SỞ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TỈNH ĐỒNG NAI
Đơn vị: Trường THPT Vĩnh Cửu
Mã số:……………….
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NÂNG CAO NĂNG LỰC
CHO ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN DẠY HỌC
E-LEARNING TRƯỜNG THPT VĨNH CỬU
Người Thực hiện: Bùi Thị Ngọc Nga
Lĩnh vực nghiên cứu:
Quản lí giáo dục: QLCNTT
Phương pháp dạy học bộ môn…
Lĩnh vực khác…………………
Có đính kèm:
Mô hình
Phần mềm
Phim ảnh
Hiện vật khác
Năm học: 2014 – 2015
SỞ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TỈNH ĐỒNG NAI
Đơn vị: Trường THPT Vĩnh Cửu
Mã số:……………….
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NÂNG CAO NĂNG LỰC
CHO ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN DẠY HỌC
E-LEARNING TRƯỜNG THPT VĨNH CỬU
− Số năm có kinh nghiệm: Giảng dạy từ năm 2007.
− Đạt giải Sáng tạo kỹ thuật tỉnh Đồng Nai năm 2011.
− Đạt chiến sĩ thi đua cơ sở 2011-2012
− Bằng khen của UBND tỉnh Đồng Nai năm 2012.
− Đạt chiến sĩ thi đua cơ sở 2012-2013
− Đạt chiến sĩ thi đua cấp tỉnh 2012-2013
− Đạt chiến sĩ thi đua cơ sở 2013-2014
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến lãnh đạo Trường THPT
Vĩnh Cửu đã tạo điều kiện tốt cho tôi tìm hiểu thực tế tại đơn vị.
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể Thầy cô giáo Trường THPT Vĩnh Cửu đã
hỗ trợ cho tôi và giúp đỡ tôi hoàn thành tốt chuyên đề nghiên cứu này.
Cảm ơn các cấp lãnh đạo đã tạo điều kiện cho tôi có cơ hội đóng góp một
phần kinh nghiệm nhỏ bé của mình cho ngành giáo dục nói chung và cho các
trường bạn nói riêng.
Xin cảm ơn gia đình và bạn bè đã động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình tìm
tài liệu, nghiên cứu để tôi hoàn thành quá trình nghiên cứu cho chuyên đề này.
Chuyên đề này được chuẩn bị với tất cả tâm huyết và nổ lực của bản thân,
trong suốt thời gian giảng dạy và làm quản lý. Tôi đã trang bị cho mình một trình
độ nhận thức nhất định để áp dụng vào thực tiễn công tác và cuộc sống.
Mặc dù, bản thân đã có nhiều cố gắng trong quá trình nghiên cứu thực hiện
chuyên đề, xong thiết nghĩ những thiếu sót trong chuyên đề là không thể tránh
khỏi. Kính mong sự đóng góp ý kiến quý báu của quý lãnh đạo, quý Thầy cô giáo,
Ban giám khảo và các bạn đồng nghiệp nhằm giúp cho bản thân hoàn thành tốt
chuyên đề cũng như có thêm những kiến thức thực tiễn để đáp ứng yêu cầu, nhiệm
vụ công tác trong thời gian tới.
Trân trọng cảm ơn!
MỤC LỤC
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI: 1
đó chính là con người. Do đó, việc xây dựng và phát triển đội ngũ GV không chỉ là
vấn đề mang tính lý luận mà còn có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc đối với sự phát triển
giáo dục của nước ta.
Trong những năm gần đây, với các chủ trương của Bộ Giáo Dục hướng đến
việc ứng dụng công nghệ thông tin trong các đơn vị nhà nước, dần “điện tử hóa”
các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục. Riêng trong giáo dục, việc ứng dụng công
nghệ thông tin không chỉ dừng ở mức quản lý mà còn ứng dụng trong việc giảng
dạy và học tập. Bên cạnh đó, Bộ Giáo Dục còn có chủ trương sử dụng các phần
mềm mã nguồn mở tại các đơn vị giáo dục. Từ năm học 2009-2010 Bộ Giáo Dục
đã phát động cuộc thi “thiết kế hồ sơ bài giảng điện tử e-learning”, mục đích chính
của cuộc thi này là nhằm đẩy mạnh phong trào ứng dụng công nghệ thông tin trong
đổi mới nội dung và phương pháp giảng dạy một cách sáng tạo, hiện đại.
