ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM
o0o
ĐỖ QUANG HỢP CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CỦA HIỆU TRƯỞNG
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỈNH HƯNG YÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC Chuyên ngành : Quản lý giáo dục
Mã số: 60 14 05
Người hướng dẫn khoa học : PGS. TS. ĐẶNG QUỐC BẢO
Hà Nội – 2007 MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Mục đích nghiên cứu 3
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
4. Giả thuyết khoa học 3
5. Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6. Phương pháp nghiên cứu 3
7. Phạm vi nghiên cứu 4
8. Cấu trúc của luận văn 4
1.5.3. Nhóm phương pháp đánh giá kết qủa hoạt động giáo dục 24
CHƢƠNG 2 : THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐẠO
ĐỨC CỦA HIỆU TRƢỞNG TRƢỜNG THPT TỈNH HƢNG YÊN 26
2.1. Đặc điểm kinh tế – Giáo dục tỉnh Hƣng Yên 26
2.1.1. Khái quát về các đặc điểm truyền thống văn hoá, lịch sử, địa lí, hành
chính, dân số tỉnh Hưng Yên . 26
2.1.2. Giáo dục chung 29
2.1.3. Giáo dục THPT 31
2.2. Thực trạng đạo đức và GDĐĐ học sinh THPT tỉnh Hƣng Yên 34
2.2.1. Nhận thức của học sinh THPT về vai trò của đạo đức 34
2.2.2. Thực trạng về hành vi đạo đức của học sinh THPT 39
2.3. Nhận thức của giáo viên về công tác giáo dục đạo đức học sinh 42
2.4. Thực trạng công tác QL GDĐĐ của HT trƣờng THPT tỉnh
Hƣng Yên 44
2.4.1. Những công việc HT đã làm 44
2.4.2. Đánh giá của HT về mức độ quan trọng của các công việc 46
2.4.3. Một số nhận xét khái quát 46
2.4.4. Phân tích nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên 47 2.5. Đánh giá chung 52
2.5.1. Những mặt tích cực 52
2.5.2. Những mặt hạn chế 53
CHƢƠNG 3: CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC
ĐẠO ĐỨC CỦA HIỆU TRƢỞNG TRƢỜNG THPT TỈNH HƢNG YÊN 55
3.1. Định hƣớng GDĐĐ ở nhà trƣờng THPT trong sự nghiệp đổi mới
hiện nay 55
3.2. Biện pháp quản lý của HT nhằm tăng cƣờng công tác GDĐĐ cho
HS THPT. 58
3.2.1. Nâng cao nhận thức về tầm quan trọng và ý thức trách nhiệm về công
Nền giáo dục Việt Nam từ rất xa xưa, ông cha ta đã đề cao và coi trọng
giáo dục đạo đức “Tiên học lễ, hậu học văn”. Ngày nay Đảng ta đã quan tâm
đến sự nghiệp giáo dục, xem giáo dục là quốc sách hàng đầu, mục tiêu của giáo
dục là “Đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức,
sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và
chủ nghĩa xã hội, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất, năng lực của
công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc’.
Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người anh hùng giải phóng dân tộc- Danh nhân
văn hoá thế giới – Nhà giáo dục vĩ đại của dân tộc ta, thời đại ta, lúc sinh thời
cũng rất coi trọng việc giáo dục toàn diện. Người chỉ rõ: “ Muốn xây dựng chủ
nghĩa xã hội thì trước hết phải có con người xã hội chủ nghĩa”. Đó là những con
người có lí tưởng cách mạng vững vàng, đạo đức trong sáng, có kiến thức văn
hoá, khoa học kĩ thuật và kĩ năng lao động, có sức khoẻ, có ý chí vươn đến cái
chân, thiện, mỹ. Bác xem đạo đức là cái gốc để nên người, làm người: “Cũng
như sông, có nguồn mới có nước, cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo.
Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi đến đâu
cũng không lãnh đạo được nhân dân”. Trước lúc đi xa Người còn căn dặn Đảng
ta: Cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên, đào tạo họ
thành những người kế thừa chủ nghĩa xã hội vừa“ hồng” vừa “chuyên”.
