1
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
TRUNG TÂM NUÔI DẠY TRẺ KHUYẾT TẬT
Mã số: ………………. SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Người thực hiện: NGUYỄN THỊ NHUNG
Lĩnh vực / Môn nghiên cứu:
Giáo dục khuyết tật: Phương pháp dạy học môn toán.
Một số biện pháp giúp học sinh khiếm khính học tốt phân môn tập viết lớp 1A
(Năm: 2013 – 2014).
3
NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN
CHO HỌC SINH KHIẾM THÍNH LỚP 1B
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong các kiến thức toán ở chương trình toán Tiểu học thì kiến thức “Giải
toán có lời văn” là kiến thức khó khăn nhất đối với học sinh, và càng khó khăn
hơn đối với học sinh khiếm thính mới vào lớp Một. Bởi vì đối với học sinh lớp
Một: Vốn từ, vốn hiểu biết, khả năng đọc hiểu, khả năng tư duy lôgic của các em
còn rất hạn chế. Đa số các em học sinh khiếm thính lớp Một chưa biết cách tự
học, chưa học tập một cách tích cực. Nhiều khi với một bài toán có lời văn các
em có thể đặt và tính đúng phép tính của bài nhưng không thể trả lời hoặc lý giải
là tại sao các em lại có được phép tính như vậy. Thực tế hiện nay cho thấy, các
ngôn ngữ quan trọng nhất. Căn cứ vào ứng dụng của ngôn ngữ học, trẻ khiếm thính sẽ
được học các môn học thông qua phiên bản dịch- tức là dịch từ ngôn ngữ lời nói, chữ
viết sang một dạng ngôn ngữ khác. Đó chính là ngôn ngữ kí hiệu dành cho người
khiếm thính.
- Trẻ khuyết tật thính giác tri giác chủ yếu bằng cơ quan thị giác (nhìn, quan sát)
và cơ giác vận động (cầm, nắm, sờ, . . .). Chính vì thế mà trẻ điếc tri giác những sự
vật, hiện tượng cụ thể dễ dàng hơn tri giác không gian và thời gian.
- Trẻ có tật thính giác chú ý không chủ động chiếm ưu thế, chú ý cái mới lạ, hấp
dẫn, trực quan gợi cảm, khối lượng chú ý ít, phân phối chú ý kém, không bền vững,
ảnh hưởng nhiều đến quá trình nhận thức. Trẻ có tật thính giác ghi nhớ máy móc là
chính, vì vốn ngôn ngữ nghèo nàn. Trẻ điếc luôn có xu hướng học thuộc lòng từng
câu, chữ, song có khi không hiểu gì, không nhận thức được điều gì thuộc bản chất của
vấn đề.
- Quá trình nhận thức và tư duy của trẻ điếc bằng con đường trực quan và hành
động là chính. Do đó giáo viên dạy trẻ điếc cần áp dụng phương pháp trực quan và
hoạt động thực hành. Trẻ vừa làm vừa nhận thức, vừa suy nghĩ và rất cần yếu tố trực
quan: như quan sát, sờ nắn sự vật, nhìn thấy hình ảnh và hoạt động trực tiếp với sự
vật, sự việc. Từ đó, giúp các em áp dụng toán học vào đời sống một cách có hiệu quả.
Đây cũng chính là con đường dẫn dắt các em đến với cộng đồng xã hội và ngược lại.
1.2. Giải toán có lời văn:
“Giải toán có lời văn” là một trong những kiến thức cơ bản xuyên suốt chương
trình Toán cấp tiểu học. Thông qua giải toán có lời văn, các em được phát triển trí tuệ,
được rèn luyện kỹ năng tổng hợp: đọc, viết, diễn đạt, trình bày, tính toán. Toán có lời
văn là kiến thức tổng hợp của các kiến thức toán học. Thông qua giải toán có lời văn
các em sẽ được giải các loại toán về số học, các yếu tố đại số, các yếu tố hình học và
đo đại lượng. Giải toán có lời văn là chiếc cầu nối giữa toán học và thực tế đời sống,
giữa toán học với các môn học khác.
2. Một số phƣơng pháp thƣờng sử dụng trong dạy: "Giải bài toán có lời
văn" ở lớp Một:
2.1. Phƣơng pháp trực quan:
cả bao nhiêu cây?