Nhận thức được ý nghĩa và tầm quan trọng của vấn đề trên nên đề tài
“BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NÂNG CAO NĂNG LỰC CHO ĐỘI NGŨ GIÁO
VIÊN DẠY HỌC E-LEARNING TRƯỜNG THPT VĨNH CỬU” đã được chọn
để nghiên cứu.
2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN:
2.1. Lý do pháp lý
Bộ Giáo Dục và Đào Tạo đã có chủ trương ứng dụng CNTT trong giáo
dục như chỉ thị 55/2008/CT-BGDĐT ngày 30/09/2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo Dục
và Đào Tạo về tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng CNTT trong ngành giáo
dục giai đoạn 2008-2012 nêu rõ: “Triển khai áp dụng CNTT trong dạy và học, hỗ
trợ đổi mới phương pháp giảng dạy, tích hợp ứng dụng CNTT ngay trong mỗi môn
học một cách hiệu quả và sáng tạo ở những nơi có điều kiện thiết bị tin học; xây
dựng nội dung thông tin số phục vụ giáo dục; phát huy tính tích cực tự học, tự tìm
Trang 1
tòi thông tin qua mạng Internet của người học; tạo điều kiện để người học có thể
học ở mọi nơi, mọi lúc, tìm được nội dung học phù hợp; xoá bỏ sự lạc hậu về công
nghệ và thông tin do khoảng cách địa lý đem lại”.
Trong kế hoạch tổng thể phát triển nguồn nhân lực CNTT đến năm 2015
Quản lý là một khoa học vì nó là lĩnh vực tri thức được hệ thống hóa và là
đối tượng nghiên cứu khách quan đặc biệt. Quản lý là khoa học về phân loại và xử
lý các quan hệ, đặc biệt là quan hệ giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý. Với
tư cách là khoa học, quản lý đòi hỏi các nhà quản lý phải không ngừng học tập để
nâng cao năng lực (NCNL) quản lý.
Quản lý là một nghệ thuật đạt được mục tiêu đã đề ra thông qua việc điều
khiển, phối hợp, hướng dẫn, chỉ huy hoạt động của những người khác.
Trang 2
Quản lý vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật, nó mang tính khoa học
vì các hoạt động QL có tổ chức, có định hướng dựa trên những qui luật, những
nguyên tắc và những phương pháp hoạt động cụ thể. Đồng thời QL cũng mang tính
nghệ thuật, vì nó vận dụng một cách sáng tạo trên những điều kiện cụ thể trong sự
kết hợp và tác động nhiều mặt của các yếu tố khác nhau trong xã hội.
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo “Quản lý là quá trình gây tác động của chủ thể
quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung”.
Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế
hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể người lao động (nói chung là khách thể quản
lý), nhằm thực hiện các mục tiêu dự kiến”.
Công nghệ thông tin (CNTT): CNTT là tập hợp các phương pháp khoa học,
công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý,
lưu trữ và trao đổi thông tin số”. (Theo Luật Công nghệ thông tin – 2006 do
Quốc hội thông qua ngày 29 tháng 6 năm 2006).
Truyền thông: Theo từ điển Bách khoa Việt Nam, “truyền thông là quá trình
trao đổi thông điệp giữa các thành viên hay các nhóm người trong xã hội nhằm đạt
được sự hiểu biết lẫn nhau. Hoạt động trao đổi thông điệp có tính phổ biến giữa
nguồn phát với công chúng xã hội rộng rãi được gọi là truyền thông đại chúng”.
