Chuyên đề thực tập
MỤC LỤC
1
Chuyên đề thực tập
Mở đầu
Thế giới ngày nay phát triển mạnh mẽ, đồng thời với nó là sự phân hóa
giàu nghèo luôn luôn là mối quan tâm của các quốc gia trên thế giới. Bởi vì
giầu mạnh gắn liền với hưng thịnh, nghèo đói thường gây ra xung đột chính
trị xung đột giai cấp dẫn đến xã hội không ổn định. Thực tế cho thấy ở một
số nước kinh tế phát triển, năng suất lao động càng cao dẫn đến sự phân hóa
giai cấp và các tầng lớp dân cư, một bộ phận dân cư nghèo đói trở thành vấn
đề bức xúc trong xã hội. Vì vậy nhiều quốc gia trên thế giới đã đưa ra vấn đề
tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với công bằng xã hội, cải thiện mức sống
của người nghèo trong xã hội như là một phương châm định hướng phát triển
kinh tế. Nghèo đói ngày nay không chỉ là vấn đề kinh tế xã hội mà nó còn là
vấn đề nhân đạo sâu sắc. Tổ chức liên hợp quốc và nhiều tổ chức khác, nhiều
quốc gia khác và qua nhiều hội nghị quốc tế đã xác định vấn đề nghèo đói
hiện nay mang tính chất toàn cầu và đưa ra những quan điểm, giải pháp tương
đối thống nhất để giải quyết vấn đề này, khuyến cáo các nước giàu đóng góp
vào chương trình trợ giúp người nghèo.Trong mỗi quốc gia xung quanh vấn
đề chống nghèo đói đã đề ra các chủ trương giải pháp phù hợp với đặc điểm
quốc gia mình.
Việt Nam là nước nông nghiệp, dân số sống ở nông thôn chiếm số đông.
Vì vậy tình trạng đói nghèo vẫn đang là vấn đề quam tâm hàng đầu của quốc
gia. Trong những năm gần đây thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo của
quốc gia, tỉ lệ giảm nghèo tuy giảm mạnh nhưng chưa được ổn định, nếu gặp
tình trạng thiên tai mất mùa vẫn có thể rơi vào tình trạng nghèo đói trở lại.
Qua thời gian thực tập tại huyện Lục Nam, tìm hiểu những đặc điểm
chung về kinh tế - xã hội của huyện về vị trí địa lý,về địa hình, khí hậu và thời
tiết, dân số và lao động của huyện. Trên những cơ sở chung đó và những số
liệu phân tích chuyên đề thực tập đi sâu vào nghiên cứu đề tài: “Thực trạng
Tại hội nghị về xóa đói giảm nghèo ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương
do ESCAP tổ chức tháng 9 năm 1993 ở Bangkok (Thái Lan) đã đưa khái niệm
đói nghèo như sau: “Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không được
hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu
cơ bản này đã được xã hội thừa nhận, tùy theo trình độ phát triển kinh tế xã
hội và phong tục tập quán ở từng địa phương”.¹
Đây là khái niệm chung nhất về nghèo đói, một khái niệm có tính chất
hướng dẫn về phương pháp đánh giá, nhận diện nét chính yếu, phổ biến về
nghèo đói. Quan niệm hạt nhân ở trong khái niệm này là nhu cầu cơ bản của
con người. Căn cứ xác định đói nghèo là đối với những nhu cầu cơ bản ấy,
con người có được hưởng và thỏa mãn không. Nhu cầu cơ bản ở đây chính là
cái thiết yếu, tổi thiểu để duy trì sự tồn tại của mình như là ăn, ở, mặc, y tế,
giáo dục, văn hóa, đi lại và giao tiếp xã hội.
Khi nói tới nghèo đói cần phải phân biệt hai dạng nghèo: nghèo tuyệt đối
và nghèo tương đối.
- Nghèo tuyệt đối là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng
thỏa mãn những nhu cầu tối thiểu nhằm duy trì cuộc sống. Như vậy
nghèo tuyệt đối rơi vào tình trạng đói và thiếu đói.
