SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ KINH NGHIỆM RÈN KỸ NĂNG TẠO LẬP VĂN BẢN CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG - Pdf 29

MỘT SỐ KINH NGHIỆM RÈN KỸ NĂNG
TẠO LẬP VĂN BẢN CHO HỌC SINH
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI :
Trong phạm vi nhà trường phổ thông, chúng ta không đặt ra mục tiêu đào
tạo nên những người làm văn chương (những nghệ sĩ ngôn từ), mà tạo ra cho học
sinh một năng lực văn học (năng lực chiếm lĩnh khoa học về văn - bao gồm nhiều
lĩnh vực : văn học sử, lý luận văn học, khả năng cảm thụ, phân tích, giải thích tác
phẩm văn học ). Để đánh giá năng lực văn học của một học sinh, cần căn cứ trên
những mặt sau đây :
- Năng lực biết cảm nhận và chỉ ra được cái hay, cái đẹp của tác phẩm văn
học một cách chính xác.
- Khả năng nắm vững hệ thống kiến thức cơ bản về văn học bao gồm :
+ Kiến thức về lịch sử văn học.
+ Kiến thức về lý luận văn học.
+ Kiến thức về tác phẩm văn học.
- Khả năng biết diễn đạt và trình bày những suy nghĩ và tình cảm cũng như
những hiểu biết của mình một cách mạch lạc, sáng sủa và có sức thuyết phục theo
yêu cầu của một kiểu loại văn bản nào đó trong nhà trường.
Hiện nay có nhiều đề tài nghiên cứu, nhiều bài viết bàn đến việc rèn luyện
kỹ năng tạo lập văn bản cho học sinh, nhưng chưa trình bày những giải pháp cụ
thể, thiếu những dẫn chứng trong thực tế giảng dạy bộ môn và thiếu những khảo
sát năng lực tạo lập văn bản cho học sinh THPT trong vài năm gần đây.
Từ yêu cầu đổi mới phương pháp dạy và học, đổi mới phương pháp kiểm
tra, đánh giá, thực hiện yêu cầu của chuẩn kiến thức - kỹ năng và chương trình
giảm tải, phát huy năng lực tư duy sáng tạo của học sinh, tôi biên soạn đề tài :
"Một số kinh nghiệm rèn luyện kỹ năng tạo lập văn bản cho học sinh trung học
phổ thông". Trong đề tài này, người viết không có điều kiện trình bày chi tiết
những hiểu biết cơ bản về tác phẩm văn học và việc phân tích, cảm thụ, đánh giá
tác phẩm văn học, cũng như một số vấn đề về lịch sử văn học. Ở một chừng mực
nhất định, người viết xin được trình bày một cách khái quát một số kinh nghiệm về

duy và diễn đạt". Như vậy, năng lực văn học là một trong những mục tiêu rèn
luyện và tiêu chí đánh giá của môn Ngữ văn trong trường THPT.
2. Cơ sở thực tiễn :
- Qua thực tế giảng dạy, người viết nhận thấy năng lực tạo lập văn bản của
học sinh THPT hiện nay không đồng đều. Trong các lớp học, có nhiều học sinh
viết câu văn mạch lạc; đoạn văn đúng cấu trúc; ít mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ
pháp; văn có hình ảnh, giàu cảm xúc; trình bày văn bản sạch đẹp. Nhưng cũng có
những học sinh trình bày văn bản thiếu cẩn thận, viết sai chính tả, dùng từ sai,
đoạn văn quá dài (tới 2 - 3 trang giấy), diễn đạt thiếu trôi chảy, chép sai dẫn
chứng
2
- Nhiều học sinh còn học thuộc các ý, các đoạn văn trong sách tham khảo,
ngại suy nghĩ, dành nhiều thời gian cho các môn khoa học tự nhiên, chưa thật sự
yêu thích môn Ngữ văn.
- Trong nhiều bài viết của học sinh, còn sử dụng cách viết tắt, sử dụng từ
ngữ của ngôn ngữ sinh hoạt, ngôn ngữ mạng.
- Một số giáo viên chưa chú ý sửa lỗi trong bài viết của học sinh, còn đếm ý
cho điểm, hoặc chấm sót ý, hoặc cho điểm quá cao so với thực tế bài làm của học
sinh.
- Trong các đợt chấm thi tốt nghiệp THPT, vẫn còn những bài văn nghèo
nàn về ý, diễn đạt lủng củng, còn hạn chế trong việc liên hệ với thực tiễn xã hội
hiện nay.
- Một số giáo viên chưa phát huy tốt vai trò tích cực, chủ động, sáng tạo của
học sinh. Vẫn còn tình trạng đọc chép, truyền thụ một chiều.
III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP :
1. Giải pháp 1 : Hướng dẫn, kiểm tra, đánh giá việc học sinh nắm được
hệ thống kiến thức cơ bản về văn học.
a. Cách thức tổ chức thực hiện :
- Phạm vi đối tượng : Toàn thể học sinh trong lớp.
- Thời gian thực hiện : Thực hiện trong suốt cả năm học.