E-learning: là hình thức đào tạo dựa trên CNTT và truyền thông, đặc biệt là
CNTT.
Năng lực: Khi nói đến năng lực là nói đến khả năng đạt được kết quả trong
một hoạt động nào đó. Muốn có kết quả thì cá nhân phải có những phẩm chất tâm
cho học sinh.
Vì vậy chuyên đề đưa ra một hướng tiếp cận trong cách giải quyết vấn đề là
xây dựng website học tập cho trường THPT Vĩnh Cửu nhằm giúp học sinh ngoài
việc học ở lớp, học sinh có thể tự học ở nhà hoặc có thể học mọi lúc mọi nơi; giáo
viên chủ động tổ chức nội dung giảng dạy trên lớp và trên trang web của trường,
giảm việc nhồi nhét kiến thức vào tiết dạy trên lớp.
3. TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP
Trong giai đoạn hiện nay, giáo dục không những cần phải đào tạo ra những
con người có tri thức khoa học, mà còn phải giỏi cả thực hành. Qua việc dạy học
E-learning sẽ dần dần làm thay đổi cách tiếp cận dạy và học, hành vi và phong
cách dạy và học, tình huống diễn ra hoạt động dạy và học; làm thay đổi môi trường
học tập. Trọng điểm là CNTT làm thay đổi môi trường học tập. GV và HS là
những đối tác quan trọng trong quá trình ứng dụng CNTT. Trong đó, vai trò và
nhiệm vụ GV rất quan trọng, góp phần trong việc nâng cao chất lượng DH ở
trường THPT nói chung, dạy học E-learning nói riêng. Việc ứng dụng CNTT trong
giảng dạy thì việc khai thác mạng internet như một phương tiện hiện đại hỗ trợ tác
nghiệp là một xu hướng thịnh hành. Học tập trực tuyến thu hút được sự quan tâm
ngày càng nhiều của các tổ chức giáo dục đào tạo, các đơn vị nghiên cứu triển khai
công nghệ thông tin, đặc biệt là sự quan tâm của các trường đại học và các viện
nghiên cứu. Tuy nhiên, ở trường THPT chưa được quan tâm nhiều.
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn về tính cấp thiết cần phải có một hệ thống để
quản lý và hỗ trợ cho GV ứng dụng CNTT vào dạy học E-learning. Từ đó tôi tiến
hành xây dựng hệ thống cổng điện tử học tập, nhằm tạo ra môi trường học tập hiện
đại và đáp ứng chủ trương ứng dụng CNTT trong giáo dục của Bộ Giáo Dục.
Để thực hiện giải pháp, tôi thực hiện:
- Tìm hiểu các chính sách chủ trương ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo
dục.
- Khảo sát hiện trạng sử dụng internet, việc dạy và học E-learning của học sinh và
giáo viên tại trường phổ thông.
Trang 4
Giảng viên (A): Giảng viên các khoa, giáo viên thỉnh giảng chịu trách nhiệm cung
cấp nội dung của khóa học cho phòng xây dựng nội dung (C) dựa trên những kết quả học
tập dự kiến nhận từ phòng quản lý đào tạo (D). Ngoài ra họ sẽ tham gia tương tác với học
viên (B) qua hệ thống quản lý học tập LMS (2).
Học viên (B): Sinh viên và các đối tượng có nhu cầu học tập. Họ sẽ sử dụng cổng
thông tin người dùng để học tập, trao đổi với giảng viên (qua hệ thống LMS – 2), sử dụng
các công cụ hỗ trợ học tập (3).