Thực hiện lời dạy của Bác, đường lối đổi mới của Đảng mục tiêu giáo
dục của nhà nước nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài,
thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH- HĐH, làm cho dân giàu nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh, vững bước tiến lên CNXH. Vì vậy việc giáo dục 2
đạo đức, hình thành nhân cách cho học sinh là vấn đề mang tính thời sự trong
giai đoạn hiện nay.
Đạo đức là tổng hợp các qui tắc xử sự giữa con người với con người,
cho
bước vào đại học, cao đẳng hay đi vào cuộc sống.
Để đảm bảo hiệu quả của nhiệm vụ GDĐĐ cho học sinh, yếu tố then chốt
là tăng cường hiệu lực công tác quản lý của hiệu trưởng .
Từ những lí luận và thực tiễn đã khái quát trên chúng tôi chọn đề tài :
“Các biện pháp quản lý công tác giáo dục đạo đức của Hiệu trƣởng
trƣờng trung học phổ thông tỉnh Hƣng Yên”.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và khảo sát thực trạng công tác giáo dục
đạo đức học sinh trung học phổ thông tỉnh Hưng Yên, đề xuất các biện pháp
quản lý của hiệu trưởng đối với công tác giáo dục đạo đức cho học sinh trung
học phổ thông, đáp ứng yêu cầu của xã hội trong giai đoạn hiện nay.
3. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Công tác giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông .
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Các mối quan hệ trong quản lý của hiệu trưởng đối với công tác giáo dục
đạo đức học sinh trung học phổ thông, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện
nay trên địa bàn tỉnh Hưng Yên.
4. Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng được các biện pháp quản lý của hiệu trưởng trường trung
học phổ thông đối với công tác giáo dục đạo đức trong tình hình hiện nay bao
quát được các lực lượng tham gia: Nhà trường –gia đình –xã hội thì chất lượng,
hiệu quả giáo dục toàn diện trong nhà trường sẽ được nâng cao.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu cơ sở lí luận về giáo dục đạo đức học sinh trung học phổ thông . 4
5.2. Nghiên cứu thực trạng công tác quản lý giáo dục đạo đức học sinh trung
học phổ thông ở tỉnh Hưng Yên
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC XÁC LẬP CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CỦA HIỆU TRƢỞNG
TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Đạo đức là một hình thái ý thức XH, được hình thành, phát triển cùng với
lịch sử XH loài người và luôn được mọi tầng lớp, mọi giai cấp, mọi thời đại
quan tâm. Với tư cách là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng, những tư tuởng
ĐĐ đã xuất hiện khá sớm trong lĩnh vực triết học Trung Hoa, ấn Độ, Hy Lạp cổ
đại.
Đạo đức biểu hiện đặc trưng về nhân cách, văn hoá; là những yêu cầu,
những nguyên tắc, chuẩn mực do cuộc sống đặt ra mà mỗi con người phải tuân
theo. Đạo đức phản ánh các mối quan hệ, ứng xử giữa con người với con người,
giữa con người với xã hội và con người với thế giới tự nhiên. Xuất phát từ mối
quan hệ tự nhiên đó, người ta phân biệt được cái tốt với cái xấu, cái thiện với cái
ác, cái hay với cái dở,…thể hiện trong hành động của mỗi con người. thế nhưng
con người là tế bào của xã hội, đạo đức không chỉ gắn liền với những con người
cụ thể, mà nó còn gắn chặt với mỗi dân tộc, mỗi giai cấp tạo nên nền tảng đạo
đức của mỗi xã hội nhất định trong một giai đoạn lịch sử nhất định.
Theo chiều dài lịch sử, đã có rất nhiều quan điểm về đạo đức, nhưng chỉ có
quan điểm của chủ nghĩa Mác – LêNin là khoa học nhất, tiến bộ nhất. Chủ nghĩa
Mác- LêNin cho rằng đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, có nguồn gốc từ lao
động sản xuất và đời sống cộng đồng, nó phản ánh và chịu sự chi phối của tồn tại
xã hội, khi tồn tại xã hội được thay đổi thì ý thức xã hội cũng thay đổi theo, như
7
con người trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường, mở cửa, đổi mới ở
nước ta, dựa vào đó các nhà QLGD có thể đưa ra những biện pháp hữu hiệu hơn.
Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu
những biện pháp QL công tác GDĐĐ của Hiệu trưởng trường THPT trên địa
bàn tỉnh Hưng Yên một tỉnh giàu truyền thống cách mạng và có nhiều tiềm năng
về phát triển kinh tế .
1.2. Một số khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1. Quản lý
Bất kì lao động nào của xã hội hay cộng đồng ở một quy mô tương đối
lớn đều cần một chừng mực nhất định của hoạt động QL. Vì thế Các- Mác đã
khẳng định: “Tất cả mọi người lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào
tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để
điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát
sinh từ sự vận động những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm
thì tự mình điều khiển lấy mình, nhưng một dàn nhạc thì phải có nhạc trưởng ”.
[31]
Bản chất của QL là họat động lao động để điều khiền lao động, một hoạt
động tất yếu và vô cùng quan trọng của XH loài người. Nó bắt nguồn từ lao
động và tồn tại với tư cách là một loại lao động điều khiển mọi hoạt động XH
về kinh tế, chính trị, văn hoá, GD,… Các loại hình lao động ngày càng phong
phú, phức tạp thì hoạt động QL ngày càng có vai trò quan trọng có những chức
năng đặc biệt và phải luôn được thay đổi phù hợp, thích ứng với lao động xã
hội. Do vậy người ta thường nói: “QL là nghiệp xưa nhất nhưng cũng là nghề
mới nhất”.
Quản lý ra đời nhằm tạo ra một hiệu quả lao động cao hơn so với việc
làm của từng cá nhân riêng lẻ của một nhóm người khi họ tiến hành các công
việc có mục tiêu chung với nhau. Quản lý phải trả lời câu hỏi. Phải đạt mục tiêu
mục đích quản lý cần phải có phương tiện quản lý thích hợp.
Quản lý có phạm vi tác động lên khách thể rất rộng, do đó ngày nay nó
được xem là nhân tố quan trọng nhất trong các nhân tố quyết định sự thành công 9
của sự phát triển KT- XH (vốn, nguồn lực lao động, khoa học kĩ thuật, tài
nguyên và quản lý).
Như vậy: Quản lý là quá trình tác động có định hướng, có tổ chức của chủ
thể lên khách thể thông qua các cơ chế quản lý, nhằm sử dụng có hiệu quả cao
nhất các nguồn lực bên trong và bên ngoài trong điều kiện môi trường luôn luôn
có biến động, để cho hệ thống ổn định và vận động theo chiều hướng phát triển
tích cực đạt được những mục tiêu đề ra.
1.2.2. Quản lý giáo dục
Hiện nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về quản lý giáo dục ở trong và
ngoài nước, những kết quả nghiên cứu ấy đã được ứng dụng rộng rãi trong xã hội
đặc biệt là trong ngành giáo dục và đã mang lại những kết quả nhất định.
Trên thực tế khái niệm quản lý giáo dục được hiểu theo cả hai nghĩa,
nghĩa rộng và nghĩa hẹp tuỳ theo phạm vi áp dụng của từ “Giáo dục”.
Quản lý giáo dục được hiểu theo nghĩa rộng khi “Giáo dục” là hoạt động
diễn ra ngoài xã hội. Còn khi “Giáo dục” được diễn ra trong ngành GD thì quản
lý GD được hiểu theo nghĩa hẹp.
Để hiểu rõ hơn về khái niệm QLGD chúng ta xem xét một số quan điểm sau:
+ Theo Phạm Minh Hạc: “QL giáo dục là QL trường học, thực hiện
đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa
nhà trường vận hành theo nguyên lí giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục
tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục với thế hệ trẻ và với từng học sinh”. [11]
+Theo Đặng Quốc Bảo: “Quản lý giáo dục là hoạt động điều hành phối
hợp các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy công tác giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ
theo yêu cầu phát triễn xã hội”. [1]
động GD ngoài giờ lên lớp, QL hoạt động XH, đồng thời quản lý việc sử dụng
cơ sở vật chất, kĩ thuật, tài chính nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đáp ứng
yêu cầu của xã hội.