Một thực tế là ở trường THPT, những kiến thức về lý luận văn học chưa
được các thầy cô giáo và học sinh chú ý đúng mức. Những kiến thức về lý luận văn
học thực sự có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo nên năng lực văn học của một học
sinh, nhất là những học sinh giỏi văn. Vì vậy, trong quá trình giảng dạy, giáo viên
cần trang bị và hệ thống lại một số kiến thức cơ bản và thiết thực của lý luận văn
học như : tác phẩm văn học, đặc trưng thể loại, phong cách tác giả, đề tài, chủ đề,
hình tượng, điển hình để giúp các em lĩnh hội, phân tích, khám pháp vẻ đẹp của
tác phẩm văn học được tốt hơn, sâu sắc hơn.
b. Các dữ liệu minh chứng :
Khi học bài thơ Câu cá mùa thu của Nguyễn Khuyến (chương trình Ngữ văn
11), tôi đã tổ chức cho học sinh trong lớp tìm hiểu bài học, nắm được hệ thống
kiến thức - kỹ năng trọng tâm của bài học. Hướng dẫn học sinh suy nghĩ, phát biểu
cảm nhận của mình về nội dung của bài học qua hệ thống câu hỏi :
+ Giới thiệu vài nét về tác giả Nguyễn Khuyến?
+ Vị trí của Nguyễn Khuyến trong nền văn học dân tộc ?
+ Bài thơ Câu cá mùa thu được sáng tác trong hoàn cảnh nào ?
+ Bài thơ được viết theo thể thơ nào ? Nhận xét về cách gieo vần của tác giả ?
+ Nêu đề tài của văn bản ? Sưu tầm những bài thơ của tác giả có cùng đề tài.
+ Đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm ?
+ Học thuộc bài thơ và đọc trước lớp.
+ Xác định điểm nhìn của nhân vật trữ tình trong bài thơ ?
+ Mùa thu được thi nhân gợi tả bằng những hình ảnh nào ?
+ Hiệu quả của nghệ thuật đối trong hai câu luận ?
+ Nêu cảm nhận của anh (chị) về hai câu kết của bài thơ ?
4
+ So sánh hình ảnh của trăng trong bài thơ với hình ảnh trăng trong thơ
trung đại Việt Nam (Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, ) ?
Để trả lời những câu hỏi trên, học sinh phải biết huy động, vận dụng các
kiến thức về lịch sử văn học, tác phẩm văn học, lý luận văn học. Từ đó, rèn luyện
cho học sinh khả năng cảm thụ được cái hay, cái đẹp của tác phẩm văn chương và

tranh luận, giúp cho việc hiểu bài học được sâu sắc hơn. Có thể tích hợp với kiến
thức đã học, kiến thức của phân môn Tiếng Việt, Làm văn để nêu câu hỏi tranh
5
luận. Chỉ tranh luận khi có vấn đề mâu thuẫn, đối lập nhau hoặc có cách hiểu chưa
đúng. Tranh luận phải luôn hướng vào trọng tâm kiến thức - kỹ năng của bài học.
Khi trình bày vấn đề, phát biểu tranh luận, học sinh phải hướng tới chuẩn
phát âm, dùng từ ngữ chính xác, diễn đạt bằng lời nói rõ ràng, mạch lạc, có hệ
thống, tránh dùng từ khẩu ngữ ít quen thuộc, tránh dùng câu tỉnh lược, thiếu hô
ngữ, ngắt câu sai. Giáo viên phải nhắc nhở, uốn nắn cách dùng từ, cách diễn đạt
bằng ngôn ngữ nói của học sinh.
b. Các dữ liệu minh chứng :
Khi tìm hiểu bốn câu thơ đầu trong đoạn trích Chí khí anh hùng (trích
Truyện Kiều - Nguyễn Du), giáo viên nêu câu hỏi để học sinh thảo luận, thấy được
vẻ đẹp về tư tưởng, nghệ thuật của bài thơ; cảm nhận được chiều sâu tâm hồn, tư
tưởng của Nguyễn Du :
1. Nêu chủ đề của bốn câu thơ ?
2. Từ trượng phu trong văn bản chỉ nhân vật nào ?
3. Từ thoắt thể hiện điều gì ? Lòng bốn phương nghĩa là gì ?
Giáo viên còn nêu câu hỏi để học sinh tranh luận, tích hợp với kiến thức
phân môn Tiếng Việt : Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật, giúp cho việc nắm vững
nội dung bài học được phong phú, sâu sắc hơn. Các câu hỏi từ dễ đến khó, với mục
đích phát triển năng lực của học sinh :
1. Xác định phong cách ngôn ngữ của văn bản ?
2. Hình tượng người anh hùng Từ Hải với khát vọng lên đường cao đẹp
được thể hiện thông qua những từ ngữ, hình ảnh nào ?
3. Nguyễn Du đã thể hiện thái độ, tình cảm gì đối với nhân vật Từ Hải ?
4. Sáng tạo đặc sắc của Nguyễn Du trong việc xây dựng hình tượng người
anh hùng Từ Hải.
Câu hỏi (1) giúp học sinh nhận diện được phong cách ngôn ngữ nghệ thuật,
câu hỏi (2) tích hợp với đặc trưng tính hình tượng, câu hỏi (3) tích hợp đặc trưng