Trang 5
Thành phần hệ thống eLearning
- Phòng xây dựng chương trình (C): Các chuyên viên đảm nhận trách nhiệm xây dựng,
thiết kế bài giảng điện tử (thiết kế kịch bản, soạn thảo nội dung, kỹ thuật multimedia, lập
trình bài giảng, ). Sử dụng hệ thống quản lý nội dung LCMS (1), các chuyên viên này
lấy nội dung khóa học từ các giảng viên (A) và chuyển những nội dung đó thành bài
giảng điện tử. Trong quá trình xây dựng, các chuyên viên có thể sử dụng những đơn vị
kiến thức sẵn có trong ngân hàng kiến thức (I) hoặc dùng các công cụ thiết kế (4) để thiết
kế những đơn vị kiến thức mới. Sản phẩm cuối cùng là các bài giảng điện tử được đưa
vào ngân hàng bài giảng điện tử (II).
- Phòng quản lý đào tạo (D): Các chuyên viên đảm trách nhiệm vụ quản lý việc đào tạo
(qua hệ thống LMS – 2). Ngoài ra thông qua hệ thống này, các chuyên viên cần phải tập
hợp được các nhu cầu, nguyện vọng của học viên về chương trình, nội dung học tập để
lập nên những yêu cầu cho đội ngũ giảng viên, tạo nên một chu trình kín góp phần liên
tục cập nhật, nâng cao chất lượng giảng dạy.
- Cổng thông tin người dùng hay còn gọi là user’s portal: Giao diện chính cho học viên
(B), giảng viên (A) cũng như các phòng (C) (D) truy cập vào hệ thống đào tạo. Giao diện
này hỗ trợ truy cập qua Internet từ máy tính cá nhân hoặc thậm chí các thiết bị di động
thế hệ mới còn gọi là mLearning.
- Hệ thống quản lý nội dung LCMS – Learning Content Managerment System (1): là
một môi trường đa người dùng cho phép giảng viên (A) và phòng xây dựng chương trình
(C) cùng hợp tác để xây dựng nội dung bài giảng điện tử. LCMS được kết nối với các
ngân hàng kiến thức (I) và ngân hàng bài giảng điện tử (II).
kiến thức (I)
Ngân hàng Bài
giảng điện tử (II)
GIẢNG VIÊN
(A)
HỌC VIÊN (B)
- Các công cụ khác hỗ trợ học tập (3): Bao gồm các công cụ hỗ trợ cho việc học tập của
học viên như thư viện điện tử, phòng thực hành ảo, trò chơi v.v Trên thực tế chúng có
thể được tích hợp vào hệ thống LMS.
- Các công cụ thiết kế bài giảng điện tử (4): Dùng để hỗ trợ việc xây dựng và thiết kế
bài giảng điện tử bao gồm các thiết bị dùng cho studio (máy ảnh, máy quay phim, máy
ghi âm ) cho đến các phần mềm chuyên dụng để xử lý multimedia cũng như để thiết kế
xây dựng bài giảng điện tử và lập trình. Đây chính là những công cụ chính hỗ trợ cho
phòng xây dựng chương trình (C).
- Ngân hàng kiến thức (I): Là cơ sở dữ liệu lưu trữ các đơn vị kiến thức cơ bản, có thể
được tái sử dụng trong nhiều bài giảng điện tử khác nhau. Phòng xây dựng chương trình
(C) sẽ thông qua hệ thống LCMS (1) để tìm kiếm, chỉnh sửa, cập nhật cũng như quản lý
ngân hàng dữ liệu này.
- Ngân hàng bài giảng điện tử (II): Là cơ sở dữ liệu lưu trữ các bài giảng điện tử. Các
học viên sẽ truy cập đến cơ sở dữ liệu này thông qua hệ thống LMS (2).
3.2. Giới thiệu khái quát về trường
Trường THPT Vĩnh Cửu tọa lạc trên một khuôn viên rộng rãi, thoáng mát.
Trước đây, trường có tên là Trường Trung Học Công Thanh (tính từ ngày miền
Nam hoàn toàn giải phóng). Địa chỉ hiện tại của trường: Ấp 1, xã Thạnh Phú,
huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.
