SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH THPT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY - Pdf 29

+
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
PHÒNG GIÁO DỤC TRUNG HỌC
Mã số:
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
“MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH THPT TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY”
Người thực hiện : HÀ CÔNG CHÍNH
Lĩnh vực nghiên cứu:
Quản lý giáo dục : …………………………………………
Phương pháp dạy học bộ môn: …………………… 
Phương pháp giáo dục : ………………………………… 
Lĩnh vực khác: 
Có đính kèm: Các sản phẩm không thể hiện trong bản in SKKN
 Mô hình  Đĩa CD (DVD)  Phim ảnh  Hiện vật khác
(các phim, ảnh, sản phẩm phần mềm)
Năm học 2014 - 2015
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
PHÒNG GIÁO DỤC TRUNG HỌC

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Đồng Nai, ngày tháng 05 năm 2015
PHIẾU NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Năm học 2014 - 2015
–––––––––––––––––
Tên sáng kiến kinh nghiệm: ““Giải pháp nâng cao chất lượng sinh hoạt chuyên
đề của các tổ bộ môn, cụm chuyên môn liên trường”.
Họ và tên tác giả: TRẦN ĐÌNH VINH Chức vụ: Trưởng phòng
Đơn vị: Phòng Giáo dục trung học, Sở GDĐT Đồng Nai

Hà Công Chính
XÁC NHẬN CỦA TỔ
CHUYÊN MÔN
(Ký tên và ghi rõ họ tên)
THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
(Ký tên, ghi rõ
họ tên và đóng dấu)
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Sinh thời, Bác Hồ đã dạy “Người có đức mà không có tài làm việc gì cũng
khó. Người có tài mà không có đức thì vô dụng” Giáo dục phải là bồi dưỡng được
cái đức: cái vốn quí của một con người. Loài người đã bước sang thế kỷ XXI, sự
phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, xu thế toàn cầu
hoá kinh tế diễn ra mạnh mẽ. Sự phát triển của công nghệ đã ảnh hưởng to lớn đến
cuộc sống, sự phát triển của tất cả các quốc gia trên toàn thế giới. Sự ra đời của nền
kinh tế tri thức đặt ra những vấn đề mới cho lĩnh vực giáo dục đạo đức.
Sau hơn hai thập kỷ thực hiện chiến lược phát triển kinh tế xã hội, chủ động
hội nhập kinh tế quốc tế, nền kinh tế Việt Nam đã có những chuyển biến rõ rệt.
Bên cạnh những kết quả đạt được, nền kinh tế thị trường cũng dần bộc lộ một số
hạn chế nhất định như sự phân hoá giàu nghèo, bất công xã hội, một số tệ nạn gia
tăng. Đặc biệt, những mặt trái của nền kinh thế thị trường làm ảnh hưởng lớn đến
sự nghiệp giáo dục, trong đó sự suy thoái về đạo đức và những giá trị nhân văn là
vấn đề toàn xã hội quan tâm. Đánh giá thực trạng Giáo dục, đào tạo: Nghị quyết
TW 2 khóa VIII nhấn mạnh “Đặc biệt đáng lo ngại là một bộ phận học sinh, sinh
viên có tình trạng suy thoái về đạo đức, mờ nhạt về lý tưởng, theo lối sống thực
dụng, thiếu hoài bão lập thân, lập nghiệp vì tương lai của bản thân và đất nước”.
Lối sống thực dụng, sống gấp và thiếu lý tưởng, đề cao lợi ích cá nhân, giá trị
vật chất, tôn thờ đồng tiền, hiện tượng suy thoái, xuống cấp về đạo đức, lối sống
ở nhiều nơi, nhiều lĩnh vực, nhiều tầng lớp xã hội, đặc biệt là trong lối sống học
sinh THPT nói chung đã và đang trở thành mối quan tâm hàng đầu của tất cả mọi
người, mọi tầng lớp trong xã hội.