chưa tích cực trong các hoạt động của lớp, của trường. Thiếu quan tâm đến những
học sinh này là chỉ tạo điều kiện cho những em năng động, hoạt bát, học giỏi được
rèn luyện phát triển năng lực.
3. Giải pháp 3 : Lựa chọn từ ngữ và sử dụng từ ngữ.
a. Cách thức tổ chức thực hiện :
- Phạm vi đối tượng : Toàn thể học sinh trong lớp.
7
Sự thức dậy
bất ngờ, mạnh mẽ
Khát vọng lên đường
của Từ Hải
Chí nguyện lập
công danh sự nghiệp
Vẻ đẹp của người
anh hùng lý tưởng
Tư thế ra đi dứt khoát,
không do dự
- Thời gian thực hiện : Thực hiện trong suốt năm học.
Biết lựa chọn và sử dụng từ ngữ một cách chính xác là một trong những yếu
tố để có cách diễn đạt hay. Giáo viên hướng dẫn học sinh sử dụng sách giáo khoa
và các trang thiết bị dạy học, tìm những từ ngữ, câu văn, đoạn văn sử dụng nhiều
từ hay, nhiều biện pháp tu từ, nhiều hình ảnh đẹp, thể hiện sâu sắc tình cảm, tư
tưởng của tác giả. Học sinh sẽ thấy đoạn thơ, đoạn văn có ấn tượng và hay. Tạo
nên ấn tượng sâu đậm ấy là do tác giả đã lựa chọn được một số từ ngữ mới lạ, độc
đáo.
Khi chấm bài kiểm tra của học sinh (kể cả bài kiểm tra 15 phút và bài kiểm
tra viết, bài kiểm tra giữa học kỳ), giáo viên cần sửa lại những câu văn, đoạn văn
học sinh đã dùng từ không chính xác. Đồng thời cũng ghi nhận, ngợi khen những
bài văn có cách dùng từ hay, gợi cảm xúc cho người đọc.
b. Các dữ liệu minh chứng :

Tức là tùy vào từng lúc, từng nơi, đúng lúc, đúng chỗ, tùy giọng văn của từng đoạn
mà có những loại câu cho phù hợp :
+ Để trực tiếp diễn đạt tình cảm, thái độ của mình, người ta thường dùng các
câu cảm thán.
+ Khi muốn gây sự chú ý của người đọc, ta có thể dùng câu nghi vấn.
+ Loại câu có hai mệnh đề (hô - ứng) cũng có nhiều tác dụng làm thay đổi
giọng văn, làm cho văn bản phong phú về ý nghĩa.
+ Khi dùng loại câu khẳng định và phủ định, cần chú ý tránh cách diễn đạt
tuyệt đối. Tức là phải uyển chuyển, có mức độ trong nhận xét, đánh giá.
Rèn luyện kỹ năng tạo lập văn bản cho học sinh cần phải rèn luyện cách viết
câu, sửa các lỗi thường gặp trong đoạn văn của học sinh. Các kiểu lỗi thường gặp
là sai về ngữ pháp, sai về ngữ nghĩa, giữa các câu trong đoạn văn không có mối
quan hệ lôgic về ý nghĩa, thiếu các phương tiện liên kết câu trong đoạn văn.
b. Các dữ liệu minh chứng :
Giáo viên thường xuyên hướng dẫn học sinh viết các câu kể, câu cảm thán,
câu nghi vấn, nhất là đối với học sinh lớp 10, mới bước vào trường THPT, vừa tiếp
cận với chương trình, sách giáo khoa mới. Giáo viên hướng dẫn học sinh biết kết
hợp các yếu tố miêu tả và biểu cảm trong bài văn tự sự và biết sử dụng linh hoạt
các kiểu câu trong quá trình tạo lập văn bản. Ví dụ : câu miêu tả vẻ xinh đẹp, dịu
dàng, chăm chỉ của Tấm; câu cảm thán khi thể hiện thái độ cảm thông, yêu thương
Tấm, căm ghét sự tàn ác của dì ghẻ và Cám
Khi viết loại câu có hai mệnh đề, học sinh cần chú ý sử dụng đầy đủ hai vế
hô và ứng thì câu mới đầy đủ, trọn vẹn : Càng càng ; không những mà còn ;
vì cho nên ; tuy nhưng Viết câu chỉ có một vế là một lỗi khá phổ biến của
học sinh. Một em học sinh lớp 11 viết : "Tuy bài thơ được sáng tác trong hoàn
cảnh ngục tù. Nên chúng ta vẫn thấy tràn đầy một tinh thần lạc quan". Câu văn
này dùng sai quan hệ từ (tuy nên), phải sửa lại là tuy nhưng ở hai vế câu, sửa
dấu chấm thành dấu phẩy (sửa hai câu đơn thành một câu ghép chính phụ) thì quan
hệ hô ứng giữa hai vế rõ ràng hơn - Có một học sinh lại viết: "Bài thơ không chỉ
hay về nghệ thuật mà còn sắc sảo về ngôn từ". Câu này không sai về ngữ pháp