Cùng với bao chặng đường, với bao thế hệ, ngôi trường Huyện ban đầu được
tiếp nhận từ cơ sở vật chất của UBND huyện Vĩnh Cửu. Đến năm 2002, được sự
quan tâm của các cấp ủy, ban ngành, ngôi trường THPT Vĩnh Cửu được xây dựng
lại đúng chuẩn quốc gia, phù hợp với yêu cầu học tập và giảng dạy của giáo viên
và học sinh.
Giỏi Khá TB Yếu Kém
SL TL SL TL SL TL SL TL SL TL
2013-
2014
1.487 130 8,74 408 27,44 658 44,25 288 19,37 3 0,20
2013-
2015 1462 183 12.52% 476 32.56% 628 42.95% 150 10.26% 5 0.34%
*Kết quả kỳ thi HSG cấp tỉnh khối 10,12
- Kỳ thi học sinh giỏi tỉnh đạt 39 giải
- Hội thi Quốc phòng tỉnh 2015 đạt 17 giải, II toàn đoàn
* Hoạt động phong trào Đoàn
- Đạt thứ hạng cao trong Hội thi Bí thư Đoàn giỏi do Huyện đoàn, Tỉnh
đoàn tổ chức
- Hội thi viết về gương điển hình “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức,
phong cách Hồ Chí Minh” do Huyện ủy tổ chức đạt được 11 giải (I, II, III, KK)
*Thành tích trong giảng dạy của giáo viên:
- 10 giáo viên đạt danh hiệu GVDG cấp trường
- 15 GV đạt thành tích trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi cấp tỉnh
- 03 GV đạt thành tích trong công tác bồi dưỡng Hội thao Quốc phòng tỉnh
3.3. Hiện trạng việc dạy học E-learning ở trường THPT Vĩnh Cửu năm học
2014-2015
Qua khảo sát tôi nhận thấy:
- Internet đang trở thành công cụ quen thuộc đối với học sinh và giáo viên.
Trang 8
- Học sinh và giáo viên đều có nhu cầu sử dụng internet để hỗ trợ việc học và dạy.
- Internet là một kho tàng thông tin nhưng vẫn còn khó khăn trong việc khai thác
đối với học sinh và giáo viên bởi nhiều thông tin gây nhiễu, chưa xác thực tính
đúng đắn.
- Giáo viên và học sinh có quan tâm đến phương pháp học e-learning.
Thuận lợi:
nhân viên phải có trình độ tin học nhất định.
Trang 9
- Một số giáo viên chưa có ý thức đầy đủ về công tác ứng dụng CNTT trong
giảng dạy, nên chưa quan tâm đúng mức đến việc triển khai ứng dụng CNTT
vào bài dạy.
- Một số giáo viên lớn tuổi còn dạy theo phương pháp truyền thống, ngại thay
đổi.
- Trình độ tin học của giáo viên không đồng đều.
- Đời sống một bộ phận giáo viên và học sinh còn thiếu thốn.
Tồn tại:
- Các biện pháp đã bám sát được mục tiêu của việc ứng dụng CNTT trong
giảng dạy nhưng chưa cao.
- Chất lượng đội ngũ quản lý chưa đồng đều, trình độ tin học còn hạn chế.
- Sinh hoạt tổ chuyên môn chưa chú tâm nhiều đến việc ứng dụng CNTT.
- Do chưa có quy định chính thức của ngành về việc bắt buộc giáo viên thực
hiện ứng dụng CNTT vào giảng dạy.
- Chất lượng học tập của học sinh còn yếu, chưa có ý thức cao trong việc tự
học.
3.4. Kết quả khảo sát
Để làm cơ sở cho việc đề xuất những biện pháp quản lý nhằm NCNL cho
đội ngũ GV dạy học E-learning của các trường THPT huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng
Nai thì việc đánh giá thực trạng về quản lý công tác bồi dưỡng NCNL của GV là
rất cần thiết. Đối tượng khảo sát được chia làm 02 nhóm, nhóm một: CBQL gồm:
Ban giám hiệu, Tổ trưởng, Tổ phó; nhóm hai: Giáo viên.
