyên nghiên cứu thị trường, đáp ứng nhanh nhậy nhu cầu thị
trường, đồng thời có chiến lược chăm sóc khách hàng hiệu quả. Việc mở rộng
huy động vốn đều phải dựa trên nền tảng tăng cường sử dụng tin học hiện đại
hóa hoạt động của ngân hàng
quốc doanh xuất hiện ngày càng nhiều và các doanh nghiệp nhà nước cũng đã và
đang đi vào cổ phần hóa, để đi vào sản xuất kinh doanh có hiệu quả thì các
doanh nghiệp phải có đủ số vốn cần thiết. Và các ngân hàng đóng vai trò hết sức
quan trọng trong việc bù đắp những sự thiếu hụt về vốn cho các doanh nghiệp.
xong hiện tại cũng có rất nhiều ngân hàng cạnh tranh khốc liệt để mở rộng thị
phần. Đứng trước những khó khăn như vậy, nhưng chi nhánh ngân hàng
NN&PTNT thành phố phủ lý đã biết khai thác thế mạnh của mình để tập trung
Nguyễn Thị Thắm Lớp NHH - LTĐH8
21
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân Hàng
vào các đối tượng khách hành mục tiêu là doanh nghiệp vừa và nhỏ, hộ sản xuất,
cá thể , mang đến cho họ sự tin tưởng để những đối tượng khách hàng này trở
thành khách hàng truyền thống, khách hàng lâu năm của ngân hàng.
2.1.2 Cơ cấu tổ chức và nhiệm vụ của các phòng ban
* Giám đốc ngân hàng chịu trách nhiệm chỉ đạo điều hành và kiểm soát
công việc kinh doanh nói chung và hoạt động cấp tín dụng nói chung trong phạm
vi được ủy quyền
* Các phó giám đốc được sự ủy quyền của giám đốc, chịu trách nhiệm
điều hành kiểm soát từng mảng kinh doanh của ngân hàng.
- Phó giám đốc phụ trách về tín dụng được sự ủy quyền của giám đốc chịu
trách nhiệm về các công việc liên quan đến tín dụng như:
- Xem xét nội dung thẩm định do phòng tín dụng trình lên để quyết định
cho vay hay không cho vay và chịu trách nhiệm về quyết định của mình
- Kí hợp đồng tín dụng và hợp đồng bảo đảm tiền vay và các hồ sơ cho
Nguyễn Thị Thắm Lớp NHH - LTĐH8
22
Giám đốc
phụ trách
kế toán
Giám đốc
tín dụng theo hướng đầu tư khép kín: sản xuất, chế biến, tiêu thụ, xuất khẩu và
gắn tín dụng sản xuất,lưu thông và tiêu dung.
- Phân tích theo ngành nghề, kinh tế kĩ thuật, danh mục khách hàng để, lựa
chọn biện pháp cho vay an toàn và đạt hiệu quả cao
- Thẩm định và đề xuất cho vay các dự án tín dụng theo phân cấp ủy quyền
- Thẩm định các dự án, hoàn thiện các hồ sơ trình NHNN&PTNT cấp trên
theo phân cấp ủy quyền
- Thường xuyên phân loại dư nợ, phân tích nợ quá hạn, tìm ra nguyên nhân
và đề xuất hướng khắc phục
* Phòng hành chính nhân sự:
- Xây dựng công trình công tác hàng tháng, hàng quý, và có trách nhiệm
thường xuyên đôn đốc việc thực hiện chương trình đã được giám đốc chi nhánh
phê duyệt. Làm công tác tham mưu cho giám đốc trong việc tuyển dụng, đào tạo
nguồn nhân lực, đề bạt lương cho cán bộ công nhân viên
* Phòng kế toán, ngân quỹ
- Trực tiếp hạch toán kế toán thống kê và thanh toán theo quy định của chi
nhánh,xây dựng chỉ tiêu kế hoạch tài chính, quyết toán kế hoạch thu chi tài chính
quỹ tiền lương đối với các chi nhánh ngân hàng nông nghiệp trên địa bàn, trình
ngân hàng nông nghiệp cấp trên phê duyệt
2.1.3 Tình hình hoạt động kinh doanh của NHNN&PTNT thành phố Phủ Lý
2.1.3.1 Hoạt động huy động vốn
Huy động là hoạt động mang tính chất truyền thống của mỗi ngân hàng,
đóng vai trò khởi nguồn cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Nhận thức
được tầm quan trọng đó Chi nhánh NHNo&PTNT Thành Phố Phủ Lý không
Nguyễn Thị Thắm Lớp NHH - LTĐH8
23