Nghiên cứu mô hình thu dung, cứu chữa nạn nhân hàng loạt do thảm họa tại bệnh viện tuyến cuối quân khu [FULL] - Pdf 29

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ QUỐC PHÒNG
HỌC VIỆN QUÂN Y

HOÀNG NGHĨA NAM

NGHIÊN CỨU MÔ HÌNH
THU DUNG, CỨU CHỮA NẠN NHÂN HÀNG LOẠT
DO THẢM HỌA TẠI BỆNH VIỆN
TUYẾN CUỐI QUÂN KHU LUẬN ÁN TIẾN SỸ Y HỌC HÀ NỘI- 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ QUỐC PHÒNG
HỌC VIỆN QUÂN Y HOÀNG NGHĨA NAM

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn: Thủ trưởng Bộ Quốc phòng, các cơ quan chức
năng Bộ Quốc phòng; Đảng ủy - Ban Giám đốc Học viện Quân y; Thủ trưởng và
các cơ quan chức năng Cục Quân y, Bộ Quốc phòng; Thường vụ Đảng ủy, Thủ
trưởng BTL Quân khu 4; Lãnh đạo, chỉ huy Cục Hậu cần QK4 đã tạo mọi điều
kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Tôi luôn biết ơn Bộ môn Tổ chức chỉ huy Quân y, Học viện Quân y đã
dành cho tôi những điều kiện tốt nhất để học tập, nghiên cứu khoa học.
Tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS. Phạm Văn Thao; TS. Nguyễn
Xuân Kiên - những người thầy đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình
học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án. Tôi xin chân thành cám ơn các Thầy
giáo, Cô giáo đã tham gia giảng dạy và giúp đỡ tôi trong những năm vừa qua.
Xin được tỏ lòng biết ơn và sự kính trọng sâu sắc tới các Giáo sư, phó
Giáo sư, Tiến sĩ trong Hội đồng chấm luận án đã dành nhiều thời gian, công sức
chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thiện và bảo vệ thành công luận án.
Tôi xin chân thành cảm ơn Đảng ủy - Ban Giám đốc, cán bộ nhân viên

HT Hộ tống
KHCN Khoa học công nghệ
NA-NĐ13 Nghệ An - Nam Đàn 13
NDMS National Disaster Medical System
(Hệ thống Y tế Quốc gia trong thảm họa)
PCTH Phòng chống thảm họa
PT Phẫu thuật
PTCCBĐ Phẫu thuật cứu chữa bước đầu
PTCCCB Phẫu thuật cứu chữa cơ bản
QCHQ Quân chủng Hải quân
QĐ Quân đoàn
QK Quân khu
QYCĐ Quân y cơ động
SAMU Service d

Aide Medicale Urgente
(Dịch vụ y tế cấp cứu khẩn cấp)

SMUR Services Mobiles d

Urgence et de Reanimation
(Dịch vụ cơ động Hồi sức cấp cứu khẩn cấp)
TCHC Tổng cục Hậu cần
TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam
TDCC Thu dung cứu chữa
TDCCNN Thu dung cứu chữa nạn nhân
TDPL Thu dung phân loại
TKCN Tìm kiếm cứu nạn
UBATGT Ủy ban An toàn giao thông
VSPD Vệ sinh phòng dịch

6
1.2. CÔNG TÁC ĐÁP ỨNG Y TẾ KHẨN CẤP ĐỐI VỚI THẢM HỌA
13
1.2.1. Tình hình thương vong, cơ cấu thương tích do thảm họa 13
1.2.2. Thực trạng công tác đáp ứng y tế khẩn cấp đối với thảm họa tại
một số nước trên thế giới
18
1.2.3. Thực trạng công tác đáp ứng y tế khẩn cấp đối với thảm họa tại
Việt Nam 29
1.3. MÔ HÌNH THU DUNG, CỨU CHỮA NẠN NHÂN HÀNG LOẠT DO