Thật vậy, khi thống kê phiếu trả lời của Cán bộ quản lý và giáo viên về sự
cần thiết của việc bồi dưỡng kiến thức tin học, tập huấn sử dụng các phần mềm
ứng dụng để GV soạn các bài giảng điện tử, tôi thu được kết quả như sau:
Bảng chi tiết thể hiện sự cần thiết của việc bồi dưỡng kiến thức tin học, tập huấn
sử dụng các chương trình, phần mềm ứng dụng cho GV
Trường Tổng
E-learning thì người hiệu trưởng cần phải quan tâm và giải quyết những vấn đề
sau:
Trước tiên, cần nâng cao nhận thức cho đội ngũ GV về dạy học E-learning
Người Hiệu trưởng (HT) cần phải tạo ra những chuyển biến tích cực trong nhận
thức của GV tăng cường sự hiểu biết về vai trò, ý nghĩa, tầm quan trọng của dạy
học E-learning và làm cho mỗi GV thấy được sự quan tâm, chỉ đạo của Đảng và
Nhà nước về việc ứng dụng CNTT trong nhà trường thông qua các văn bản, hướng
dẫn pháp quy. Để nâng cao nhận thức cho đội ngũ GV, HS, nhà trường tổ chức các
Trang 13
hội nghị, hội thảo thông qua các buổi sinh hoạt chuyên môn, buổi chào cờ, qua các
phong trào thi đua,… Đây là một nhiệm vụ hết sức quan trọng trong công tác quản
lý của HT trong giai đoạn hiện nay. Khi có nhận thức đúng đắn của mỗi GV, khi
đó mỗi GV và đội ngũ GV mới tự giác, tích cực, sáng tạo trong việc NCNL ứng
dụng CNTT trong giảng dạy cũng như trong công tác.
Hiệu trưởng cần nâng cao bồi dưỡng trình độ về tin học cho đội ngũ GV trong
dạy học E-learning
Trình độ về kiến thức tin học bao gồm kiến thức và kỹ năng (kỹ năng sử dụng
máy tính, kỹ năng sử dụng các thiết bị CNTT, kỹ năng sử dụng internet, ). Song
song đó, Hiệu trưởng cũng phải chú trọng việc bồi dưỡng, nâng cao trình độ ngoại
ngữ, đặc biệt là tiếng Anh cho đội ngũ GV, bởi vì đây là một công cụ cần thiết và
hữu hiệu cho việc nâng cao trình độ, giúp GV dễ dàng trong việc sử dụng các phần
mềm có ngôn ngữ là tiếng Anh. Việc quan tâm đúng mức của Hiệu trưởng đến
công tác bồi dưỡng NCNL cho đội ngũ GV sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo
dục đào tạo nói chung và năng lực dạy học E-learning nói riêng.
Nội dung quản lý công việc này bao gồm: xây dựng mục tiêu, lập kế hoạch, tổ
chức bồi dưỡng, tập huấn cho đội ngũ GV và quản lý việc tự bồi dưỡng của đội
ngũ GV.
Hiệu trưởng cần phải khảo sát, đánh giá trình độ về CNTT của đội ngũ GV để
có kế hoạch, chương trình bồi dưỡng phù hợp. HT có kế hoạch tổ chức các lớp Tin
học, ngoại ngữ (tiếng Anh) tại trường để GV tham gia học tập được thuận tiện hay
dựng, bổ sung trước mắt cũng như lâu dài để CSVC, thiết bị ngày càng đầy đủ
hoàn chỉnh hơn. Việc xây dựng phải đảm bảo tính hiện thực, đi đôi với việc sử
dụng một cách hiệu quả tránh lãng phí. Xây dựng các quy định, quy trình về sử
dụng bảo quản, thực hiện việc bảo quản, bảo trì hệ thống thiết bị theo đúng kỹ
thuật và tiêu chuẩn của nhà sản xuất.