- Nghèo tương đối là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới
mức trung bình của cộng đồng.
3
3
Chuyên đề thực tập
Nếu như thế giới thường dùng khái niệm nghèo khổ thì Việt Nam lại sử
dụng khái niệm đói nghèo. Khái niệm đói nghèo ở Việt Nam được dựa trên cơ
sở những khái niệm do tổ chức thế giới đưa ra căn cứ vào điều kiện, hoàn
cảnh cụ thể của nước ta. Các nhà khoa học Việt Nam đưa ra khái niệm sau:
“ Nghèo là tình trạng của một bô phận dân cư chỉ có điều kiện để thỏa
mãn một phần các nhu cầu tối thiểu nhằm duy trì cuộc sống thấp hơn mức
trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện”.²
+ Xem xét hiện tượng đói nghèo trước hết phải xem xét ở lĩnh vực kinh
tế, do đó phải chú ý đến dấu hiệu về mức sống, thông qua các nhu cầu cơ bản,
tối thiểu về đời sống vật chất.
+Xác định tiêu chí để đo hiện tượng đói nghèo phải dựa trên thu nhập
bình quân tính theo đầu người trong tháng hoặc năm theo 2 khu vực nông
thôn và thành thị. Tiêu chí này liên hệ mật thiết với tiêu chí về chế độ dinh
dưỡng năng lượng (calo) cho một người trong ngày.
+Cụ thể tiêu chí thành số lượng dùng làm thước đo bằng cách quy ra hiện
vật, vật phẩm tiêu dùng được tính bằng gạo theo đơn vị đầu người trong tháng
hoặc quy thành giá trị tính bằng tiền (cũng theo đơn vị đầu người trong tháng
tương đương với gạo ở một thời điểm nhất định).
+ Từ chỉ số thu nhập chia ra các khoản tiêu dùng, phản ánh mức độ thỏa
mãn các nhu cầu tối thiểu để xem xét đối tượng dân cư đói nghèo phải chi cho
ăn như thế nào, chiếm tỷ lệ bao nhiêu trong tổng cơ cấu tiêu dùng của họ.
Điều đó cho phép làm nổi bật thực trạng đói nghèo và độ chênh lệch có tính
chất vùng hoặc khu vực giữa các đối tượng khác nhau.
+ Ngoài việc nhận diện người đói nghèo, hộ đói nghèo và hiện trạng đói
nghèo của nông dân ở nông thôn còn có thể nhận diện nước nghèo ( nhất là
các nước nông nghiệp lạc hậu, còn ở trạng thái kinh tế tự nhiên hoặc trong
cùng một khu vực thường lấy giá trị theo USD) và căn cứ theo bình quân đầu
người trong năm.
5
5
Chuyên đề thực tập
Dĩ nhiên, thu nhập quốc dân tính theo đầu người cũng chỉ là một trong
những căn cứ để đo mức độ, trình độ phát triển của một nước so với nước
khác. Nó có tính chất tương đối và cũng có những hạn chế, bởi vì không phải
một quốc gia nào cũng có chỉ số trung bình cao về thu nhập quốc dân mà hết
đói nghèo. Vấn đề ở mức hưởng thụ thực tế của người lao động và trình độ
công bằng xã hội mà nước đó đạt được. Thực tế cho thấy, có nhiều quốc gia
đo nào, chỉ tiêu nào, đo mức sống bằng phương thức nào? Và ngân hàng thế
giới đã đi đến kết luận sau:
- Thu nhập có thể đo được là tiêu chí rất quan trọng.
- Không có thước đo chuẩn mực chung về phúc lợi xã hội như: sức
khỏe, tuổi thọ, mù chữ và phương tiện phúc lợi công cộng.