đối với đời sống kinh tế - xã hội.
Nhờ có đạo đức và thông qua đạo đức, những chuẩn mực xã hội mới phát
huy hết chức năng điều chỉnh hành vi, chế định hoạt động giao tiếp và hành vi ứng
xử của con người nhằm đảm bảo sự thống nhất cần thiết giữa lợi ích cá nhân và lợi
ích tập thể và lợi ích cộng đồng.
2. Đặc điểm của học sinh THPT trong việc hình thành các giá trị đạo
đức
a) Về đặc điểm tâm sinh lí của học sinh trung học phổ thông
Tuổi thanh niên nằm giữa tuổi trẻ em và tuổi người lớn, do đặc điểm này mà
lứa tuổi thanh niên là giai đoạn phát triển phức tạp và nhiều mặt của cá thể. Rất
nhiều các nghiên cứu đi sâu tìm hiểu, tổng kết và đưa ra các định hướng giáo dục
độ tuổi thanh niên mới lớn. Dựa trên các nghiên cứu về đặc điểm tâm lý lứa tuổi
thanh niên mới lớn (học sinh THPT) và một số thực trạng xã hội có liên quan đến
lứa tuổi này mà các nhà giáo dục rút ra được phương pháp giáo dục có hiệu quả.
Học sinh THPT (15 đến 18 tuổi) ở giai đoạn đầu tuổi thanh niên (thanh niên
mới lớn thanh niên sinh học). Đây là thời kỳ đạt được sự trưởng thành về mặt cơ
thể nhưng chưa thực sự phát triển thể lực của các em còn kém so với người lớn.
Các em đến trường học tập dưới sự chỉ đạo của người lớn, phụ thuộc vào người
lớn. Sự phát triển của hệ thần kinh có những thay đổi quan trọng do cấu trúc bên
trong của não phức tạp và các chức năng của não phát triển. Tuổi đầu thanh niên là
thời kì đầu đạt được sự tăng trưởng về mặt thể lực. Nhịp độ tăng trưởng về chiều
cao và trọng lượng đã chậm lại.
b) Về đặc điểm hoạt động học tập.
Hoạt động học tập của học sinh THPT đòi hỏi tính năng động và tính độc
lập hơn học sinh THCS. Ở lứa tuổi này đòi hỏi trình độ tư duy lý luận phát triển.
Hứng thú học tập của các em có những thay đổi rõ rệt, có tính bền vững và gắn
liền với khuynh hướng nghề nghiệp. Đối với các lĩnh vực khoa học, các em đã có
thái độ lựa chọn khá rõ ràng: có em thích học môn khoa học xã hội, có em lại thích
học môn khoa học tự nhiên. Nhìn chung thái độ học tập của thanh niên học sinh
gắn liền với động cơ thực tiễn, động cơ nhận thức, sau đó là ý nghĩa của môn học.

tiếp tục chú ý đến hình dáng bên ngoài của mình, hình ảnh về thân thể là một
thành tố quan trọng của sự tự ý thức của thanh niên mới lớn. Quá trình phát triển
tự ý thức diễn ra mạnh mẽ, sôi nổi và có tính chất đặc thù riêng. Thanh niên tìm
hiểu và đánh giá những đặc điểm tâm lý theo quan điểm về mục đích và hoài bão
của mình. Sự tự ý thức của họ xuất phát từ yêu cầu của cuộc sống và hoạt động,
địa vị mới trong tập thể, những quan hệ mới với thế giới xung quanh. Các em hay
ghi nhật ký, so sánh mình với những nhân vật mà họ coi là tấm gương, là thần
tượng. Nội dung của tự ý thức khá phức tạp, các em không chỉ nhận thức về cái
tôi của mình trong hiện tại mà còn nhận thức vị trí của mình trong xã hội, hiện tại
và tương lai. Đôi lúc còn có biểu hiện rõ những phẩm chất phức tạp. Các em có
khả năng đánh giá sâu sắc những phẩm chất, mặt mạnh, mặt yếu của những người
cùng sống với mình. Đồng thời các em cũng có khuynh hướng độc lập trong việc
phân tích đánh giá bản thân, song việc tự đánh giá bản thân nhiều khi chưa khách
quan, có thể sai lầm, cần giúp đỡ khéo léo để các em hình thành một biểu tượng
khách quan về nhân cách của mình.
Trên cơ sở tư ý thức phát triển mạnh mẽ, nhu cầu tự giáo dục ở học sinh
THPT cũng được phát triển. Tuy chưa thật có lòng tin và tự giáo dục hoặc chưa
thành công trong tự giáo dục, nhưng vấn đề tự giáo dục của học sinh THPT thật sự
là cần cho sự phát triển của chính các em, vừa là đối tượng, vừa là chủ thể của
giáo dục, các em là những nhân cách đang vươn lên để trở thành người công
dân… các em vừa là đối tượng mang tính đặc thù của lứa tuổi, vừa là chủ thể của
giáo dục đạo đức. Trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách, học sinh
THPT đã có đầy đủ các điều kiện cơ bản về nhận thức, ý chí hoạt động… Để biến
quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo, quyết định kết quả phát triển tài đức
của cá nhân. Tuy nhiên, với kinh nghiệm, vốn sống của cá nhân chưa nhiều, học
sinh phổ thông dễ thay đổi hành vi hoạt động của mình.
d) Về sự hình thành thế giới quan
Học sinh THPT trong độ tuổi quyết định sự hình thành của thế giới quan.
Đây là nét chủ yếu trong sự phát triển tâm lý của tuổi thanh niên học sinh. Chỉ số
đầu tiên của sự hình thành thế giới quan là sự phát triển của hứng thú nhận thức