Năm học
Sĩ số
lớp
Kết quả thu được qua kiểm tra khảo sát
Đặt câu lời giải
phù hợp
Làm phép tính
và ghi đơn vị đúng
Ghi đáp số
đúng và đủ
2014 - 2015
10
3 - 30%
4 – 40%
4 – 40%
Nhìn bảng kết quả có thể nhận thấy đa số học sinh chưa biết đặt câu lời
giải; chưa biết làm phép tính và tính đúng, chưa biết ghi đáp số đúng.
3.1. Đặc điểm học sinh khiếm thính 1B:
- Do học sinh còn nhỏ tuổi, việc tập trung chú ý trong giờ học còn kém cho nên
khi học toán các em thường lúng túng, tính không chính xác.
- Vốn ngôn ngữ kí hiệu, ngôn ngữ hình miệng của các em còn hạn chế dẫn đến
vốn từ của các em còn ít. Do vậy mà việc tiếp thu kiến thức do giáo viên truyền đạt
hạn chế, nhất là việc giải thích các bài toán có lời văn hoặc cách thực hiện phép tính.
6
- Việc học của các em khác so với học sinh bình thường đó là các em chưa hiểu
hết nghĩa của từ đặc biệt là từ ghép. Các em hiểu từ một cách đơn lẻ, chưa biết tổng
hợp logic thành câu. Điều này dẫn đến các em hiểu sai nội dung yêu cầu của bài tập.
khiếm thính từ lớp 1 đến lớp 5 tại Trung tâm Nuôi dạy trẻ khuyết tật Đồng Nai
và xác định chuẩn kiến thức kĩ năng đối với học sinh khiếm thính lớp 1B:
Chương trình học của học sinh tiểu học khiếm thính tại Trung tâm Nuôi dạy trẻ
khuyết tật Đồng Nai như sau: Các em học theo chương trình sách giáo khoa của Bộ
Giáo dục và Đào tạo hiện hành trong 6 năm. Trong đó chương trình lớp 1 học trong 2
7
năm, năm đầu là lớp 1A, năm sau là lớp 1B. Lớp 1A học theo chương trình học kì I
của lớp 1 theo quy định của Bộ, lớp 1B học theo chương trình học kì II của lớp 1 theo
quy định của Bộ. Còn các lớp từ lớp 2 đến lớp 5, mỗi lớp học 1 năm.
Do vậy môn toán của lớp 1B khiếm thính tại Trung tâm học theo chương trình
học kì II của lớp 1 theo quy định của Bộ. Tức là các em sẽ học kiến thức: Các số
trong phạm vi 100; đo độ dài; giải toán có lời văn; phép cộng, phép trừ trong phạm vi
100; đo thời gian.
Như vậy một tuần các em sẽ có 6 tiết, một bài sẽ học trong 2 tiết, nội dung bài sẽ
được kéo dãn và các em có nhiều thời gian thực hành để có thể nắm vững kiến thức
cơ bản. Giai đoạn đầu học sinh còn đang học chữ nên chưa thể dạy ngay "Bài
toán có lời văn". Mặc dù đến tận tuần 23, học sinh mới được chính thức học cách
giải "Bài toán có lời văn" song chúng ta đã có ý ngầm chuẩn bị từ xa cho việc
làm này ngay từ bài "Phép cộng trong phạm vi 3 (Luyện tập) " ở tuần 7.
Bắt đầu từ tuần 7 cho đến các tuần 35 trong hầu hết các tiết dạy về phép
cộng, trừ trong phạm vi (không quá) 10 đều có các bài tập thuộc dạng "Nhìn
tranh nêu phép tính" ở đây học sinh được làm quen với việc:
- Xem tranh vẽ.
- Nêu bài toán bằng lời.
- Nêu câu trả lời.
- Điền phép tính thích hợp (với tình huống trong tranh).