+ Liên kết nội dung: Bao gồm hai liên kết : liên kết lôgic và liên kết chủ đề.
°
Liên kết lôgic : là sự liên kết mà trong đó các câu có mối quan hệ lôgic phù
hợp với không gian, thời gian, phù hợp với ý chính của đoạn.
°
Liên kết chủ đề : là sự thể hiện mối quan hệ giữa các câu trong việc thể
hiện chủ đề. Nói rõ hơn trong liên kết chủ đề, thể hiện ở các câu đều tập trung làm
rõ một ý chính nào đó, một chủ đề nhỏ nào đó.
Liên kết lôgic và liên kết chủ đề liên hệ chặt chẽ với nhau.
+ Liên kết hình thức : nhằm thể hiện sự liên kết nội dung. Các phép liên kết
câu trong đoạn văn: phép lặp (lặp từ vựng, lặp cú pháp), phép thế (thế đồng nghĩa,
thế bằng đại từ), phép nối, phép tỉnh lược, phép tuyến tính
10
Sự liên kết nội dung và liên kết hình thức trong đoạn văn quan hệ chặt chẽ
với nhau, hòa vào nhau. Liên kết nội dung được biểu thị bằng hàng loạt các liên kết
hình thức, liên kết hình thức nhằm biểu hiện liên kết nội dung. Việc ôn tập, hướng
dẫn cho học sinh nắm được cấu trúc của đoạn văn và sử dụng các phép liên kết
luôn được thực hiện trong quá trình dạy học trên lớp, chấm trả bài. Đồng thời, giáo
viên phải hướng dẫn học sinh viết đoạn văn đúng kết cấu,. Nhiều đoạn văn đúng
kết cấu sẽ tạo nên một bài văn hoàn chỉnh, mạch lạc, hấp dẫn. Ở trường THPT,
chúng ta thường gặp bốn kiểu kết cấu đoạn văn sau :
+ Kết cấu diễn dịch.
+ Kết cấu quy nạp.
+ Kết cấu hỗn hợp diễn dịch - quy nạp.
+ Kết cấu song hành.
Trong quá trình chấm bài, gặp những đoạn văn có lỗi, giáo viên cần chữa lỗi
đoạn văn cho học sinh.
b. Các dữ liệu minh chứng :
* Rèn luyện sử dụng các phương tiện liên kết trong đoạn văn :
- Cho học sinh viết đoạn văn ngắn (8 - 10 câu) có sử dụng các phương tiện

° Phần phát triển đoạn : Gồm các câu kế tiếp triển khai những ý phụ nhằm
làm rõ câu chủ đề (ký hiệu B, C, D, E, ).
+ Vận dụng kết cấu diễn dịch vào viết đoạn văn giải thích, bình luận; phân
tích một vấn đề, một ý nào đó; viết đoạn kết bài.
Ví dụ : Viết đoạn văn chứng minh nhận định : "Thơ Tố Hữu đậm đà tính dân
tộc".
Học sinh đã viết được đoạn văn sau :
"Nghệ thuật thơ Tố Hữu đậm đà tính dân tộc. Tố Hữu sử dụng đa dạng các
thể loại, nhưng đặc biệt thành công trong các thể thơ truyền thống. Thơ lục bát
(các bài "Việt Bắc, Kính gửi cụ Nguyễn Du ) Kết hợp cả giọng thơ cổ điển và dân
gian, thể hiện những nội dung tình cảm cách mạng mà có gốc rễ trong truyền
thống tinh thần của dân tộc, làm phong phú cho thể thơ lục bát của dân tộc. Thơ
bảy chữ của Tố Hữu (các bài "Quê mẹ", "Mẹ Tơm", "Bác ơi !" ) trang trọng, có
màu sắc cổ điển nhưng biến hóa linh hoạt, diễn tả được nhiều trạng thái cảm xúc".
- Kết cấu quy nạp :
+ Mô hình kết cấu quy nạp :
12
A
D EB C
E
C DA B
+ Giải thích mô hình : Kết cấu này cũng gồm hai phần như kết cấu diễn dịch
nhưng trình bày theo chiều ngược lại.
° Phần phát triển đoạn : Gồm các câu phân tích các hiện tượng, các yếu tố
riêng lẻ, cụ thể được triển khai trước, đứng ở đầu đoạn văn (ký hiệu A, B, C, D).
° Phần kết đoạn : Gồm một câu diễn đạt ý khái quát, tổng hợp các ý riêng lẻ,
chi tiết ở trên để đi đến một nhận định, kết luận chung, đứng ở cuối đoạn (ký hiệu E).
+ Vận dụng kết cấu quy nạp vào viết đoạn văn mở bài; đoạn văn tiểu kết
một ý, chuẩn bị chuyển sang ý khác; đoạn văn cuối phần thân bài; đoạn kết bài.
Ví dụ : Viết đoạn kết bài theo kết cấu quy nạp với câu chủ đề : "Xuân Quỳnh