- Tuy nhiên, người ta còn quan tâm một số chỉ tiêu như mức dinh dưỡng
tuổi thọ, tỷ lệ tử vong ở trẻ em…
Ở Việt Nam, căn cứ vào tình hình kinh tế - xã hội và hiện trạng đời sống
trung bình phổ biến của dân cư có thể xác lập các chỉ tiêu đánh giá về đói
nghèo như sau: thu nhập, nhà ở tiện nghi sinh hoạt; tư liệu sản xuất và vốn
liếng để dành. Hai chỉ tiêu này, cần chú ý đặc biệt chỉ tiêu về thu nhập và nhà
ở. Hai chỉ tiêu này phản ánh trực tiếp mức sống hay mức độ thực hiện các nhu
cầu cơ bản tối thiểu của đời sống. Nhưng hai chỉ tiêu tư liệu sản xuất và vốn
liếng để dành lại cho thấy rõ thêm tình cảnh thật sự của người nghèo và các
hộ đói nghèo. Chính hai chỉ tiêu này còn giúp chúng ta phân biệt rõ ràng hơn
giữa người giàu và người nghèo, hộ giàu và hộ nghèo ở các vùng nông thôn
và đô thị.
3. Chuẩn nghèo trong giai đoạn 2006-2010 ở Việt Nam.
3.1 Quá trình hình thành chuẩn nghèo:
Nước ta đã 5 lần điều chỉnh chuẩn nghèo từ 1993 đến 2006
* Giai đoạn 1993 – 1995.
7
7
Chuyên đề thực tập
• Hộ đói: Bình quân thu nhập đầu người quy gạo/tháng dưới 13 kg đối
với thành thị, dưới 8 kg đối với khu vực nông thôn.
• Hộ nghèo: Bình quân thu nhập đầu người quy gạo/tháng dưới 20 kg
đối với khu vực thành thị và dưới 15 kg đối với khu vực nông thôn.
* Giai đoạn 1995 -1997.
• Hộ đói: là hộ có mức thu nhập bình quân một người trong hộ một tháng
Đây cũng là sự thể hiện quan điểm bình đẳng hơn, toàn diện hơn và bền vững
hơn xét về khía cạnh xác định chuẩn nghèo.
- Khu vực thành thị chuẩn nghèo mới cao gấp 1,73 lần chuẩn nghèo cũ
và tương đương 2,8 USD một ngày tính theo sức mua tương đương năm 2005.
- Khu vực nông thôn đồng bằng chuẩn nghèo mới cao gấp 2 lần nghèo
cũ. Khu vực nông thôn miền núi chuẩn nghèo mới cao gấp 2,5 lần và tương
đương 2,2 USD một ngày tính theo sức mua tương đương năm 2005.
Bảng 1: Chuẩn nghèo qua các giai đoạn
( 1.000đ/người/tháng)
Giai đoạn Thành thị Nông thôn
1997 – 2000 90 70
2001 – 2005 100 150
2006 – 2010 260 200
Nguồn: Đề tài Phương Pháp xác định chuẩn nghèo Bộ LĐTBXH 2005.
4. Phương pháp xác định chuẩn nghèo.
4.1 Ý nghĩa xác định chuẩn nghèo:
Chuẩn nghèo là một thước đo để xác định ai nghèo, ai không nghèo, điều
đó cũng có nghĩa quan trọng cho việc:
- Xác định đối tượng cần trợ giúp phù hợp.
- Hoạch định chính sách và các giải pháp trợ giúp.
- Tổ chức thực hiện giúp đối tượng tiếp cận với các chính sách trợ giúp.
4.2 Phương pháp xác định chuẩn nghèo.
*Phương pháp xác định chuẩn nghèo dựa vào nhu cầu chi tiêu:
9
9
Chuyên đề thực tập
Nội dung cơ bản của phương pháp này là dựa vào nhu cầu chi tiêu để bảo
đảm các nhu cầu cơ bản của con người về ăn, ở, mặc, y tế, giáo dục, văn hóa,
đi lại và giao tiếp xã hội.
