MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Bảng chú thích các từ viết tắt trong đề tài
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
2. Mục đích nghiên cứu
3. Khách thể, đối tượng nghiên cứu
4. Giả thuyết khoa học
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
6. Các phương pháp nghiên cứu
7. Phạm vi nghiên cứu
NỘI DUNG
Chương 1. Cơ sở lý luận của quản lý công tác GDMT ở trường THPT
1.1. Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.2. Các khái niệm cơ bản
1.2.1. Môi trường
1.2.2. GDMT
1.2.3. Quản lý và quản lý giáo dục; quản lý nhà trường
1.3. Vấn đề GDMT ở trường THPT
1.3.1. Sự cần thiết của GDMT ở trường THPT
1.3.2. Mục tiêu, chương trình và nội dung GDMT ở trường THPT.
1.3.3. Các hình thức, phương pháp tổ chức GDMT ở trường THPT
1.4. Hiệu trưởng trường THPT và vấn đề quản lý công tác GDMT
Chương 2 . Thực trạng công tác GDMT và quản lý công tác GDMT
của hiệu trưởng các trường THPT tỉnh Kon Tum
2.1. Khái quát địa bàn nghiên cứu
2.1.1.Điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế-xã hội tỉnh Kon Tum
3.3. Khảo nghiệm nhận thức về tính cấp thiết và tính khả thi của các
biện pháp
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
2
BẢNG CHÚ THÍCH CÁC TỪ VIẾT TẮT
Viết tắt Chú thích
BVMT Bảo vệ môi trường
CBQL Cán bộ quản lý
CSVC Cơ sở vật chất
GD&ĐT Giáo dục và đào tạo
GDMT Giáo dục môi trường
GV Giáo viên
HS Học sinh
HS DTTS Học sinh dân tộc thiểu số
HT Hiệu trưởng
MT Môi trường
PPDH Phương pháp dạy học
PT DTNT Phổ thông dân tộc nội trú
QLGD Quản lý giáo dục
THCS Trung học cơ sở
THPT Trung học phổ thông
3
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BẢNG
TRANG
Sơ đồ 1.1. Sơ đồ hệ thống môi trường
Sơ đồ 1.2. Mô hình về quản lý
Sơ đồ 1.3. Sơ đồ chức năng quản lý
Bảng 1.1. Số bài học có nội dung GDMT của các bộ môn
3. KHÁCH THỂ, ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
3.1. Khách thể nghiên cứu:
Công tác quản lý của Hiệu trưởng trường THPT.
3.2. Đối tượng nghiên cứu:
Các biện pháp quản lý công tác GDMT của Hiệu trưởng ở các trường THPT
tỉnh Kon Tum.
4. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
5
Nếu xây dựng và thực thi đồng bộ các biện pháp quản lý của hiệu trưởng (HT)
như tác động đến nhận thức của đội ngũ GV, HS và các lực lượng giáo dục khác đối
với công tác GDMT; xây dựng được đội ngũ GV dạy GDMT có chất lượng; quản lý
tốt chương trình, nội dung GDMT; thực hiện được công tác xã hội hóa GDMT và tổ
chức hiệu quả các hoạt động GDMT cho HS… thì sẽ nâng cao được chất lượng và
hiệu quả công tác GDMT ở các trường THPT tỉnh Kon Tum.
5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về công tác GDMT và quản lý công tác GDMT
của người HT ở trường THPT.
5.2. Đánh giá thực trạng công tác GDMT và quản lý công tác GDMT của HT
các trường THPT tỉnh Kon Tum.
5.3. Đề xuất các biện pháp quản lý công tác GDMT của HT nhằm nâng cao chất
lượng công tác GDMT ở trường THPT.
6. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Các phương pháp nghiên cứu lý luận
- Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp thống kê toán học
7. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Chúng tôi tiến hành điều tra, khảo sát thực tế ở 07 trường THPT tỉnh Kon Tum
theo hình thức chọn mẫu đại diện ở các vùng, miền và loại hình trường trong tỉnh
6
NỘI DUNG
luyện kỹ năng, hình thành thái độ và lòng nhiệt tình để hoạt động một cách độc lập
hoặc phối hợp nhằm tìm ra giải pháp cho những vấn đề MT hiện tại và ngăn chặn
những vấn đề mới có thể xảy ra trong tương lai”.