- Kết cấu song hành :
+ Mô hình kết cấu song hành :
A _________________
B _________________
C _________________
D _________________
E _________________
+ Giải thích mô hình : Theo kết cấu này, các câu được trình bày trong đoạn
văn đều có tầm quan trọng như nhau trong việc biểu đạt nội dung của toàn đoạn.
Không có câu nào mang ý chính và có thể bao quát được ý của các câu trong đoạn.
Đây là đoạn văn không có câu chủ đề. Câu chủ đề được hiểu ngầm.
+ Vận dụng kết cấu song hành vào viết đoạn thân bài; đoạn văn có nhiều so
sánh tương đồng; đoạn văn có nhiều ý nhỏ có quan hệ đẳng lập với nhau; đoạn văn
có chủ đề phong phú mà chủ đề này không thể viết hết trong một câu văn.
Ví dụ : Sau đây là đoạn văn có kết cấu song hành :
"Núi rừng mùa đông tươi tắn, màu sắc rực rỡ, "rừng xanh hoa chuối đỏ
tươi". Núi rừng mùa xuân dịu dàng, tinh khiết, tràn đầy sức sống "mơ nở trắng
rừng". Núi rừng mùa hạ đẹp lãng mạn, âm thanh sinh động "ve kêu rừng phách đổ
vàng". Núi rừng mùa thu huyền ảo, lung linh dưới ánh trăng vàng "rừng thu trăng
rọi hòa bình"
(Bài làm của học sinh)
* Chữa đoạn văn có lỗi :
Sau đây là một đoạn văn có lỗi của học sinh :
(1) Tnú là một người giàu tình nghĩa, gắn bó đầy trách nhiệm với cách
mạng theo cụ Mết, theo dân làng Sô Ma nuôi dấu bộ đội. (2) Hết lòng lo lắng đến
sự an toàn của các anh bộ đội. (3) Giống như cây Xà Nu vươn lên trong đau
thương và mất mát, những ngày đi theo cách mạng chịu biết bao kìm kẹp tù đày,
tái tê nỗi đau mất mát vợ con và những di tích dã man trên lưng ngang dọc vết dao
14
chém của kẻ thù nhưng tất cả không có gì có thể quật ngã được, trả thù bằng cách

"Tnú là một người giàu tình nghĩa, anh dũng bất khuất. Anh gắn bó tha thiết
với dân làng Xô Man, với cách mạng, đầy trách nhiệm với cách mạng. Anh cùng
với cụ Mết và dân làng Xô Man nuôi giấu cán bộ. Anh lo lắng, hết lòng bảo vệ cán
bộ. Cuộc đời của Tnú giống như một cây xà nu vươn lên ánh sáng trong đạn đại
15
bác khốc liệt của kẻ thù. Anh đã chịu biết bao đau thương, mất mát : bị kìm kẹp tù
đày, bị giặc tra tấn, tê tái nỗi đau mất mát vợ con, lưng anh còn dấu tích ngang
dọc vết dao chém của bọn ác ôn. Nhưng không có gì có thể quật ngã anh. Tnú đã
xung phong đi bộ đội trả thù cho vợ con, cho dân làng".
Đoạn văn sửa lại gồm 8 câu theo kết cấu diễn dịch. Mô hình của đoạn như
sau :
c. Phân tích, so sánh, đánh giá kết quả :
Trong quá trình rèn luyện kỹ năng viết đọa văn cho học sinh và chữa các
đoạn văn có lỗi của học sinh, tôi rút ra một số kinh nghiệm như sau :
- Đoạn văn có lỗi là đoạn văn vi phạm quy tắc xây dựng đoạn :
+ Vi phạm kết cấu đoạn, đoạn văn không tuân theo một mô hình kết cấu
đoạn nào cả.
+ Vi phạm tính thống nhất, tính liên tục, tính mạch lạc, làm cho đoạn văn
không thể hiện được chủ đề.
+ Vi phạm các phép liên kết, sử dụng các phép liên kết không chính xác.
+ Nhiều câu sai ngữ pháp, ngữ nghĩa, dùng từ không chính xác, mắc lỗi
chính tả, viết chữ không đúng quy cách,
- Xác định đoạn văn có lỗi :
+ Phát hiện lỗi : Muốn phát hiện lỗi chính xác thì phải đọc kỹ, chấm kỹ bài
văn của học sinh. Căn cứ vào những tiêu chí của đoạn văn không lỗi để phát hiện
đoạn văn có lỗi.
+ Đặt đoạn văn có lỗi đó trong mối quan hệ với các đoạn văn trước và sau
nó để tìm mạch văn, tìm ý chính mà học sinh muốn diễn đạt trong đoạn văn có lỗi.
- Xác định ý chính của đoạn :
+ Muốn tìm được ý chính của đoạn thì ta phải tìm mối liên kết giữa các ý