Bước một là xác định nhu cầu chi tiêu cho lương thực thực phẩm. Để xác
dưới 1/3 mức trung bình của xã hội “, theo chuẩn này thì vào năm 1993 cả
thế giới có 1,1 tỷ người nghèo.³
Qua nghiên cứu các tài liệu có liên quan đề tài cho rằng việc lấy chuẩn
nghèo bằng 1/2 hay 1/3 thu nhập bình quân đầu người của các hộ gia đình là
phụ thuộc vào trình độ phát triển của mỗi nước, song biên độ giao động của
chuẩn nghèo sẽ nằm trong 1/2 và 1/3 mức thu nhập bình quân; nước phát triển
thu nhập cao, chi phí đắt đỏ có thể lấy mức 1/2, nước chậm phát triển có thể
lấy 1/3; nước đang phát triển có thể lấy trong khoảng 1/2 đến 1/3 mức thu
nhập bình quân đầu người. Đối với nước ta được xếp vào nhóm nước đang
phát triển, vào thời điểm năm 2002 thu nhập bình quân đầu người là 4.281
nghìn đồng, thì chuẩn nghèo là 1.875 nghìn đồng, tương đương với 156,250
nghìn đồng/người/tháng. Năm 2005 ước tính thu nhập bình quân đầu người
của các hộ gia đình là 5.183 nghìn đồng/người/năm (tính theo tốc độ tăng
bình quân của thời kì 1998-2002 là 6,58% một năm) thì chuẩn nghèo là 2.59
nghìn đồng/năm, tương đương 179,9 nghìn đồng/tháng.
Công thức tính cụ thể cho nước ta như sau:
4
Công thức tính: CNj = ( TNj/2 + TNj/3 ) : 2
Trong đó: CNj là chuẩn nghèo năm thứ j
TNj là thu nhập bình quân đầu người của các hộ gia đình năm thứj
Trong trường hợp này chuẩn nghèo được lấy ở khoảng giữa của 1/2 và
1/3 thu nhập bình quân đầu người của hộ gia đình.
II Thực trạng nghèo đói nói chung ở Việt Nam.
1. Thực trạng nghèo đói của Việt Nam (theo chuẩn giai đoạn 2001-2005).
11
11
Chuyên đề thực tập
Đặc điểm đối tượng nghèo: Sau gần 20 năm đổi mới, thu nhập và mức
sống của đại đa số người dân đã được cải thiện, do vậy đối tượng nghèo đói
cũng có sự thay đổi. Trước đây do nguồn lực hạn chế nên chương trình chủ
nghèo
năm
2005(hộ)
Tỷ lệ hộ
nghèo
năm
2005(%)
Năm
2005 so
với
2000
giảm
(%)
1.Đông Bắc 22,35 126.79 6,27 16,08
2. Tây Bắc 33,96 57.528 11,41 22,55
3. ĐB sông Hồng 9,76 206.545 4,77 4,99
4. Bắc Trung Bộ 25,64 211.928 9,28 16,41
5. Duyên Hải Nam Trung
Bộ
22,34 113.910 7,59 14,75
6. Tây Nguyên 24,90 82.939 11,86 13,04
7. Đông Nam Bộ 8,88 207.600 4,07 4,81
8. ĐB sông Cửu Long 14,18 1.033.608 5,67 8,51
Toàn quốc 17,18 6,53 10,65
Nguồn: Báo cáo phát triểm Việt Nam năm 2005
Kết quả xóa đói giảm nghèo chưa bền vững: Qua xem xét sự phân bố về
thu nhập của các hộ gia đình cho thấy một tỷ lệ khá lớn hộ gia đình nằm ngay
sát cận trên chuẩn nghèo và nếu gặp thiên tai, rủi ro, sự thay đổi cơ chế chính
sách và tác động của quá trình hội nhập thì khả năng tái nghèo của nhóm này
sẽ rất lớn.
sản xuất; do sự khác biệt, cách nhau về điều kiện sống; do thiếu khả năng duy
trì sự phát triển bền vững; do chính sách thiên về thành phố; rủi ro cao; do tỷ
lệ tăng ở nông thôm; thiếu sự tham gia thích đáng vào việc hoạch định và
thực hiện các nỗ lực của chính phủ nhằm XĐGN.