đủ tuổi nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ lao động, nữ đủ tuổi kết hôn, đó là những cái
đích đến của cuộc đời các em. Vì vậy, ở cấp học THPT, nhà trường phải chuẩn bị
cho các em một hành trang hoàn chỉnh trước khi bước vào cuộc sống cộng đồng.
Đối với nhà trường, học sinh là nòng cốt trong các phong trào, tham gia tổ chức
Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh. Hệ thống tri thức mà học sinh được tiếp
nhận ngày càng phong phú. Ở tuổi học sinh THPT, quan hệ bạn bè chiếm vị trí
hơn hẳn so với những lớp người khác. Học sinh có lòng khao khát muốn có vị trí
bình đẳng trong cuộc sống với mọi người trong xã hội. Các em được sinh hoạt với
các bạn cùng tuổi, cảm thấy mình cần cho nhóm, có uy tín, có vị trí nhất định
trong nhóm. Các em thích giao lưu với ban bè cùng lứa tuổi, cùng lớp, cùng
trường hoặc ngoài trường. Trong công tác giáo dục đạo đức càng chú ý tới ảnh
hưởng của nhóm. Nhà trường phải lưu ý đến những hành vi của học sinh trong
việc sinh hoạt hội tự phát ngoài nhà trường. Hậu quả xấu của nhóm tự phát không
thể lường trước được. Muốn tránh được điều đó bằng cách tổ chức các hoạt động
tập thể, tổ chức để phát huy được tính tích cực của thanh niên, thẳng thắn chỉ trích
những hình thức tham gia băng đảng tự phát ngoài xã hội…
Đời sống tình cảm của thanh niên mới lớn rất phong phú. Đặc biệt ở lứa tuổi
này, các em có nhu cầu lớn về tình bạn chân thật, tin tưởng và giúp đỡ lẫn nhau.
Tình bạn của các em mang tính xúc cảm cao, đôi lúc lý tưởng hóa tình bạn. Ở
thanh niên mới lớn quan hệ giữa nam và nữ được tích cực hóa rõ rệt. Đa số các em
đã vượt qua thời kì phát dục. Để giáo dục đạo đức, lối sống lành mạnh cho các em,
chúng ta cần chú ý xây dựng mối quan hệ tốt đẹp. Mối quan hệ bình đẳng, tôn
trọng lẫn nhau, tin tưởng nhau, tạo điều kiện để các em phát huy tính tích cực, chủ
động, sáng tạo độc lập, giúp các em nâng cao tinh thần trách nhiệm của bản thân
và tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển nhân cách.
.Từ các đặc điểm trên, công tác giáo dục đạo đức có ý nghĩa hết sức to lớn
trong sự phát triển nhân cách của các em. Nhà trường có vai trò quan trọng, có vị
trí đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục đạo đức. GDĐĐ cho học sinh là trách nhiệm
của toàn xã hội, trong đó nhà trường giữ vai trò chủ đạo. GDĐĐ trong nhà trường
là một quá trình giáo dục tổng thể, có quan hệ biện chứng giữa các bộ môn. Mục