liên quan đến chủ đề của đoạn văn. Vì vậy, học sinh phải được luyện tập nhiều
trong ba năm học ở trường THPT. Ngoài việc đảm bảo tính hệ thống, đảm bảo nội
dung của đoạn văn, học sinh còn luyện tập để viết những câu văn hay, sáng tạo,
giàu cảm xúc.
6. Giải pháp 6 : So sánh, liên hệ, đối chiếu :
a. Cách thức tổ chức thực hiện :
- Phạm vi đối tượng : Toàn thể học sinh trong lớp.
- Thời gian thực hiện : Thực hiện trong suốt cả năm học.
Đối với văn sáng tác, đặc biệt là văn miêu tả, tường thuật, kể chuyện, dứt
khoát phải giàu hình ảnh. Văn nghị luận nói chung là loại văn của tư duy khái
niệm, của duy lý lôgic - ý tứ cần chặt chẽ, sáng sủa, lập luận phải chắc chắn, bảo
đảm độ chính xác cao, giàu sức thuyết phục. Tuy nhiên, nói như thế không có
nghĩa là loại văn bản này từ chối mọi cảm xúc, hình ảnh. Bởi vì chỉ có hình ảnh
mới dựng lên được bức tranh cụ thể, sinh động về cuộc sống, con người và sự vật.
Bài văn nghị luận hay là bài văn vừa giàu sức thuyết phục, làm cho chân lý sáng
tỏ, vừa hấp dẫn. Biện pháp cơ bản nhất để tạo nên bài viết có hình ảnh là người
viết dùng phép so sánh, liên hệ, đối chiếu. Ở đây những tư tưởng trừu tượng, khái
quát, khô khan được minh họa, diễn đạt bằng cách so sánh với hàng koạt hình ảnh
cụ thể, sinh động tạo nên sự thích thú cho người đọc không kém gì văn sáng tác.
Những so sánh hay là những so sánh vừa chính xác, vừa bất ngờ thú vị. So sánh
hay bao giờ cũng gợi cảm, gợi trí tưởng tượng và những liên tưởng phong phú
trong lòng người đọc.
17
Trong quá trình làm văn, người viết có thể so sánh hai nền văn học, hai giai
đoạn văn học, hai phong cách, hai chi tiết nghệ thuật (có thể so sánh hai hay
nhiều hơn). Có thể so sánh với những tác phẩm nằm ngoài chương trình sách giáo
khoa. Vận dụng biện pháp so sánh văn học, một mặt để làm sáng tỏ được vấn đề,
mặt khác nó chứng tỏ người viết có vốn sống phong phú.
Chúng ta đang thực hiện đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới phương
pháp kiểm tra đánh giá theo phát triển năng lực của học sinh. Đề bài ra theo hướng