Cũng như các nước trên thế giới, nguyên nhân dẫn đến đói nghèo ở Việt
Nam tựu chung lại gồm có các nguyên nhân cơ bản sau đây:
14
14
Chuyên đề thực tập
Một là thiếu vốn sản xuất: Đây là nguyên nhân quan trọng nhất. Qua
nghiên cứu có tới 79% số hộ nghèo trả lời là thiếu vốn, muốn vay ngân hàng
nhưng không có tài sản thế chấp.
Hai là thiếu kiến thức sản xuất: Nguyên nhân này chiếm tới 70%.
Ba là thiếu thông tin thị trường: nguyên nhân này chiếm 35%.
Bốn là thiếu đất và không có đất sản xuất: nguyên nhân này chiếm 29%.
Năm là do ốm đau bệnh tật chiếm 32%.
Sáu là do đông con chiếm 24%.
Bảy là do không tìm được việc làm chiếm 24%
Tám là những nguyên nhân khác như là rủi ro, gia đình có người mắc
bệnh tệ nạn xã hội,….chiếm 6,9%
III Giải pháp xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam:
1.Quan điểm của Đảng, nhà nước về xóa đói giảm nghèo.
Một là xóa đói giảm nghèo phải dựa trên cơ sở tăng trưởng kinh tế
nhanh, hiệu quả bền vững đồng thời chủ động ra các nguồn lực cho các hoạt
động trợ giúp người đói nghèo. Quan điểm này xác định rõ vai trò trách
nhiệm của nhà nước, nhà nước phải là chủ thể tạo đủ nguồn lực vật chất trong
tay, có đủ khả năng điều hòa thu nhập giữa các tầng lớp dân cư. Điều đó chỉ
có được khi nền kinh tế tăng trưởng nhanh và hiệu quả bền vững. Trên cơ sở
đó Nhà nước mới có điều kiện hỗ trợ giúp đỡ những người nghèo ở các vùng
khó khăn. Mặt khác nhà nước ta là nhà nước của dân, do dân, vì dân, nhân
hộ gia đình. Quan điểm này chỉ rõ trách nhiệm của cơ quan nhà nước, phải
tìm hiểu tình hình thực tế từ khâu chọn vốn vay đến khâu sử dụng vốn vay.
Thực tế những năm qua số hộ vay không đúng đối tượng sử dụng chưa đúng
mục đích hiệu quả thấp, tình trạng cho vay thiên về số lượng lượt hộ vay, vay
để ăn tiêu hoặc sử dụng vào mục đích khác còn khá phổ biến. Vì vậy khi cho
vay phải kèm theo hướng dẫn sử dụng vốn hợp lí để phục vụ quá trình sản
xuất Nhà nước cần phải tiến hành công tác khuyến nông khuyến lâm hướng
16
16
Chuyên đề thực tập
dẫn cách sản xuất kinh doanh đi trước một bước, các nhà khoa học cần phải
sát thực tế hướng dẫn kỹ thuật sản xuất canh tác mới…
2. Chủ trương chính sách cụ thể về xóa đói giảm nghèo.
Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm đến công cuộc xóa đói giảm
nghèo coi đây là một chính sách xã hội cơ bản. Ngay từ khi thành lập nước
1945 Hồ chủ tịch đã xác định nghèo đói cũng là một thứ giặc như giặc dốt,
giặc đói, giặc ngoại xâm nên đưa ra mục tiêu phấn đấu làm sao để nhân dân
lao động thoát khỏi dần cùng mọi người có công ăn việc làm đời sống hạnh
phúc.
Thực hiện chủ trương Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương chính
sách tạo điều kiện cho người nghèo có việc làm tiếp cận với các dịch vụ cơ
bản của xã hội như giáo dục, y tế, chăm sóc sức khỏe nhất là đối với phụ nữ
trẻ em, đồng bào dân tộc ít người, vùng sâu, vùng xa. Cùng với các chính sách
phát triển kinh tế, Nhà nước đã có chủ trương kích thích làm giàu hợp pháp đi
đôi với với xóa đói giảm nghèo.