1.2.3. Quản lý; quản lý giáo dục; quản lý nhà trường
1.2.3.1. Khái niệm quản lý
Thuật ngữ quản lý bao gồm hai quá trình tích hợp vào nhau: quá trình “quản”
gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì ở hệ trạng thái ổn định; quá trình “lý” gồm sự sửa
sang, sắp xếp, đổi mới hệ, đưa hệ vào thế phát triển. Hai quá trình này có sự tương
tác lẫn nhau. Hoạt động quản lý chỉ nảy sinh khi có “tổ chức”. Nói đến quản lý là
phải nói đến công tác tổ chức, xây dựng tổ chức, điều phối tổ chức, phát triển tổ
chức… vì nếu không thì quản lý không có mục tiêu, không vận động đến mục tiêu;
ngược lại nói đến tổ chức là phải nói đến quản lý vì một tổ chức không có quản lý là
tổ chức đã đi vào quá khứ và tiêu vong. Nói đến hoạt động này, K.Marx đã viết
“một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần
phải có nhạc trưởng” [17, tr 23].
Quản lý là những tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thế quản lý
đến khách thể quản lý trong tổ chức nhằm vận hành tổ chức và đạt mục đích nhất
định. Quản lý được hiểu là việc đảm bảo hoạt động của hệ thống trong điều kiện có
sự biến đổi liên tục của hệ thống và MT, là chuyển động của hệ thống đến trạng thái
mới thích ứng với hoàn cảnh mới.
Quản lý là nhằm phối hợp nỗ lực của nhiều người, sao cho mục tiêu của từng
cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội.
Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát
huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, phối hợp các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài
lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nhân lực) một cách tối ưu nhằm đạt được
mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất. Có thể minh họa bằng mô hình sau.
8
Chủ thể quản lý Khách thể Mục tiêu
Công cụ
Phương pháp
quá trình vận hành tổ chức. Nếu có sự chênh lệch thì cần điều chỉnh hoạt động.
trong trường hợp cần thiết có thể điều chỉnh mục tiêu.
Các chức năng cơ bản của quá trình quản lý có quan hệ mật thiết với nhau.
Hệ thống thông tin và ra quyết định trong quản lý là các yếu tố liên quan mật thiết
với bốn chức năng quản lý trên. Hệ thống thông tin có vai trò đặc biệt quan trọng, là
sức mạnh của công tác quản lý. Thông tin quản lý là mạch máu lưu thông, đảm bảo
sự thống nhất trong quản lý. Quá trình quản lý phụ thuộc chặt chẽ vào các thông tin.
Mối quan hệ giữa các chức năng quản lý và hệ thống thông tin được biểu diễn theo
sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.3. Sơ đồ chức năng quản lý
1.2.3.3. Quản lý giáo dục
Giáo dục và quản lý giáo dục là hoạt động song hành. Giáo dục xuất hiện
nhằm truyền kinh nghiệm lịch sử - xã hội của loài người, của thế hệ đi trước cho thế
hệ sau và để cho thế hệ sau có trách nhiệm kế thừa, phát triển nó một cách sáng tạo,
làm cho xã hội, giáo dục và con người phát triển không ngừng. Để đạt được mục
đích đó, quản lý được coi là một nhân tố tổ chức, chỉ đạo.
Đối với cấp vĩ mô: Quản lý giáo dục (QLGD) là những tác động tự giác có ý
thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật của chủ thể quản lý đến
tất cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp cao đến các cơ sở giáo dục là nhà trường)
nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế
hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành Giáo dục.
10
Kế hoạch
Thông tin
Chỉ đạo
Tổ chức
Kiểm tra
Đối với cấp vi mô: Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động tự giác của
chủ thể quản lý đến tập thể GV, công nhân viên, tập thể HS, cha mẹ HS và các lực
lượng xã hội trong, ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng, hiệu quả mục
nhiễm đe dọa, do sử dụng hố chôn lấp rác, do khai thác nước ngầm quá mức, không
đúng kỹ thuật làm cho nước ngầm bị nhiễm mặn.