THẢM HỌA TẠI BỆNH VIỆN
34
1.3.1. Thực trạng khả năng thu dung, cứu chữa nạn nhân hang loạt
tại bệnh viện
34
1.3.2. Mô hình thu dung, cứu chữa nạn nhân hàng loạt của bệnh
viện qua một số cuộc diễn tập 34
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
37
2.1. ĐỐI TƯỢNG, CHẤT LIỆU, THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN C
ỨU
37
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu 37
2.1.2. Chất liệu nghiên c
ứu
37
2.1.3. Địa điểm nghiên cứu

38

3.1.2. Số lượng nhân viên và qui mô giường bệnh 59
3.1.3. Tình hình cơ sở vật chất, trang bị của các bệnh viện nghiên
cứu 61
3.1.4. Tình hình thu dung, cứu chữa của các bệnh viện nghiên
cứu trong 6 năm (từ 2007 đến 2012) 65

3.1.5. Thực trạng công tác tổ chức và khả năng triển khai thu dung,

cứu chữa nạn nhân hàng loạt của các bệnh viện nghiên cứu 68
3.1.6. Khả năng thu dung, cứu chữa nạn nhân hàng loạt của bệnh
viện 4 - QK4 qua diễn tập thực nghiệm CN-10 73
3.2. XÂY DỰNG MÔ HÌNH THU DUNG, CỨU CHỮA NẠN NHÂN HÀNG

LOẠT DO THẢM HỌA TẠI BỆNH VIỆN TUYẾN CUỐI QUÂN KHU

74
3.2.1. Căn cứ xây dựng mô hình 74
3.2.2. Nội dung mô hình thu dung, cứu chữa nạn nhân hàng loạt do
thảm họa tại bệnh viện tuyến cuối quân khu 77
3.2.3. Kết quả qua 2 lần diễn tập thực nghiệm tại Bệnh viện 4 –
QK4
84
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN
99
4.1. VỀ KHẢ NĂNG THU DUNG, CỨU CHỮA NẠN NHÂN HÀNG LOẠT
DO THẢM HỌA CỦA CÁC BỆNH VIỆN TUYẾN CUỐI QUÂN KHU
99
4.1.1. Về nhiệm vụ, tổ chức biên chế lực lượng 99
4.1.2. Về lực lượng và qui mô giường bệnh 103
4.1.3. Về cơ sở vật chất trang bị của bệnh viện 104

1
ĐẶT VẤN ĐỀ Những năm gần đây, tình hình thảm họa trên thế giới và Việt Nam diễn
biến rất phức tạp, chứa đựng nhiều yếu tố khó lường. Trên thế giới trung bình
cứ một tuần xảy ra một thảm họa lớn, cướp đi sinh mạng của hàng chục nghìn
người, hủy hoại nhiều cơ sở vật chất và các công trình kiến trúc có giá trị của
nhân loại, gây hậu quả nghiêm trọng môi trường sinh thái, ảnh hưởng trực
tiếp đời sống của hàng tỷ người [52], [78]. Thực tế cho thấy thảm họa xảy ra
hết sức đột ngột không hề báo trước, số lượng các nạn nhân cần được cứu
chữa, vận chuyển luôn vượt quá khả năng đáp ứng của ngành y tế. Bên cạnh
đó chính bản thân các cơ sở y tế trong khu vực thảm họa cũng bị thiệt hại
nặng nề cả về con người cũng như cơ sở vật chất [59], [69].
Để hạn chế đến mức thấp nhất tổn thất do thảm họa gây ra, cần có sự
phối hợp hành động của nhiều lực lượng và phương tiện trong đó ngành y tế
có vai trò quan trọng [2], [32]. Khi thảm họa xảy ra toàn bộ ngành y tế không
phân biệt quân y hay dân y đều phải tổ chức thu dung, cứu chữa các nạn nhân.
Việc tổ chức cứu chữa có hiệu quả hay không phụ thuộc rất nhiều vào khả
năng đáp ứng của ngành y tế trên tất cả các tuyến [20], [71], [74].
Tuyến bệnh viện nhất là các bệnh viện đóng ở nơi dân cư đông đúc, khi
thảm họa xảy ra sẽ có rất nhiều nạn nhân cần thu dung, cứu chữa trong cùng
một thời điểm và trong điều kiện hoàn toàn không thuận lợi. Vì vậy, các bệnh
viện cần có kế hoạch cụ thể, thường xuyên huấn luyện theo các tình huống
khác nhau, bảo đảm sẵn sàng đáp ứng y tế trong các tình huống khẩn cấp [10],
[11], [16]. Trong thời gian qua, công tác kết hợp quân dân y đã được triển
khai đều khắp trên cả nước, với nhiều nội dung phong phú đã góp phần nâng
cao chất lượng chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân và bộ đội. Tuy nhiên,
việc phối kết hợp trong việc thu dung, cứu chữa nạn nhân, khắc phục hậu quả