tính cách là những con người thì người mới là ý niệm hiện thực của nhân cách”.
Trong môi trường xã hội con người không ngừng thực hiện cơ chế truyền
đạt và lĩnh hội các kinh nghiệm sống, các mối quan hệ xã hội. Trong môi trường
xã hội đó con người phải giao tiếp và hoạt động. Chính trong quá trình hoạt động
này đã hình thành các mối quan hệ xã hội đa dạng, phức tạp. Đây chính là điều kiện
để phát triển nhân cách của từng cá nhân.
Điều 27, khoản 1, chương III Luật Giáo dục (sửa đổi, bổ sung năm 2010)
khẳng định “Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện
về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá
nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã
hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh
tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc”.
c) Yêu cầu của giáo dục đạo đức cho học sinh trường THPT
Quá trình giáo dục đạo đức không chỉ định hướng cho các hoạt động giáo
dục đạo đức mà còn định hướng cho hoạt động dạy học nói chung. Với tư cách là
một người làm công tác giáo dục, trước hết cần phải hiểu biết một cách sâu sắc
những vấn đề chung của quá trình giáo dục đạo đức. Từ đó, có những định hướng,
mục tiêu sát thực, xây dựng được những chương trình, kế hoạch khả thi và có
những biện pháp tổ chức chỉ đạo thích hợp để nâng cao chất lượng và hiệu quả của
quản lý giáo dục nói chung, quá trình giáo dục đạo đức nói riêng. Do đó, quá trình
giáo dục đạo đức cho học sinh cần phải đạt được những yêu cầu như:
- Về mặt nhận thức: Giúp cho mọi người, mọi ngành, mọi tổ chức cá nhân
và xã hội có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của công tác giáo dục đạo đức
cho học sinh trung học phổ thông trong giai đoạn hiện nay.
- Về thái độ, tình cảm: Giúp mọi người có hiểu biết và ủng hộ những việc
làm đúng, biết đấu tranh với những việc làm, hành vi sai trái, tiêu cực.
- Về hành vi: Tích cực thực hiện, rèn luyện và tu dưỡng phẩm chất đạo đức
theo đúng chuẩn mực chung, phù hợp với xã hội.
Muốn vậy, Giáo dục đạo đức phải giúp cho học sinh thấm nhuần sâu sắc thế

cực và tệ nạn xã hội, lối sống buông thả, lệch lạc về hành vi, hành xử hung bạo,
thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm; góp phần định hướng giá trị Chân - Thiện - Mỹ
trong học sinh.
Bên cạnh đó, các hình thức dạy học và tuyên truyền phổ biến giáo dục đạo
đức, giáo dục pháp luật hiệu quả khá cao như: dạy học tích hợp các nội về tư
tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật trong môn
học Giáo dục công dân và các môn học khác, câu lạc bộ học sinh với pháp luật, thi
tìm hiểu về tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tìm hiểu pháp luật, đội
thanh niên tình nguyện tuyên truyền, phổ biến pháp luật… được củng cố và nhân
rộng; tuyên truyền miệng, phát hành tài liệu tuyên truyền; góp phần giáo dục ý
thức công dân, ý thức chấp hành pháp luật, nội quy kỷ luật, tôn trọng quy ước
cộng đồng, hình thành thói quen đạo đức, kỹ năng sống tốt đẹp trong toàn thể đoàn
viên, thanh niên và học sinh ở các nhà trường.
Với những nỗ lực đổi mới nội dung, phương thức giáo dục, trong thời gian
qua, nhiều đơn vị trường học đã tập trung xây dựng các điển hình tiên tiến trong
từng đối tượng thanh niên học sinh; đa dạng hóa và nâng cao chất lượng các phong
trào; tiếp cận và khai thác các phương tiện hiện đại như internet, chủ động phối hợp
với các tổ chức, đoàn thể trong nhà trường tuyên truyền, định hướng, giáo dục học
sinh, chủ động tiếp cận, giáo dục, cảm hóa các đối tượng học sinh chậm tiến. Nâng
cao chất lượng và hiệu quả hai mặt giáo dục. Đổi mới các hoạt động giáo dục, hoạt
động tập thể, gắn học với hành, lý thuyết với thực tiễn; giúp học sinh có được
những kỹ năng sống cơ bản.
Triển khai thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo
đức Hồ Chí Minh”; tổ chức tập huấn và triển khai thực hiện về tích hợp nội dung
học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh vào việc giảng dạy các môn
Ngữ văn, Lịch sử, Giáo dục công dân, Âm nhạc, Mỹ thuật và Hoạt động ngoài giờ
lên lớp; tổ chức Hội thi Kể chuyện gương sáng học tập và làm theo tấm gương đạo
đức Hồ Chí Minh.
Phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”. Đội
ngũ cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh đều nhận thức rõ tầm quan trọng và lợi