- Sự ô nhiễm không khí: Ô nhiễm không khí do hai nguyên nhân:
+ Ô nhiễm không khí do thiên nhiên gây ra như gió bão cuốn theo đất cát,
núi lửa phun…. Nước biển bốc hơi cùng với sóng biển tung bọt mang theo bụi muối
biển lan truyền vào không khí. Xác động vật, thực vật chết trong quá trình phân hủy
cũng tạo ra các chất gây ô nhiễm.
+ Ô nhiễm không khí do các hoạt động của con người gây nên: hoạt động
sản xuất công nghiệp như khói của các nhà máy; từ ống xả của các phương tiện giao
thông vận tải; sinh hoạt và các hoạt động khác của con người.
- Tài nguyên rừng bị suy giảm:
Nhu cầu về gỗ tăng nhanh, dẫn đến việc khai thác lượng gỗ quá mức. Vấn đề
đất rừng ngày càng thu hẹp do lấy đất canh tác nông nghiệp, chăn nuôi, xây dựng
các nhà máy, khu công nghiệp. Các sự cố thiên nhiên như bão, lũ lụt, hạn hán, cháy
rừng, động đất, …
- Sự ô nhiễm đất:
+ Việc sử dụng phân tươi không xử lý, do đổ rác và nước thải chưa được xử
lý vào đất nên trong đất chứa nhiều vi sinh vật gây bệnh cho người, gia súc và cả
cây trồng…
+ Các chất hóa học sử dụng trong công nghiệp, nông nghiệp (thuốc bảo vệ
thực vật), chất dioxyn sử dụng trong chiến tranh …
- Ô nhiễm tiếng ồn:
Tiếng ồn là tiếng động không mong muốn hoặc tiếng động có độ dài thời
gian, cường độ hoặc các tính chất khác làm nguy hiểm về tâm lý và thể chất cho con
người hoặc cơ thể sống khác. Tiếng ồn làm hại đến thính giác, gây sự mệt mỏi thính
giác, làm yếu hoặc làm mất khả năng nghe,…
12
Tiếng ồn còn tác động đến hệ tim mạch như tăng, hạ huyết áp, mạch yếu ớt.
Tiếng ồn ảnh hưởng đến hệ thần kinh, gây ức chế, cản trở sự phát triển ngôn ngữ,
làm cho con người gặp khó khăn trong giao tiếp. Tiếng ồn phá rối giấc ngủ, gây khó
thực hiện công tác GDMT, bởi vì công tác GDMT trong nhà trường phổ thông có
chương trình, nội dung, phương pháp và phương tiện và được tiến hành theo nhiều
hình thức như thông qua hoạt động GDMT trong và ngoài nhà trường, hoạt động
chính khóa và không chính khóa… Đội ngũ GV được đào tạo đạt chuẩn, một số GV
bộ môn được bồi dưỡng về công tác GDMT.
Nhà trường phổ thông còn là một trung tâm văn hóa - giáo dục ở cộng đồng
địa phương, có vai trò quan trọng trong công tác tuyên truyền, phổ biến, vận động
các tầng lớp dân cư thực hiện các chủ trương của Đảng và Nhà nước về MT và
BVMT như phong trào trồng cây gây rừng, vệ sinh MT và nước sạch nông thôn, vệ
sinh đô thị… những hoạt động này vừa trực tiếp góp phần thực hiện nhiệm vụ
GDMT và BVMT của nhà trường, vừa có tác động tích cực đến cộng đồng dân cư
địa phương.
Giáo dục phổ thông là một ngành học có vai trò nền tảng và có quy mô HS
lớn nhất trong hệ thống giáo dục quốc dân. Thực hiện tốt công tác GDMT trong hệ
thống trường phổ thông sẽ tạo cơ sở và tiền đề thuận lợi cho việc triển khai từng
bước công tác GDMT trong toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân. Nhà trường phổ
thông có chức năng cơ bản là hình thành và phát triển toàn diện nhân cách của học
sinh. Công tác giáo dục nói chung và GDMT trong trường phổ thông nói riêng
không chỉ có tác động trước mắt đến thế hệ hôm nay, các cộng đồng hôm nay, mà
còn tác động lâu dài đến thế hệ mai sau.