3
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN

1.1. TÌNH HÌNH THẢM HỌA VÀ THIỆT HẠI DO THẢM HỌA TRÊN THẾ GIỚI
VÀ TẠI VIỆT NAM
1.1.1. Khái niệm về thảm họa
1.1.1.1. Theo quan niệm của thế giới
Hiện nay trên thế giới người ta hiểu thuật ngữ thảm họa là để chỉ một số
lượng lớn nạn nhân được tạo nên do một hiện tượng hoặc một loạt sự kiện
xảy ra liên tiếp trong cùng một khoảng thời gian, và đã có một số định nghĩa
về thảm họa như sau:
Năm 1881, Littre đưa ra khái niệm đầu tiên: "Thảm họa là một bất hạnh
lớn nó tàn phá tận cùng có tính đáng thương".
Năm 1983 Ủy ban Châu Âu nghiên cứu về thảm họa họp ở Brigroles đã đề
xuất: “Thảm họa là một biến cố phá hủy gây nên tổn thương trầm trọng cho
nhân dân, môi trường, kéo theo sự thay đổi nhu cầu và phương tiện” [98].
Quan niệm của Vương Quốc Bỉ: “Thảm họa là vụ việc vượt quá khả
năng giải quyết của một cộng đồng, gây nên sự mất cân bằng đột xuất và ồ ạt
về số lượng và chất lượng giữa nhu cầu tức thì, đột ngột về các nguồn lực cơ
sở vật chất, trang thiết bị sẵn có. Về y tế cần phải đáp ứng y tế khẩn cấp khi
có tình trạng 5 nạn nhân nặng và nhiều người bị thương nhẹ hoặc 10 nạn
nhân có bệnh lý không xác định hoặc hơn 10 người trong tình trạng nguy
hiểm” [79], [99].
Theo Tổ chức y tế thế giới: “Thảm họa là các hiện tượng gây ra các
thiệt hại, các đảo lộn về kinh tế, các tổn thất về sinh mạng, sức khỏe con
người, các hư hại đến cơ sở y tế với một mức độ lớn, đòi hỏi sự huy động cứu
trợ đặc biệt từ ngoài đến vùng thảm họa” [37], [108], [129].