Mặc khác, HT luôn thường xuyên quan tâm, theo dõi, động viên khuyến khích
về mặt tinh thần và khen thưởng bằng vật chất cho đội ngũ GV có thành tích tốt
trong việc dạy học E-learning. Chẳng hạn, quan tâm và động viên kịp thời những
GV gặp khó khăn trong việc day học E-learning; có chế độ đãi ngộ cho cá nhân
tích cực và đạt kết quả cao như ưu tiên trong xét nâng lương, phân công lao động,
xét thi đua, đề bạt bổ nhiệm các chức vụ Từ đó khơi dậy, huy động mọi khả năng
tiềm ẩn vốn có của GV giúp họ tiếp tục phấn đấu, rèn luyện, phát huy ưu điểm,
khắc phục hạn chế, có ý thức trách nhiệm và ra sức NCNL ứng dụng CNTT trong
hoạt động nghề nghiệp của mình.
Tăng cường quản lý hoạt động học tập E-learning của học sinh
Xây dựng hệ thống phối hợp đồng bộ trong quản lý học sinh giữa Đoàn trường,
GVCN, GV bộ môn và gia đình học sinh, phân công trách nhiệm của từng bộ phận
nhằm đưa học sinh vào khuôn khổ, nề nếp học tập.
Để các em có động cơ, thái độ học tập đúng đắn, hứng thú trong học tập. GV
cần xác định cho HS hiểu rõ tầm quan trọng của việc học tập E-learning, tránh
những quan niệm không đúng. Cần đặc biệt chú trọng đến việc tự học của học
sinh, hướng dẫn, khuyến khích học sinh tích cực, tự giác trong học tập E-learning.
Đồng thời mở rộng phòng tin học, phòng thư viện để tạo điều kiện thuận lợi cho
các em đến để trao đổi, học tập, tìm kiếm thông tin, khai thác tri thức mới trên
mạng, nhằm bổ sung kiến thức đã học hoặc chủ động trao đổi thông tin với GV.
Cần lưu ý đến việc kiểm tra tình hình học tập của HS một cách nghiêm túc, từ đó
hình thành nên thói quen và khả năng tự học của HS, kích thích sự nổ lực, say mê
trong học tập cho các em.
Do vậy, hiệu quả việc quản lý hoạt động nhằm NCNL cho đội ngũ GV dạy học
E-learning của HT phụ thuộc vào việc sử dụng các phương tiện quản lý. Bên cạnh
trao đổi với thầy cô, bạn học bất cứ lúc nào
Rèn luyện và nâng cao tinh thần tự học, chủ động suy nghĩ sáng tạo tìm tòi
cái mới trong quá trình khai phá tri thức của nhân loại.
Tiếp thu một cách đầy đủ và hiệu quả nhất khối lượng kiến thức được truyền
tải trong các khóa học.
Thông qua phiếu phản hồi của học sinh cũng như các bài học, bài kiểm tra
trực tuyến đã được triển khai thực nghiệm tại trường THPT Vĩnh Cửu và việc tự
học của học sinh, tôi tin tưởng rằng sẽ giúp cho học sinh rất nhiều trong việc học
tập của học sinh hiện nay.
Ứng dụng E-learning trong trường phổ thông hiện nay là một đề tài lớn, cần
được nghiên cứu, triển khai và đúc kết kinh nghiệm trong nhiều năm. Tuy vấn đề
này đã được triển khai ứng dụng thực tế tại trường THPT Vĩnh Cửu gần hai năm
học, nhưng qua kết quả nghiên cứu và thực nghiệm cho thấy: việc ứng dụng CNTT
trong dạy học, nhất là dạy học E-learning là một trong những cách thức, con đường
mang lại hiệu quả cao trong xã hội; góp phần tích cực xây dựng nhà trường theo
hướng chuẩn hóa, hiện đại là một phương thức hữu hiệu góp phần thực hiện chiến
lược phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội. Vì vậy trong giới hạn sáng kiến này là
những gì đã đúc kết từ thực tế qua thời gian ứng dụng tại trường, tôi đã áp dụng
Trang 18
một số biện pháp trên nhằm tăng cường nâng cao năng lực dạy học E-learning tại
trường THPT Vĩnh Cửu, kết quả rất khả quan.