Việc GDMT cho HS phổ thông sẽ góp phần tạo nên một lực lượng xã hội
hùng hậu BVMT ở từng địa phương cũng như trên toàn quốc. Cùng với việc thực
hiện phong trào thi đua của toàn ngành giáo dục “Xây dựng trường học thân thiện,
HS tích cực”, các trường học nếu thực hiện tốt công tác GDMT và xây dựng được
MT xanh - sạch - đẹp thì mỗi cơ sở giáo dục sẽ trở thành một trung tâm văn hóa
giáo dục của địa phương; là hạt nhân thực hiện công tác BVMT ở địa phương và
cộng đồng dân cư.
14
1.3.1.3. Những vấn đề đặt ra trong công tác giáo dục môi trường cho học sinh
trường phổ thông
quan trọng trong công tác tuyên truyền, phổ biến, vận động các tầng lớp dân cư thực
hiện các chủ trương của Đảng và Nhà nước về MT và BVMT như phong trào trồng
cây gây rừng, vệ sinh MT và nước sạch nông thôn, vệ sinh đô thị… những hoạt
động này vừa trực tiếp góp phần thực hiện nhiệm vụ GDMT và BVMT của nhà
trường, vừa có tác động tích cực đến cộng đồng dân cư địa phương.
Có thể nói, trong vòng hơn 20 năm qua, vấn đề MT, GDMT và xây dựng các
văn bản pháp lý về BVMT đã được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm, đã ban
hành các chính sách và luật BVMT, đưa nội dung GDMT trở thành một yêu cầu bắt
buộc và có chương trình cụ thể trong hệ thống giáo dục quốc dân nhằm giáo dục
nhân cách, thái độ sống cho HS ở các trường phổ thông.
1.3.2. Mục tiêu, chương trình và nội dung giáo dục môi trường ở trường Trung
học phổ thông
1.3.2.1. Mục tiêu giáo dục môi trường
Mục tiêu GDMT ở trường THPT nhằm giúp cho HS và GV:
- Có ý thức thường xuyên và luôn nhạy cảm đối với mọi khía cạnh của MT
và những vấn đề liên quan đến MT.
- Thu nhận được những thông tin và kiến thức cơ bản về MT và sự phụ thuộc
lẫn nhau giữa hoạt động của con người và MT, về quan hệ giữa con người và MT.
- Phát triển những kỹ năng bảo vệ và giữ gìn MT, kỹ năng dự doán, phòng
tránh và giải quyết những vấn đề MT nảy sinh.
- Tham gia vào những hoạt động khôi phục, bảo vệ và giữ gìn MT.
- Có ý thức về tầm quan trọng của GDMT trong sạch đối với sức khỏe con
người, về chất lượng cuộc sống, phát triển thái độ tích cực đối với MT.
1.3.2.2. Chương trình giáo dục môi trường ở trường Trung học phổ thông
+ Chương trình giáo dục chính khóa:
Chương trình GDMT chính khóa được dạy lồng ghép ở các môn học, sự lồng
ghép được thể hiện qua từng đơn vị kiến thức bài học của các môn theo quy định
của chương trình mà Bộ GD&ĐT ban hành như sau:
Bảng 1.1. Số bài học có nội dung GDMT của các bộ môn
16
nội dung chương trình đào tạo ở tất cả các cấp học phổ thông.
Phần lớn nội dung GDMT ở trường THPT được tích hợp, lồng ghép vào các
chương trình môn học, trong đó có những môn học có nội dung liên quan đến những
kiến thức về MT, ô nhiễm MT, Luật BVMT, hệ sinh thái… như Môn Sinh học, Địa
lý, Hóa học, GDCD, Ngữ văn… Các môn khác được tích hợp, lồng ghép ở mức độ
khác nhau về nội dung GDMT như: Vật lý, Công nghệ, Ngoại ngữ,… Bên cạnh đó
một số môn như Toán cũng có thể lồng ghép GDMT thông qua các bài tập sử dụng
các số liệu về cây xanh, dân số và mức độ khai thác tài nguyên của con người…
Ở nước ta, nội dung GDMT được đưa vào chương trình phổ thông với các
lĩnh vực tri thức sau:
- Những kiến thức về MT và những kiến thức về yếu tố của MT.