4

+ Trung bình từ 1 đến 24 giờ: cháy, sóng thần…
+ Thời gian dài trên 24 giờ: bão lụt, xung đột vũ trang, chiến tranh…
* Phân loại theo quan niệm của Y học Vương Quốc Bỉ [79]:
Các cấp độ của thảm họa được phân chia theo khu vực địa giới.
- Cấp xã (phường): thảm họa xảy ra giới hạn trong một xã (phường).
Công tác đáp ứng với thảm họa do xã trưởng điều hành.
- Cấp Tỉnh (vùng): thảm họa xảy ra tổn thất trong một tỉnh hoặc một
vùng, công tác đáp ứng thảm họa do Tỉnh trưởng chỉ huy điều hành.
- Cấp Liên bang: thảm họa gây ra tổn thất ở nhiều tỉnh hoặc nhiều bang,
công tác đáp ứng với thảm họa lúc này do Bộ Nội vụ điều hành.
1.1.2.2. Tại Việt Nam
Việt Nam phân loại thảm họa về cơ bản giống với cách phân loại của
các nước trên thế giới và được chia làm hai loại lớn đó là:
* Thảm họa do thiên nhiên: bão, lũ lụt, giông lốc, động đất [58], [75].
* Thảm họa do con người gây ra bao gồm [34], [61], [76], [62]:
- Các tai nạn giao thông: đường bộ, đường không, đường thủy.
- Các tai nạn trong công nghiệp: cháy nổ, rò rỉ phóng xạ
- Các tai nạn trong xây dựng kiến trúc: sập đổ nhà cửa, hầm lò
- Thảm họa do kinh tế - chính trị - xã hội: nạn đói, chiến tranh
- Thảm họa do dịch bệnh: dịch hạch, cúm, sởi, sốt xuất huyết
- Thảm họa do phá hoại môi trường: hạn hán, lũ lụt
Để phù hợp với công tác ứng cứu và đáp ứng y tế khẩn cấp đối với
thảm họa. Ở Việt Nam, phân loại thảm họa dựa vào các yếu tố sau:
- Dựa vào số người bị tác động trực tiếp của thảm họa.
+ Mức 1: Từ 30 - 100 nạn nhân, hoặc 20 - 50 người phải nằm viện.
+ Mức 2: Từ 101 - 500 nạn nhân, hoặc 51 - 200 người phải nằm viện.
+ Mức 3: Từ 501 - 2000 nạn nhân, hoặc 201 - 300 người phải nằm viện.
+ Mức 4: Có trên 2000 nạn nhân, hoặc có trên 300 người phải nằm viện.

6

28

20

13

21

31

17

15

237

Động đất 37

40

42

25

24

21

23


Lũ lụt 173

160

135

193

232

219

175

159

189

158

1.793

Cháy rừng 23

14

8

13


32

18

190

Núi lửa phun 7

2

5

8

12

6

7

3

6

6

62

Tố lốc 123


417

365

366

411

336

3.942

Nguồn: EM-DAT, CRED, University of Louvain Belgium, năm 2012 [95]
Thảm họa do thiên nhiên gây ra trên thế giới diễn biến rất phức tạp và
ngày càng gia tăng. Trong 10 năm (2002 - 2011), theo thống kê toàn thế giới
có 3.942 vụ thảm họa do thiên nhiên, trong đó lũ lụt chiếm 1.793 vụ, tố lốc
chiếm 1.022 vụ
Riêng tại châu Á, thảm họa thiên nhiên đã trở thành mối đe dọa thực sự
đối với các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ. Theo số liệu thống kê năm 2009
cho thấy, châu Á chiếm khoảng 40% trong tổng số hơn 330 vụ thiên tai trên

7
toàn thế giới, tổng số nạn nhân chiếm tới 89,0%, và thiệt hại do thảm họa đã
tăng lên tới gần 1.000 tỷ USD [95]. Tại Mỹ La-tinh và Caribe có gần 100
thảm họa thiên nhiên lớn xảy ra trong năm 2010 đã cướp đi sinh mạng của
hơn 223.000 người, ảnh hưởng đến 13,8 triệu người, gây thiệt hại vật chất lên
đến 49,9 tỷ USD [95]. Thảm họa thiên nhiên hay gặp nhất là lũ lụt, tố lốc,
động đất, hạn hán, nắng nóng và đây cũng chính là loại hình thảm họa gây ra
nhiều thương vong cho con người.
Những thiệt hại do một số thảm họa điển hình gây ra trong thời gian

thịt cá, sữa xung quanh khu vực nhà máy đều bị nhiễm xạ [124].
Bảng 1.2: Thiệt hại do thảm họa thiên nhiên từ 2002 - 2011
Đơn vị tính: Triệu USD
TH

Năm
Hạn
hán
Động
đất
Nắng
nóng
Lũ lụt
Cháy
rừng
Sạt
lở
tuyết
Núi
lửa
phun
Tố lốc
tổng
cộng