trong truyện ngắn Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi".
c. Phân tích, so sánh, đánh giá kết quả :
18
Để liên hệ so sánh văn học và làm những đề bài có sử dụng thao tác lập luận
so sánh, người viết phải có vốn tri thức phong phú về văn chương. Tuy vậy cần
chú ý, so sánh cốt là để làm nổi bật cái hay, cái đẹp của tác phẩm được phân tích,
bình giảng chứ không phải để phô trương kiến thức, rơi vào lan man, mất trọng
tâm, trọng điểm, khiến bài viết tản mạn, lạc đề, gây cảm giác khó chịu cho người
đọc. Những so sánh hay là những so sánh làm cho người đọc thấy tự nhận, không
gượng ép mà vấn đề lại được nổi bật.
7. Giải pháp 7 : Lựa chọn dẫn chứng và trình bày dẫn chứng:
a. Cách thức tổ chức thực hiện :
- Phạm vi đối tượng : Toàn thể học sinh trong lớp.
- Thời gian thực hiện : Thực hiện trong suốt cả năm học.
Nếu văn sáng tác trước hết tác động về tình cảm, cảm xúc thẩm mỹ thì văn
nghị luận trước hết tác động tới lý trí, trí tuệ người đọc bằng lý lẽ và dẫn chứng lý
lẽ làm người ta hiểu, dẫn chứng làm người ta tin. Một khi đã hiểu và tin tức là đã bị
thuyết phục. Nếu văn sáng tác, khi mô tả cuộc sống, khi dựng người dựng cảnh,
phải chọn lựa chi tiết tiêu biểu điển hình, thì văn nghị luận cũng phải lựa chọn dẫn
chứng cho thích đáng.
Trước hết cần phân biệt dẫn chứng bắt buộc và dẫn chứng mở rộng. Dẫn
chứng bắt buộc là dẫn chứng nằm trong phạm vi yêu cầu của đề về tư liệu. Còn
dẫn chứng mở rộng là loại dẫn chứng ngoài phạm vi trên do người viết tự viện
dẫn ra để liên hệ, đối chiếu, so sánh làm sáng tỏ thêm ý đang được bàn bạc.
Phân biệt được hai loại dẫn chứng như thế để người viết chú ý tuân thủ quy
tắc sau đây : phải coi trọng và tập trung vào dẫn chứng bắt buộc, tránh tình trạng
dẫn chứng mở rộng lại nhiều hơn, coi trọng hơn, làm lấn át cả dẫn chứng bắt buộc.
Nghĩa là dẫn chứng mở rộng chỉ là để làm sáng tỏ thêm cho dẫn chứng bắt buộc.
Dẫn chứng bắt buộc cho người đọc thấy bề sâu của người phân tích, còn qua dẫn
chứng mở rộng thấy được bề rộng về kiến thức văn học của người đó.

cho mình một gia tài dẫn chứng phong phú đa dạng trên nhiều phượng diện.
Nhưng điều quan trọng hơn là cần suy nghĩ cách phân tích, bình giá, cách sử dụng
các dẫn chứng ấy sao cho có hệ thống và đạt được hiệu quả cao.
8. Giải pháp 8 : Giọng văn biểu cảm, một yếu tố tạo nên chất văn:
a. Cách thức tổ chức thực hiện :
- Phạm vi đối tượng : Toàn thể học sinh trong lớp.
- Thời gian thực hiện : Thực hiện trong suốt cả năm học.
Trong văn bản nghị luận, trong tư duy suy lý, lôgic nhưng vẫn cần màu sắc
biểu cảm để bộc lộ thái độ và tình cảm của người viết đối với vấn đề được bàn
luận. Giọng văn của bài nghị luận cũng phải thay đổi, linh hoạt, tránh kiểu viết một
giọng, đều đều từ đầu đến cuối, tạo cảm giác đơn điệu. Muốn thế, trước hết cần sử
dụng linh hoạt hệ thống từ nhân xưng. Khác với ngôn ngữ một số nước, từ xưng hô
trong tiếng Việt rất giàu màu sắc biểu cảm và hết sức phong phú. Để diễn đạt ấn
tượng chủ quan của riêng mình, người viết thường xưng hô tôi (tôi cho rằng, theo
tôi ). Nhưng để lôi kéo sự đồng tình, đồng cảm về vấn đề bàn bạc trở nên khách
quan hơn, người viết thường xưng : chúng tôi, chúng ta, như mọi người biết khi
viết về ngôi thứ ba (vắng mặt) như phân tích một nhân vật, gọi tên một tác giả nào
đó, cần xác định một đại từ cho phù hợp để tránh sự đơn điệu, lặp lại. Muốn như
vậy, vốn từ đồng nghĩa phải thật phong phú.
20
Không phải chỉ ở cách xưng hô, giọng văn linh hoạt còn thể hiện ở cách
dùng các quan hệ từ, từ chuyển tiếp, quán ngữ như : đúng thế, thật vậy, không
điều ấy đã rõ, như vậy, như thế, chẳng lẽ, Những từ này tạo nên ấn tượng như
người viết đang đối thoại hay tranh luận với người đọc.
b. Các dữ liệu minh chứng :
Ví dụ : Khi phân tích nhân vật Chí Phèo, người viết lúc có thể gọi : y, hắn,
gã, Chí Phèo, nó, con quỷ dữ của làng Vũ Đại, thằng chuyên rạch mặt ăn vạ,
thằng cùng nhất trong đám cùng đinh Nhưng khi nói tới một Chí Phèo lương
thiện thì có thể dùng : anh, anh ta,
Nhiều học sinh suốt từ đầu đến cuối bài văn, chỗ nào cũng thấy xưng "nhà