Như vậy quản lý nhà trường cơ bản không giống với quản lý các lĩnh vực
khác, vì đối tượng là con người, con người biết năng động và sáng tạo, sản
phẩm của GD là tri thức, là nhân cách của HS, mục tiêu của GD phổ thông là
giúp HS phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản 11
nhằm hình thành nhân cách con người Việt Nam XHCN, xây dựng tư cách và
trách nhiệm của công dân, chuẩn bị cho HS tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc
sống lao động sản xuất, tham gia xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
Quản lý nhà trường là một hoạt động dựa trên những qui luật chung của
quản lý, đồng thời có những nét đặc thù riêng của giáo dục, người HT phải biết
vận dụng sáng tạo và chịu trách nhiệm toàn bộ hoạt đông của nhà trường đó.
Qua những khái niệm và phân tích trên, chúng ta có thể kết luận rằng:
Quản lý nhà trường là quản lý của HT trong quá trình “dạy chữ” và “dạy
người”, đưa hoạt động dạy học ngày càng dần đến mục tiêu GD của Đảng, là
quá trình đào tạo thế hệ trẻ có những phẩm chất, đạo đức, năng lực và sức khoẻ
để kế tục sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới, đáp ứng yêu cầu của xã hôi.
1.2.4. Đạo đức
Sống trong xã hội dù muốn hay không con người vẫn phải có quan hệ trực
tiếp hoặc gián tiếp với những người xung quanh. Các quan hệ ấy vô cùng phong
phú và phức tạp, đòi hỏi con người phải có cách ứng xử giao tiếp và thường
xuyên điều chỉnh thái độ, hành vi của mình sao cho phù hợp với yêu cầu, chuẩn
mực và lợi ích chung của XH. Trong trường hợp này con người được xem là có
đạo đức. Ngược lại, những cá nhân biểu hiện thái độ, hành vi không phù hợp với
chuẩn mực XH, với cộng đồng, vì lợi ích cá nhân gây nên tổn hại lợi ích của
người khác, của XH, bị cộng đồng lên án, chê trách thì người đó coi là vô đạo
thống và sức mạnh của dư luận xã hội .
Ở Việt Nam chúng ta hiện nay đang thực hiện đường lối đổi mới, thực hiện
nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, giao lưu, hợp tác, hội nhập kinh tế quốc tế.
Do vậy khái niệm ĐĐ cũng đang thay đổi theo tư duy nhận thức, theo quan niệm
và cách nhìn nhận của từng thành viên trong cộng đồng XH. Định hướng giá trị
ĐĐ hiện nay phải theo đúng đường lối lãnh đạo của Đảng, là sự kết hợp sâu sắc
truyền thống tốt đẹp của dân tộc với xu thế tiến bộ của thời đại, của nhân loại.
Nguồn gốc của giá trị ĐĐ là tinh thần cần cù lao động, sáng tạo, là tình yêu quê
hương đất nước gắn với yêu CNXH, Sống làm việc theo hiến pháp và pháp luật, có
tinh thần nhân đạo và tinh thần quốc tế cao cả, phấn đấu để đạt được phẩm giá con 13
người Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh: “Cần-Kiệm -Liêm-Chính-Chí công
vô tư”.
Đạo đức có ba chức năng cơ bản đó là: Nhận thức, giáo dục và điều chỉnh
hành vi, trong đó chức năng điều chỉnh hành vi là quan trọng nhất.
* Về chức năng nhận thức: Đạo đức là công cụ giúp con người nhận thức
xã hội về mặt đạo đức, các quan điểm, nguyên tắc, chuẩn mực là kết quả của sự
phản ánh tồn tại xã hội, được mọi người đánh giá, thừa nhận và khái quát thành
những khuôn mẫu, thước đo các giá trị xã hội.