Đại hội đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng cộng sản
Việt Nam đã chỉ rõ: “ Tăng cường kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công
bằng xã hội trong từng bước phát triển. Công bằng xã hội thể hiện cả ở khâu
phân phối hợp lý tư liệu sản xuất lẫn khâu phân phối kết quả sản xuất cũng
như ở điều kiện phát triển năng lực của mọi thành viên trong cộng đồng.
xuyên củng cố thành quả xóa đói giảm nghèo.”
7
Với những quan điểm và chủ trương, trong những năm qua nhà nước đã
cụ thể bằng chính sách cơ chế chương trình và dự án và kế hoạch hàng năm
để phát triển nông nghiệp, nông thôn, xây dựng các công trình thủy lợi, hỗ trợ
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu cây trồng vật nuôi. Chính phủ đã đưa ra
nhiều chương trình chính sách lớn như: Chương trình mục tiêu quốc gia xóa
đói giảm nghèo 1998-2000 với nhiều nội dung hỗ trợ quan trọng. Chính phủ
đã phê duyệt chương trình phát triển kinh tế xã hội các xã đặc biệt khó khăn
vùng núi, vùng sâu, vùng xa. Gần đây Thủ tướng chính phủ ban hành Quyết
định 20/2007/TTg ngày 5 tháng 2 năm 2007 phê duyệt chương trình mục tiêu
quốc gia giảm nghèo giai đoạn 2006-2010, trong đó chỉ rõ các mục tiêu và nội
dung chương trình việc làm và xóa đói giảm nghèo.
18
18
Chuyên đề thực tập
Để thực hiện hiệu quả mục tiêu xóa đói giảm nghèo, chính phủ đã đưa ra
nhiều chương trình, chính sách lớn để hỗ trợ phát triển kinh tế, trợ giúp người
nghèo, như Chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói và việc làm. Nội dung
của chương trình gồm 3 nhóm dự án:
- Nhóm các dự án Xóa đói giảm nghèo chung:
+ Dự án Tín dụng cho hộ nghèo vay vốn để phát triển sản xuất, kinh
doanh.
+ Dự án Hướng dẫn cho người nghèo cách làm ăn, khuyến nông, khuyến
lâm, khuyến ngư.
+ Dự án Xây dựng mô hình xóa đói giảm nghèo ở các vùng đặc biệt.
- Nhóm các dự án Xóa đói giảm nghèo cho các xã nghèo nằm ngoài
chương trình 135:
+ Dự án Hỗ trợ sản xuất và phát triển ngành nghề ở các xã nghèo.
+ Dự án Xây dựng cơ sở hạ tầng ở các xã nghèo.
- Dự án khuyến nông-lâm-ngư và hỗ trợ phát triển sản xuất, phát triển
ngành nghề
- Dự án dạy nghề cho người nghèo
- Dự án phát triển cơ sở hạ tầng thiết yếu các xã đặc biệt khó khăn vùng
bãi ngang ven biển và hải đảo
- Dự án nhân rộng mô hình giảm nghèo
- Chính sách hỗ trợ y tế cho người nghèo
- Chính sách hỗ trợ về giáo dục cho người nghèo
- Chính sách hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở và nước sinh hoạt
- Chính sách hỗ trợ giúp pháp lý cho người nghèo
- Dự án nâng cao năng lực giảm nghèo, bao gồm đào tạo cán bộ giảm
nghèo và hoạt động truyền thông
- Hoạt động giám sát, đánh giá.