2002 10362

2585

-


45956

-

12722

4

12

-

10221

160698

2005 2254

7726

460

20277

4318

63

-


4989

-

-

32077

79893

2008 227

89655

22927

20664

2539

-

-

63402

199414

2009 2143


134797

2011 8142

230300

781

72551

2937

-

-

50872

365583

Tổng 33284

461532

42219

278043

27574

Bảng 1.3: Tổn thất do thảm họa mà con người gây ra trên thế giới
trong 10 năm (2002 – 2011).
Thiệt hại
Năm
Số người chết
Số người bị
ảnh hưởng
Tổng thiệt hại

(triệu USD)
2002 12.451 68 12.531
2003 10.750 667 -
2004 10.329 307 1.557
2005 11.652 100 484
2006 10.004 175 1
2007 7.651 48 943
2008 6.946 39 -
2009 6.854 33 1.600
2010 6.744 37 20.995
2011 6.228 55 1
Tổng cộng 89.609 1.529 38.112
Nguồn: EM-DAT, CRED, University of Louvain Belgium, năm 2012 [95]

10
Gần đây nhất, ngày 24 tháng 4 năm 2013 tại Bangladesh, một tòa nhà
cao 8 tầng của công ty dệt may đã bất ngờ đổ sập làm hơn 300 công nhân thiệt
mạng và nhiều người bị thương. Thiệt hại ước tính hàng trăm triệu USD.
1.1.3.2. Tình hình thảm họa tại Việt Nam
Việt nam là một nước phải hứng chịu nhiều loại thảm họa do tự nhiên
và do chính con người gây nên, hàng năm thảm họa đã cướp đi sinh mạng của

2010 989 52 103
2011 1139 62 112
Nguồn: Ủy ban Quốc gia tìm kiếm, cứu nạn, năm 2012 [48]
Thảm họa do con người gây ra thường gặp trong các tai nạn công
nghiệp; Các tai nạn giao thông; Các tai nạn trong xây dựng kiến trúc; Thảm
họa do hậu quả của phá hoại môi trường gây nên; Thảm họa do dịch bệnh
Tai nạn cháy nổ có xu hướng tăng và gây các thiệt hại lớn, nhất là con
số thương vong trong các tai nạn đã xảy ra [62], [76].
Tai nạn lao động gây thương tích ở các địa phương cũng là vấn đề cần
được chú ý để bảo đảm an toàn lao động. Các ngành than, xi măng, xây dựng
lắp máy, hóa chất luôn có những nguy cơ mất an toàn về lao động, điển hình
như vụ sập cầu Cần Thơ (Cần Thơ), sập mỏ đá Lèn Cờ, Bản Vẽ (Nghệ An)
Bảng 1.5: Số người chết và bị thương do tai nạn lao động tại Việt Nam
trong 5 năm (2007 – 2011)
Năm Số vụ Số người chết Số người bị thương
2007 6110 402 1870
2008 2337 382 2238
2009 2611 899 399
2010 2470 168 360
2011 3173 276 547
Nguồn: Ủy ban Quốc gia tìm kiếm, cứu nạn, năm 2012 [48]

12
Tình hình tai nạn giao thông có xu hướng ngày càng tăng, số người
chết và bị thương ngày càng nhiều. Theo số liệu của Uỷ ban An toàn giao
thông Quốc gia (ATGTQG), trung bình mỗi ngày có 76 vụ tai nạn giao thông
36 người chết và 85 người bị thương [78].
Bảng 1.6: Số người chết và bị thương do tai nạn giao thông
tại Việt Nam trong 10 năm (2003 - 2012)
Năm Số vụ Số người chết Số người bị thương