* Chức năng giáo dục: Trên cơ sở nhận thức về đạo đức, chức năng giáo
dục giúp con người hình thành những phẩm chất nhân cách, hình thành hệ thống
định hướng giá trị và chuẩn mực ĐĐ, điều chỉnh ý thức và hành vi con người.
* Điều chỉnh hành vi: Cùng với chức năng GD, chức năng điều chỉnh hành
vi ĐĐ có tác dụng làm cho hoạt động của con người phù hợp với lợi ích của xã hội,
của cộng đồng, biến yêu cầu ĐĐ của XH thành nhu cầu của bản thân.
1.2.5. Giáo dục đạo đức
GDĐĐ là quá trình tác động của con người GD đến đối tượng được GD,
nhằm biến hệ thống các chuẩn mực đạo đức, từ đòi hỏi bên ngoài của XH đối
có thể mâu thuẫn, làm vô hiệu hoá, suy yếu các kết quả tác động. Như vậy
GDĐĐ chỉ đạt hiệu quả khi nhà sư phạm biết tổ chức, biết kế hoạch và đưa ra
các biện pháp GD một cách hợp lí nhằm đạt được mục tiêu GD.
Ngày nay GDĐĐ cho học sinh là đạo đức XHCN. Đó là tận trung với
Đảng, tận hiếu với dân, yêu quê hương, đất nước, có lòng vị tha, nhân ái, cần cù,
tiết kiệm, liêm khiết, công minh, chính trực. Đó là GD truyền thống tốt đẹp của
ông cha ta qua bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước, GD bản sắc văn hoá của
các dân tộc Việt Nam .
Về mục tiêu GDĐĐ cho học sinh ở trường THPT là giúp cho mỗi cá nhân
nhận thức đúng đắn các giá trị ĐĐ, biết hành động theo lẽ phải, công bằng và
nhân đạo, biết sống vì mọi người, vì gia đình, vì sự tiến bộ của xã hội và phồn
vinh của đất nước.Trong đó mục tiêu quan trọng nhất của GDĐĐ là tạo lập
được những thói quen hành vi đạo đức. 15
Về nhiệm vụ GDĐĐ là làm sao cho mỗi con người được GD nhanh
chóng tiếp cận được với mục tiêu, do vậy GD phải tăng cường GD ý thức ĐĐ
tình cảm đạo đức, khơi dậy ở HS những rung động, cảm xúc với hiện thực xung
quanh biết yêu thương với những thái độ và hành vi đúng đắn, biết phản đối,
căm ghét những hiện tiêu tiêu cực, vô đạo đức, vô lương tâm, làm phương hại
đến uy tín, danh dự cá nhân và tập thể.
Về nội dung GDĐĐ là giáo dục ý thức, GD tình cảm và GD hành vi,
trang bị cho HS những hiểu biết, niềm tin về chuẩn mực và những quy tắc ứng
xử trong cuộc sống, trong học tập và lao động, về nghĩa vụ công dân trong việc
xây dựng và việc bảo vệ tổ quốc.
Về phương pháp giáo dục đạo đức thì nhà giáo dục thường chia làm ba
nhóm chính đó là:
Nhóm phương pháp thuyết phục, nhóm phương pháp tổ chức hoạt động
và nhóm phương pháp kích thích hành vi.
1.3.1. Tầm quan trọng của trường THPT trong công tác GDĐĐ cho học sinh
trong giai đoạn hiện nay.
Bất kì một nền giáo dục, một hệ thống giáo dục quốc dân nào cũng phải
có bậc THPT. Tuy nhiên số năm học, chương trình giảng dạy và phương pháp
giáo dục ở mỗi nước có khác nhau. Chúng ta có thể khẳng định rằng : Bậc
THPT có vai trò quan trọng, giữ vị trí đặc biệt trong giáo dục. Đây chính là bậc
học tạo nguồn chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên đại học, cao đẳng, trung
học chuyên nghiệp, hoặc là bước vào đời theo hướng lao động, sản xuất. Trường
THPT là nơi chuẩn bị hành trang thiết yếu, cơ bản nhất cho các em trở thành
người công dân có ích cho xã hội.