- Những kiến thức và tác động của MT đến sinh vật và con người.
- Những kiến thức và sự tác động của con ngườu đến MT.
- Những kỹ năng BVMT và ứng phó với những tác động xấu của MT.
GDMT nhằm trang bị cho HS những tri thức cơ bản về MT, hình thành và
phát triển ý thức, kỹ năng và thái độ BVMT, góp phần xây dựng MT sống trong
sạch, lành mạnh trong phạm vi cả nước và trong từng cộng đồng địa phương.
1.3.3. Các hình thức, phương pháp tổ chức giáo dục môi trường ở trường
Trung học phổ thông
Công tác GDMT ở trường THPT được tổ chức bằng hai hình thức cơ bản:
- Hoạt động giáo dục chính khóa (trên lớp).
- Hoạt động giáo dục không chính khóa (ngoài giờ lên lớp).
Mỗi hình thức tổ chức GDMT trên tương ứng với một số phương pháp tổ
chức GDMT phù hợp.
1.3.3.1. Tổ chức hoạt động giáo dục chính khóa
18
Hoạt động giáo dục chính khóa về GDMT được lồng ghép vào nội dung các
môn học và được thực hiện thông qua các tiết dạy. Mỗi tiết dạy phải đảm bảo yêu
cầu sau:
- Nghiên cứu kiến thức bài học để khai thác lồng ghép nội dung GDMT.
khảo sát thông tin, phổ biến tri thức MT; báo cáo một vấn đề MT; sưu tầm, thu thập
tranh ảnh, tài liệu và tổ chức triển lãm; lập phiếu tư liệu MT; làm báo tường về MT;
tổ chức dạ hội chuyên đề; tìm thông tin trên mạng internet; giới thiệu các điểm và
tuyến du lịch; tổ chức chợ thông tin; tổ chức các trò chơi có nội dung MT…
Nội dung hoạt động của các Tổ MT phải kết hợp chặt chẽ với chương trình
học tập nội khóa, nhằm bổ sung, mở rộng kiến thức nội khóa hoặc củng cố, vận
dụng kiến thức trong thực tiễn và có tác dụng gây hứng thú học tập ở HS, phát huy
các năng lực sở trường vốn có của HS.
+ Câu lạc bộ MT
Câu lạc bộ MT là một hình thức hoạt động ngoài giờ dựa trên sự tham gia tự
nguyện của HS nhằm khuyến khích các em học tập, tìm hiểu, mở rộng kiến thức
MT và thực hiện các hoạt động BVMT. Câu lạc bộ MT có thể thu hút sự tham gia
của HS toàn trường hoặc mỗi khối lớp. Các câu lạc bộ MT có thể hoạt động theo
một chủ đề nhất định và đặt tên Câu lạc bộ theo nội dung hoạt động. Ví dụ: Câu lạc
bộ xanh, Câu lạc bộ những người bạn của rừng, Câu lạc bộ…
+ Chiến dịch MT
Chiến dịch MT là một hoạt động về MT thu hút nhiều người tham gia, diễn
ra trong một khoảng không gian tương đối rộng và có thời gian kéo dài nhất định,
có tính cao trào, tạo ra những sản phẩm thiết thực đối với nhiều người.
Hoạt động này tạo ra thói quen và tập dợt cho HS đặt mình vào vị trí năng
động, tự chủ, luôn luôn quan tâm đến những vấn đề thực tiễn gần gũi MT sống
chung quanh; đồng thời rèn luyện cho HS nhìn nhận các vấn đề thực tiễn một cách
khoa học và tìm cách giải quyết nó bằng các giải pháp thích hợp. Chiến dịch MT có
thể tiến hành ở trong trường hay ngoài trường.
+ Tham gia dã ngoại
20
Đây là những cơ hội tốt để giáo dục tình cảm của HS đối với thiên nhiên, đáp
ứng tâm lý ham hiểu biết của HS. Các hoạt động này sẽ đạt kết quả cao nếu biết tổ
chức HS như một đoàn nghiên cứu. Có thể tổ chức tham quan ở những nơi làm tốt
việc BVMT (khu bảo tồn, khu vực dự trữ sinh quyển…) và cả những nơi chưa làm
người với tự nhiên trong sinh hoạt và lao động sản xuất; góp phần xây dựng thế hệ
trẻ có ý thức và đạo đức mới về MT, có thái độ đúng và trang bị các kỹ năng cơ bản
về BVMT.