Về tính cần thiết: Qua khảo sát, trưng cầu ý kiến về tính cần thiết cho thấy
100% ý kiến được cho rằng, các biện pháp mà tôi đề xuất điều rất cần thiết và cần
thiết đối với các trường THPT ở địa bàn nghiên cứu.
Qua những nhận xét trên cho thấy rằng, các giải pháp mà tôi đề xuất trong
có tính cần thiết cao. Tôi hy vọng rằng, nếu thực hiện kết hợp đồng bộ các giải
pháp trên sẽ giúp HT trường THPT Vĩnh Cửu nói riêng và các trường THPT có
điều kiện tương tự nói chung sẽ quản lý tốt việc NCNL cho đội ngũ GV dạy học E-
learning.
Biểu đồ thể hiện sự tính cần thiết của các giải pháp
Công nghệ e-learning mở ra một khả năng tương tác tối đa giữa người học
và người dạy đồng thời khai thác nguồn thông tin vô tận của nhân loại. Nếu chúng
ta vận dụng tốt công nghệ này sẽ giúp cho mọi cá nhân, tổ chức có cơ hội tương
tác liên tục với nền khoa học quản trị hiện đại đang phát triển nhanh chóng và tạo
ra nhiều cơ hội cho mọi người học tập mọi nơi, mọi lúc, học tập suốt đời. Đối với
Việt Nam hiện nay và trong tương lai gần e-learning sẽ có nhiều cải thiện hơn về
giao diện, chức năng, khả năng cộng tác tương tác cao và đường truyền sẽ tạo điều
kiện tốt nhất phục vụ cho loại hình đào tạo trực tuyến phát triển mạnh mẽ.
Trên thực tế, việc học trực tuyến đã không còn mới mẻ ở các nước trên thế
giới. Song ở Việt Nam, nó mới chỉ bắt đầu phát triển một số năm gần đây, đồng
thời với việc kết nối internet băng thông rộng được triển khai mạnh mẽ tới tất cả
các trường học. Sự hữu ích, tiện lợi của E-learning thì đã rõ nhưng để đạt được
thành công, các cấp quản lý cần có những quyết sách hợp lý.
Chủ trương của Bộ GD&ĐT trong giai đoạn tới là tích cực triển khai các
hoạt động xây dựng một xã hội học tập, mà ở đó mọi công dân (từ học sinh phổ
thông, sinh viên, các tầng lớp người lao động, ) đều có cơ hội được học tập,
hướng tới việc: học bất kỳ thứ gì (any things), bất kỳ lúc nào (any time), bất kỳ nơi
đâu (any where) và học tập suốt đời (life long learning).
Việt Nam đã gia nhập Mạng E-learning châu Á (Asia E-learning Network -
AEN, www.asia-elearning.net) với sự tham gia của Bộ Giáo dục & Đào tạo, Bộ
Khoa học - Công nghệ, trường Đại học Bách Khoa, Bộ Bưu chính - Viễn Thông
Điều này cho thấy tình hình nghiên cứu và ứng dụng loại hình đào tạo này đang
được quan tâm ở Việt Nam. Tuy nhiên, so với các nước trên thế giới, E-learning ở
ViệtNam mới chỉ ở giai đoạn đầu và còn rất nhiều việc phải làm để có thể tiến kịp
các nước.
E-learning đang là xu hướng chung của giáo dục thế giới. Việc triển khai e-
learning trong giáo dục đào tạo là một xu hướng tất yếu nhằm đưa giáo dục Việt
Nam tiếp cận với giáo dục thế giới. Như vậy, e-learning có nhiều ưu điểm hơn so
Trang 20