Ví dụ: Đối với học sinh khiếm thính sau khi xem tranh vẽ ở trang 51
(SGK), học sinh tập nêu bằng lời: "Có 3 quả táo, thêm 2 táo. Nếu học sinh không
nêu được giáo viên có thể gợi ý bằng cách đặt câu hỏi lần lượt như: Có mấy quả
bạn phát biểu qua kí hiệu ngôn ngữ, hình miệng. Vị trí chỗ ngồi đóng vai trò không
nhỏ trong việc giúp các em tiếp thu kiến thức, làm cho lớp học thêm sinh động; tạo
cho các em tự tin, chủ động tích cực trong giờ học. Bố trí chỗ ngồi hình vòng cung là
thích hợp nhất với đối tượng học sinh khiếm thính. Với vị trí như vậy, rất tiện cho các
em quan sát bài toán, tranh, ảnh, hình vẽ trên bảng lớp. Khi bạn khác phát biểu, dễ
dàng trao đổi và đặc biệt là tránh được trường hợp các em làm việc riêng trong khi
giáo viên giảng bài. Mỗi học sinh sẽ có một bàn viết cá nhân và một ghế nhựa (loại
ghế cao) riêng. Khi giáo viên giảng bài, các em được tập trung lại ngồi hình vòng
cung bằng ghế nhựa, khi viết bài các em sẽ về bàn viết cá nhân của mình cũng được
bố trí theo hình vòng cung. - Ổn định, tổ chức khởi động cho học sinh: Sau khi ổn định vị trí chỗ ngồi, giáo
viên cần cho học sinh khởi động trước khi vào tiết học chính thức. Qua hoạt động vui
chơi khi khởi động, bước đầu giúp các em tập trung sự chú ý vào giáo viên, không khí
vui tươi, tự nhiên sẽ theo các em vào tiết học. Các em sẽ không bị áp lực trước giờ
học, tinh thần thoải mái giúp cho các em tự tin, hưng phấn hơn và sẽ chủ động hơn
trong các hoạt động học tập.
9
- Với đối tượng là học sinh lớp 1B khiếm thính, cần phải được lặp lại nhiều. Vì
vậy giáo viên nên chọn hình thức nhóm, lớp thi đua để tăng sự cạnh tranh, kích thích
hứng thú trong giờ học, tạo cơ hội cho học sinh phát huy được tính chủ động tích cực
của bản thân nhằm nâng cao hiệu quả giải toán có lời văn cho học sinh.
Ví dụ:
- Làm bài tập trên phiếu theo nhóm.
- Thi đua tiếp sức theo nhóm. 3. Giải pháp 3: Hƣớng dẫn học sinh cách "Giải bài toán có lời văn" ở
b) Hƣớng dẫn học sinh cách “Tóm tắt bài toán”:
Trong giai đoạn đầu, giáo viên giúp học sinh tóm tắt đề toán bằng cách đàm
thoại "Bài toán cho gì? Hỏi gì?" và dựa vào câu trả lời của học sinh giáo viên
gạch chân các từ ngữ chính trong đề bài, sau đó cho học sinh dựa vào các từ ngữ
chính được gạch chân để viết tóm tắt. Đây là cách rất tốt để giúp học sinh biết
tóm tắt bài toán một cách đơn giản nhất.
Thông thường có 3 cách tóm tắt đề toán:
- Tóm tắt bằng lời:
Ví dụ 1: Nhà An có 5 con gà, mẹ mua thêm 4 con gà. Hỏi nhà An có tất cả
mấy con gà?(SGK Toán 1 trang 117)
Có : 5 con gà
Thêm : 4 con gà
Có tất cả:…con gà?
11
- Tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng:
Ví dụ 2: Đoạn thẳng AB dài 5cm, đoạn thẳng BC dài 3cm. Hỏi cả hai đoạn
thẳng dài bao nhiêu xăng – ti – mét?(Bài 2/ SGK Toán 1 trang 123)
5 cm 3 cm
A B C ? cm
- Tóm tắt bằng sơ đồ mẫu vật:
Ví dụ 3: Có 5 quả cam, mẹ mua thêm 2 quả cam. Hỏi có tất cả mấy quả
cam ?
Có :
và thói quen trình bày bài giải một cách chính xác, khoa học, sạch đẹp dù trong
giấy nháp, bảng lớp, bảng con hay vở, giấy kiểm tra và quan trọng là thống nhất
cách trình bày bài giải một bài toán có lời văn. d) Kiểm tra lại bài làm:
Do học sinh còn nhỏ tuổi nên đa số các em đều có thói quen khi làm bài
xong không hay xem, kiểm tra lại bài đã làm. Vì vậy giáo viên cần giúp học sinh
xây dựng thói quen học tập này như: kiểm tra về lời giải, về phép tính, về đáp số,
thường xuyên nhắc nhở học sinh tự kiểm tra lại bài của mình, đổi vở chéo để bạn
kiểm tra bài lẫn nhau, tự sửa lại lỗi sai của mình…
4. Giải pháp 4: Khắc sâu “Giải toán có lời văn":
Sau khi đọc đề toán giáo viên khắc sâu cho học sinh bằng cách gạch chân
một số từ khoá quan trọng như "thêm, và, tất cả, " hoặc "bớt, bay đi, ăn mất,
còn lại” để xác định phép tính “cộng”, “trừ”. Ngoài việc dạy cho học sinh hiểu và
13
giải tốt "Bài toán có lời văn" giáo viên cần giúp các em hiểu chắc, hiểu sâu loại
toán này. Ở mỗi bài, mỗi tiết giáo viên cần phát huy tư duy, trí tuệ, phát huy tính
tích cực chủ động của học sinh bằng việc hướng cho học sinh tự tóm tắt đề toán,
tự đặt đề toán theo dữ kiện đã cho, tự đặt đề toán theo tóm tắt cho trước, giải toán
từ tóm tắt, nhìn tranh vẽ, sơ đồ viết tiếp nội dung đề toán vào chỗ chấm ( ), đặt
câu hỏi cho bài toán.