Giáo dục đạo đức cho học sinh là công việc của toàn xã hội, kết hợp chặt
chẽ của ba lực lượng GD, Song nhà trường vẫn là lực lượng quan trọng nhất.
Bởi lực lượng giáo dục trong nhà trường là một đội ngũ thầy cô giáo đã được
đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, và giáo dục nhà trường luôn có tổ chức, có
phương pháp, có chương trình, mục tiêu. Giáo dục đạo đức trong trường THPT
là một bộ phận quan trọng trong quá trình giáo dục tổng thể, có quan hệ biện 17
chứng với các bộ phận: Đức-Trí-Thể-Mỹ và lao động, giúp học sinh hình thành
và phát triển nhân cách toàn diện.
1.3.2. Một số đặc điểm tâm lí, nhân cách, hoạt động của học sinh THPT
Học sinh THPT là lứa tuổi đầu của tuổi thanh niên, là giai đoạn có những
đặc điểm sinh lí phát triển mạnh. Tuổi dậy thì ở các em là thời kì xảy ra những
mãnh liệt về tâm lý và cũng là thời kì then chốt của sự phát triển nhân cách, các
em phải ứng xử với những thay đổi to lớn trong môi trường học tập khi chuyển
từ THCS lên bậc THPT và rất nhiều những yêu cầu mới của xã hội, dẫn đến
những biến động về tâm lí. Những đặc điểm chung của lứa tuổi dễ thấy là :
+ Về mặt thể lực và trí lực .
Có thể nói đây là thời kì hoàn kim của quá trình phát triển thể lực và trí
rất nhạy bén với những biến động XH, dám nghĩ dám làm, dám nói lên ý kiến
và nhận định của bản thân, khao khát được mọi người đánh giá cao về mình,
quan tâm đến sự phát triển tài năng của bản thân và thường xuyên trao dồi phẩm
chất ĐĐ, khả năng tự kiềm chế dần được nâng cao, hành vi thiếu tự chủ được
giảm bớt, biết khép mình vào khuôn phép XH. Tuy nhiên với kinh nghiệm sống
chưa nhiều các em dễ bị cám dỗ, và ảnh hưởng những tác động xấu của ngoại
cảnh.
+ Về mặt tâm lí giới tính
Giai đoạn từ 15-17 tuổi là giai đoạn mà các em rất thích biểu hiện mình
trước bạn khác giới, thích làm dáng, làm điệu. Hiện tượng phát dục ở các em đã
đưa đến những biến đổi về mặt sinh lí dẫn đến những biến đổi về tâm lí, các em
ý thức được sự khác biệt về giới tính và nảy sinh “tình cảm” trong quan hệ,
ngưỡng mộ nhau trong giao tiếp. Trong các em bộc lộ những mâu thuẫn gay gắt
giữa nhu cầu hứng thú, sở thích cá nhân với khả năng vốn có cộng với những
quy tắc, quy phạm chặt chẽ của xã hội .
Tác giả Phạm Khắc Chương đã khẳng định :“Các em là những nhân
cách đang vươn lên để trở thành người công dân, các em vừa là đối tượng
mang tính đặc thù của lứa tuổi, vừa là chủ thể của GDĐĐ. Trong quá trình
hình thành và phát triển nhân cách học sinh THPT đã có đầy đủ các điều
kiện cơ bản về nhận thức, ý thức, hoạt động, Để biến quá trình đào tạo 19
thành quá trình tự đào tạo, quyết định kết quả phát triển tài đức cá nhân.
Tuy nhiên với kinh nghiệm, vốn sống của cá nhân chưa nhiều, học sinh
THPT dễ chao đảo trong hành vi hoạt động của mình”.[3]
Trong thực tế, có không ít thanh niên năng nổ, nhiệt huyết, dũng cảm,
nhưng vì nhận thức chưa chín, sức kiềm chế kém, dễ bị kích động, dễ đi đến
những hành động cực đoan, thậm chí vượt qua cả rào chắn của lí trí dẫn đến
những hành động thô bạo bất chấp hậu quả cho bản thân và xã hội.