Để nâng cao hiệu quả công tác này, công tác quản lý của Hiệu trưởng trường
THPT tập trung về các nội dung chinh sau đây:
Nghiên cứu các văn bản hướng dẫn và chỉ đạo của cấp trên để xây dựng kế
hoạch thực hiện công tác GDMT.
Tổ chức thực hiện GDMT thông qua hoạt động chính khóa và hoạt động
không chính khóa.
Tổ chức thực hiện công tác bồi dưỡng GDMT và BVMT cho GV.
Chỉ đạo, giám sát việc thực hiện công tác GDMT
Kiểm tra, đánh giá về công tác GDMT và BVMT của GV và HS trong nhà trường.
Tổ chức phối hợp với các lực lượng giáo dục và các tổ chức trong và ngoài
nhà trường, ở địa phương để thực hiện xã hội hóa công tác GDMT.
Xây dựng và bảo quản cơ sở vật chất, phương tiện và các điều kiện hỗ trợ
công tác GDMT.
Quản lý công tác GDMT trong trường phổ thông là một trong những nội dung
quản lý của người HT. Để làm tốt công tác quản lý GDMT ở trường phổ thông, người
HT không những phải thực hiện tốt các chức năng quản lý của mình mà còn phải
quan tâm chỉ đạo đội ngũ GV, nhân viên và HS thực hiện tốt kế hoạch GDMT.
22
Tiểu kết chương 1
Từ những nghiên cứu lý luận về công tác GDMT và quản lý GDMT của HT
trường THPT ở chương 1, có thể rút ra các kết luận sau:
MT và BVMT trở thành vấn đề thời sự cấp bách của các quốc gia trên thế
giới. Sớm nhận thức vấn đề, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra những chủ trương, biện
pháp tích cực để BVMT và bảo đảm sự phát triển bên vững, trong đó đã xác định
đúng đắn vai trò của GDMT. Nhờ vậy, việc GDMT cho HS các cấp học phổ thông
không chỉ là những chủ trương chung, mà là hoạt động cụ thể của nhà trường, gia
đình, xã hội và trách nhiệm các cơ quan quản lý Nhà nước, quản lý giáo dục từ
cao dân trí và công tác xã hội hoá giáo dục.
2.1.2.2. Tình hình phát triển giáo dục THPT
Quy mô trường lớp, học sinh các trường THPT tỉnh Kon Tum
Năm
học
Số trường
học
Số lớp học Số học sinh
2007-2008 16 317 11.649
2008-2009 20 323 11.499
2009-2010 21 332 11.701
2010-2011 24 358 13.010
(Nguồn: Văn phòng Sở Giáo dục và Đào tạo Kon Tum)
Sau bốn năm thực hiện cuộc vận động “Hai không”, chất lượng giáo dục đã có
chuyển biến tích cực, ổn định, mang tính bền vững và thực chất. Về xếp loại học
24
lực, tỷ lệ học sinh khá, giỏi tăng lên qua các năm; tỷ lệ xếp loại yếu, kém giảm
xuống.
2.2. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC GDMT VÀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC GDMT
CỦA HIỆU TRƯỞNG CÁC TRƯỜNG THPT TỈNH KON TUM
2.2.1. Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
* Chọn mẫu điều tra
Chúng tôi trưng cầu ý kiến của 23 HT, 29 Phó HT và 200 GV dạy 08 môn tích
hợp: Vật lý, Ngữ văn, Địa lý, Sinh học, Hóa học, GDCD, Công nghệ (KTCN,
KTNN), tiếng Anh; 500 HS của 04 trường THPT và 03 trường PT DTNT trên địa
bàn tỉnh Kon Tum.
* Nội dung điều tra
Khảo sát các mặt của hoạt động GDMT và BVMT ở trường THPT và các nội
dung của quản lý công tác GDMT.
Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi còn trực tiếp phỏng vấn, tọa đàm