về vấn đề đổi mới dạy học và kiểm tra, đánh giá theo định hướng phát triển năng
lực học sinh .
+ Tổ trưởng chuyên môn tổ chức tập huấn cho giáo viên trong tổ, bắt đầu
thực hiện từ tháng 10/2014 đến hết năm học 2014 - 2015 và những năm học tiếp
theo.
b. Các dữ liệu minh chứng :
- Thực hiện cho tất cả các bài viết định kỳ, bài kiểm tra giữa kỳ, cuối học kỳ.
- Tổ chức dạy học theo chủ đề, kiểm tra theo chủ đề, thống nhất ma trận để
trong mỗi bài kiểm tra.
- Bài kiểm tra định kỳ : mỗi giáo viên ra 1 đề, nộp đề, đáp án vào cùng một
thời gian đã quy định, tổ chức bắt thăm đề kiểm tra cho các lớp.
- Tổ chức họp tổ nhận xét nội dung, phương pháp ra đề của mỗi giáo viên,
rút kinh nghiệm cho những bài kiểm tra sau.
c. Phân tích, so sánh, đánh giá kết quả :
Môn Ngữ Văn hình thành và bồi dưỡng cho học sinh năng lực tiếp nhận văn
bản (gồm kỹ năng nghe và đọc) và năng lực tạo lập văn bản (gồm kỹ năng nói và
viết). Để đánh giá được các năng lực Ngữ văn của học sinh, các bài kiểm tra phải
mang tính chất rèn luyện, thực hành, gắn với các tình huống của cuộc sống, tạo cơ
hội để học sinh phát triển năng lực. Với yêu cầu tạo lập văn bản, học sinh cần nêu
được quan điểm rõ ràng, thể hiện sự hiểu biết sâu sắc, toàn diện về vấn đề mà đề
bài yêu cầu; tìm được dẫn chứng từ các tác phẩm một cách chính xác và phù hợp;
nêu được giá trị của các phương tiện nghệ thuật mà tác giả sử dụng, diễn đạt mạch
lạc và có cảm xúc (ở bài nghị luận văn học); nêu được quan điểm hoặc tư tưởng
riêng để trình bày hoặc giải quyết vấn đề mà đề bài yêu cầu; triển khai luận điểm
bằng những luận cứ, luận chứng chính xác, phù hợp, diễn đạt mạch lạc (ở bài
nghị luận xã hội).
IV. HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI :
Sáng kiến kinh nghiệm này được tôi áp dụng trong hoạt động dạy và học,
đạt được kết quả khả quan. Học sinh tiến bộ, chất lượng bài làm văn được tăng lên.
Kết quả khảo sát qua kiểm tra tự luận 40 học sinh lớp 11 trong năm học

nhiều tình huống, đặt mình vào vị trí của người viết (người nói) giả định cũng như
người đọc (người nghe), giả định để định ra nội dung và cách viết cho phù hợp.
Luyện tập như thế nội dung và cách viết sẽ linh hoạt, không cứng nhắc, rập khuôn,
máy móc với cách luyện tập ấy, khi bước vào cuộc sống, các em sẽ rất chủ động,
không bỡ ngỡ và lúng túng trước những tình huống và các đối tượng thay đổi khác
nhau.
Văn học là nghệ thuật ngôn từ, học văn là học cái hay, cái đẹp. Tác phẩm
văn học là một bức tranh sinh động về cuộc sống và con người. Để trở thành một
học sinh giỏi văn, ngoài việc tích lũy và rèn luyện để có một năng lực văn học, học
sinh muốn giỏi văn còn cần trang bị rất nhiều kiến thức phổ thông như lịch sử,
địa lý, âm nhạc, hội họa, điện ảnh, sân khấu và hơn hết là tình yêu văn chương,
tâm hồn nhạy cảm trước vẻ đẹp của văn chương.
23
VI. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO :
1. Sách giáo khoa Ngữ văn 10, tập 1, Nhà xuất bản Giáo dục, năm 2011.
2. Sách giáo khoa Ngữ văn 10, tập 2, Nhà xuất bản Giáo dục, năm 2011.
3. Sách giáo khoa Ngữ văn 11, tập 1, Nhà xuất bản Giáo dục, năm 2012.
4. Sách giáo khoa Ngữ văn 11, tập 2, Nhà xuất bản Giáo dục, năm 2012.
5. Sách giáo khoa Ngữ văn 12, tập 1, Nhà xuất bản Giáo dục, năm 2013.
6. Sách giáo khoa Ngữ văn 12, tập 2, Nhà xuất bản Giáo dục, năm 2013.
7. Sách hướng dẫn chuẩn kiến thức, kỹ năng môn Ngữ văn lớp 10, Nhà xuất
bản Giáo dục, năm 2010.
8. Sách hướng dẫn chuẩn kiến thức, kỹ năng môn Ngữ văn lớp 10, Nhà xuất
bản Giáo dục, năm 2011.
9. Sách hướng dẫn chuẩn kiến thức, kỹ năng môn Ngữ văn lớp 10 - Nhà xuất
bản Giáo dục - năm 2012.
10.Đổi mới dạy học và kiểm tra, đánh giá ở trường Trung học theo định hướng
phát triển năng lực của học sinh, Vụ Giáo dục Trung học, Bộ Giáo dục và
Đào tạo, Hà Nội, năm 2014.
VII. PHỤ LỤC :


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status