Tùy theo quan niệm và điều kiện của mỗi một nước mà y học thảm họa
có tên gọi khác nhau như: ở Liên Bang Nga gọi là y học trong điều kiện khẩn
cấp; Ở Mỹ được gọi là y tế đặc biệt; Ở Pháp được gọi là dịch vụ cấp cứu y tế
khẩn cấp hay còn gọi là y học thảm họa; Ở Bỉ, Hàn Quốc được gọi là cứu trợ
y tế trong tình trạng khẩn cấp nhưng tất cả đều có một nội dung là đáp ứng y
tế khẩn cấp đối với thảm họa [2], [67], [96], [134].
Công tác đáp ứng y tế khẩn cấp trong thảm họa bao gồm:
- Đáp ứng với các tình huống xảy ra bất ngờ, đột ngột. Đáp ứng tối
khẩn cấp trong đó có yếu tố kịp thời về thời gian là vô cùng quan trọng, vì
càng để muộn, để chậm, tình hình càng xấu thêm. Mặt khác triển khai đáp
ứng trong điều kiện hoàn cảnh hoàn toàn không thuận lợi, số lượng nạn nhân
nhiều mất cân đối giữa yêu cầu cần giải quyết và khả năng có được của ngành
y tế [23], [49], [72], [82].
- Đáp ứng y tế tại nơi bị nạn: là yếu tố quyết định đến sự sống còn
trong giai đoạn đầu của thảm họa, góp phần giải quyết tức thì một số vấn đề
liên quan đến việc thu dung phân loại cứu chữa nạn nhân. Do đó cần phải
đánh giá tại thực địa việc triển khai tìm kiếm, cứu nạn, cấp cứu tối khẩn cấp,
khẩn cấp những trường hợp nguy kịch; sơ cứu, phân loại sơ bộ để vận chuyển
theo chỉ định về các cơ sở y tế gần nhất để cứu chữa cho các nạn nhân [24],
[75], [82], [83], [89], [119].

14
- Công tác thu dung, cứu chữa nạn nhân đến khi khỏi và phục hồi chức
năng cho các nạn nhân do thảm họa tại các bệnh viện là công việc hết sức
nặng nề, đòi hỏi phải tổ chức thu dung, cấp cứu, điều trị cho một số lượng lớn
các nạn nhân trong cùng một thời điểm và trong điều kiện khó khăn về lực
lượng, cơ sở vật chất thiếu thốn là vấn đề không dễ dàng đối với các cơ sở y
tế. Vì vậy, các tuyến bệnh viện cần có các phương án, kế hoạch sẵn sàng đáp
ứng y tế khẩn cấp khi có thảm họa xảy ra [1], [7], [30], [64].
- Phòng chống dịch bệnh, vệ sinh môi trường, bảo vệ sức khỏe người

trên thế giới trong 10 năm (2002 – 2011) Năm
Hạn
hán
Động
đất
Nắng
nóng

lụt
Cháy
rừng
Khối
dịch
chuyển
Sạt
lở
tuyết
Núi
lửa
phun
Tố
lốc
tổng
cộng
2002 76903 1626 3019 4236 6 60 1100 200 1384 88544
2003 38 29617 74748 3770 47 - 707 - 1030 109957
2004 80 227290 556 7102 14 44 313 2 6609 242010

tổng
cộng
2002 428006

851

104

167789

31

305

278

111163

708526

2003 80968

4194

1890

169515

184


2

75027

7

10

341

49117

161335

2006 44371

3859

63

31124

3

432

379

67112


05

40

15652

226049

2009 109666

3221

856

58983

12

44

57

50583

223420

2010 135755

6937


209512

Tổng 931325

79057

90508

1175849

2146

3961

1439

398011

2684329

Nguồn: EM-DAT, CRED, University of Louvain Belgium, năm 2012 [95]

Trích đoạn Nội dung mụ hỡnh Diễn tập BMT-12 thỏng 7 năm 2012 (Triển khai theo phương ỏn 2) Xử lý vệ sinh cho nạn nhõn bị nhiễm độc: Cuộc diễn tập TDCCNN hàng loạt trong đổ sập cụng trỡnh nhà ở do m ưa bóo NA-NĐ13, thỏng 6/2013 (Triển khai mụ hỡnh theo phương ỏn 1) Về nhiệm vụ và tổ chức
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status