Ví dụ 1: Nhìn tranh vẽ, viết tiếp vào chỗ chấm để có bài toán, rồi giải bài
toán đó:
Bài toán: Dưới ao có con vịt, có thêm con vịt nữa chạy xuống. Hỏi
?
Ví dụ 2: Giải bài toán theo tóm tắt sau:
Có : 7 hình tròn
Tô màu : 3 hình tròn
cả bao nhiêu cây?
Năm học
Sĩ số
lớp
Kết quả thu được qua kiểm tra
Đặt câu lời giải
phù hợp
Làm phép tính
và ghi đơn vị đúng
Ghi đáp số
đúng và đủ
2014 - 2015
10
9 - 90%
10 – 100%
10 - 100%
Qua tổng hợp kết quả kiểm tra khảo sát ở cuối năm học 2014-2015 (với đề
bài tương tự) phần lớn học sinh biết làm bài toán có lời văn. Kết quả của bài toán
đúng. Học sinh ham học, có hứng thú học tập môn Toán nói chung và “Giải bài toán
có lời văn” nói riêng. Học sinh bước đầu biết vận dụng bài toán có lời văn vào thực tế
và tỉ lệ sai sót của học sinh giảm đi rõ rệt.
V. ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG
Để việc giáo dục trẻ khuyết tật nói chung và trẻ khiếm thính nói riêng đạt kết
quả cao, tôi có một số đề xuất, khuyến nghị như sau:
1. Đối với Giáo viên:
- Cần điều chỉnh nội dung chương trình học tập cho phù hợp với từng trình độ
và sự khiếm khuyết của học sinh.
- Luôn tìm tòi, sáng tạo, kết hợp linh hoạt các phương pháp, hình thức tổ chức
dạy học làm cho bài giảng phong phú và lôi cuốn học sinh, phát huy tối đa tính tích
cực chủ động của học sinh vào quá trình học tập.
Để đạt được điều này trước hết là có sự quan tâm của Ban Giám đốc về cơ sở
vật chất, sự chỉ đạo sâu sát của tổ chuyên môn. Hơn hết là tinh thần trách nhiệm cao
của người giáo viên, có tâm với nghề, tận tụy yêu thương trẻ khuyết tật cũng như
không ngại khó khăn trong việc áp dụng các phương pháp làm thế nào cho trẻ khiếm
thính có thể tiếp thu bài học một cách hiệu quả nhất. Quan trọng nhất là bản thân các
em có sự nỗ lực phấn đấu, vượt qua chính mình để hòa nhập với cuộc sống.
Xin trân trọng cảm ơn!
VI. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sách giáo viên, sách giáo khoa toán lớp 1, nhà xuất bản Giáo dục, Bộ
GD&ĐT.
2. GS.TS Nguyễn Quang Uẩn. Giáo trình tâm lí trẻ khiếm thính, Đại học Sư
phạm Tp. Hồ Chí Minh (2004).
3. Tài liệu học tập chính thức do Bộ GD&ĐT qui định đối với lớp 1.
4. Phương pháp dạy học toán, nhà xuất bản Đại học Sư phạm (2006).
5. Nâng cao khả năng dạy học trẻ khiếm thính, Viện chiến lược và phát triển.
6. Các phương pháp dạy trẻ Khuyết tật.
Ngƣời thực hiện Nguyễn Thị Nhung
16
PHIẾU NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Năm học: 2014 – 2015
Tên sáng kiến kinh nghiệm: Nâng cao hiệu quả giải toán có lời văn cho học sinh khiếm
CHUYÊN MÔN
SỞ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
TT NUÔI DẠY TRẺ KHUYẾT TẬT CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Biên Hòa, ngày…. tháng … năm 2015