Tiếp theo, Chính phủ đã phê duyệt chương trình phát triển kinh tế - xã
hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi vùng sâu, vùng xa ( Quyết định số
20
20
Chuyên đề thực tập
07/2006/QĐ-TTg ngày 10 tháng 01 năm 2006) theo đó, Chính phủ sẽ tập
trung đầu tư cho 1.644 xã đặc biệt khó khăn trong 45 tỉnh, phần lớn thuộc các
vùng dân tộc miền núi. Ngân sách của chương trình là khoảng 800 triệu USD
với các mục tiêu chính là cơ sở hạ tầng, sản xuất định hướng thị trường, nâng
cao năng lực cho các cán bộ chính quyền các cấp.
Điều đó thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta nằm giúp
đỡ người nghèo vùng nghèo, nhanh chóng đuổi kịp các vùng khác nhằm đạt
mục tiêu tăng trưởng kinh tế công bằng, giảm chênh lệch quá mức về trình độ
phát triển kinh tế và thu nhập giữa các hộ, các xã các vùng trong cả nước.
IV/ Tỉnh Bắc Giang cụ thể hóa quan điểm chính sách của Đảng và
Nhà nước về xóa đói giảm nghèo:
Tỉnh Bắc Giang là tỉnh miền núi mới được tái lập năm 1997 có 10 huyện
I. Đặc điểm chung huyện Lục Nam.
22
22
Chuyên đề thực tập
1. Đặc điểm tự nhiêm.
1.1. Vị trí địa lý:
Lục Nam là huyện miền núi của tỉnh Bắc Giang, cách tỉnh 27 km và cách
thủ đô Hà Nội 70 km về phía Đông Bắc.
Lục Nam có 27 đơn vị hành chính, trong đó có 18 xã miền núi, 7 xã vùng
cao và 2 thị trấn, trung tâm huyện là thị trấn Đồi Ngô. Dân số toàn huyện có
khoảng 210.000 người ( 31/12/2006) gồm 8 dân tộc chung sống, trong đó dân
tộc kinh chiếm 86,6% và 7 dân tộc ít người chiếm 13,4%.
Tổng diện tích tự nhiên của huyện là 59.688 km², huyện có chiều dài từ
Đông sang Tây 70 km và có chiều rộng từ Bắc đến Nam 25 km. Phía Bắc tiếp
giáp với tỉnh Lạng Sơn ( huyện Hữu Lũng); phía Nam tiếp giáp tỉnh Hải
Dương ( huyện Chí Linh ) và tỉnh Quảng Ninh (huyện Đông Triều); phía Tây
tiếp giáp huyện Lạng Giang và Yên Dũng; phía Đông tiếp giáp huyện Sơn
Động; phía Đông Bắc tiếp giáp huyện Lục Ngạn.
1.2. Về địa hình:
Huyện Lục Nam có 3 dãy núi tạo thành 3 vòng cung từ Đông Bắc đến
Đông Nam; phía Đông Bắc có ngàn Bảo Đài gồm nhều đồi núi thấp, đỉnh cao
nhất là 284m. Phía Đông có vòng cung Yên Tử, đỉnh cao nhất là 779m. Phía
Đông Nam có dãy Huyền Đinh gồm nhiều triền núi hình lượn song, đỉnh cao
nhất là 615m. Đặc điểm trên tạo cho huyện có địa hình lòng chảo, nghiêng
dần về phía Tây Nam và địa hình được phân chia thành 3 vùng khác nhau:
vùng núi, vùng trung du và vùng chiêm trũng.
1.3. Khí hậu và thời tiết:
Khí hậu của huyện chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa. Nhiệt
độ trung bình trong năm khoảng 23,9ºC. Sự thay đổi nhiệt độ gữa các mùa
trong năm khá lớn. Nhiệt độ cao nhất (tháng 6 và 7) đạt 29,1ºC, thấp nhất
sống. Trong đó dân tộc kinh chiếm 86,6% và 7 dân tộc ít người chiếm 13,3%.
Mật độ dân số trung bình khoảng 328 người/km². Những đơn vị có mật độ dân
số cao là: thị trấn Lục Nam: 2.087 người/km², thị trấn Đồi Ngô 1.269 người/km²;
xã Phương Sơn 816 người/km²; xã Tiên Hưng 795 người/km²….
24
24