10 27.426 19.002 69.28 6.333 23.09 1.649 6.01 442 1.61
11 24.161 17.688 73.21 4.899 20.28 1.306 5.41 268 1.11
12 23.976 19.352 80.71 4.117 17.17 494 2.06 13 0.05
Toàn cấp 75.563 56.042 74.17 15.349 20.31 3.449 4.56 723 0.96
(Nguồn: Sở Giáo dục và Đào tạo Đồng Nai)
+ Kết quả xếp loại đạo đức năm học 2013 – 2014 cấp THPT
LỚP
Tổng
số HS
Xếp loại Đạo đức
Tốt Khá TB Yếu
Số lượng
Tỷ lệ
%
Số lượng
Tỷ lệ
%
Số
lượng
Tỷ lệ
%
Số
lượng
Tỷ lệ
%
10 22,555 16,649 73.82 4,579 20.30 1,088 4.82 240 1.06
11 24,451 8,770 76.77 4,399 17.99 1,080 4.42 202 0.83
12 23,396 20,096 85.90 2,926 12.51 371 1.59 3 0.01
Toàn cấp 70,402 55,515 78.85 11,904 16.91 2,539 3.61 445 0.63
(Nguồn: Sở Giáo dục và Đào tạo Đồng Nai)

uống rượu, hút thuốc lá
+ Số học sinh gặp khó khăn trong rèn luyện đạo đức vẫn còn nhiều, một số giáo
viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm chưa thật sự quan tâm đến việc giáo dục đạo đức
thông qua các tiết học ở trên lớp, thậm chí còn có thái độ thờ ơ, thiếu trách nhiệm khi
thấy học sinh có dấu hiệu vi phạm đạo đức. Sự phối hợp giáo dục giữa nhà trường, gia
đình và xã hội còn nhiều mặt hạn chế.
b) Những hạn chế trong giáo dục đạo đức cho học sinh THPT trên địa bàn tỉnh
Bên cạnh những kết quả đáng khích lệ, khả quan đã đạt được trong thời gian
qua, công tác giáo dục đạo đức cho học sinh THPT trên địa bàn tỉnh Đồng Nai trong
giai đoạn hiện nay vẫn còn một số mặt tồn tại và hạn chế.
- Một bộ phận không nhỏ các em học sinh vẫn chưa hiểu và xác định được các
giá trị đích thực của cuộc sống, sống buông thả, thực dụng, vô cảm, ích kỷ thiếu trách
nhiệm với bản thân, với gia đình và xã hội. Hiện tượng học sinh vi phạm đạo đức ngày
càng nhiều, khiến dư luận xã hội lo lắng, nhiều thầy, cô giáo và các nhà quản lý giáo
dục phải đau đầu.
- Công tác giáo dục chính trị tư tưởng đã có đổi mới nhưng chưa tác động sâu
sắc đến đông đảo đoàn viên, thanh niên học sinh; công tác tuyên truyền, định hướng lý
tưởng, giáo dục đạo đức lối sống, nêu gương người tốt, việc tốt cho học sinh chưa
thường xuyên. Nhiều cơ sở giáo dục chưa chủ động trong công tác phối hợp tuyên
truyền, giáo dục pháp luật đối với học sinh. Công tác nắm bắt, định hướng tình hình tư
tưởng học sinh có lúc, có nơi thiếu kịp thời. Một bộ phận học sinh thiếu trách nhiệm
với bản thân và xã hội, thiếu ý chí khắc phục khó khăn để vươn lên, có lối sống không
lành mạnh, ý thức chấp hành pháp luật có nhiều hạn chế. Tính tương tác trong các hoạt
động giáo dục còn ít. Việc tổng kết và nhân rộng các mô hình, cách làm hay trong công
tác giáo dục đạo đức học sinh còn nhiều vấn đề bất cập, chưa phát huy được tác dụng
tích cực.
- Vai trò của các tổ chức đoàn thể trong nhà trường trong việc tổ chức các hoạt
động nhằm giáo dục các giá trị đạo đức, lối sống cho đoàn viên, thanh niên học sinh
chưa thật sự hiệu quả; cơ sở vật chất, thiết chế vui chơi, giải trí cho học sinh còn ít và
thiếu đồng bộ.

chậm được khắc phục, chưa khai thác và phát huy hết các nguồn lực, điều kiện cho
công tác giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh.
- Bốn là, Các cấp ủy đảng, chính quyền một số nơi chưa quan tâm đúng mức
và thường xuyên đối với công tác giáo dục thanh niên, học sinh; việc tổ chức thực
hiện các phong trào thi đua mang tính giáo dục truyền thống đối với học sinh chưa
thực sự hiệu quả; giữa nhận thức và sự quan tâm thực tế cho công tác giáo dục đạo
đức còn chưa tương xứng.
- Năm là, Trong quá trình giáo dục học sinh, đội ngũ giáo viên có lúc chưa
nhận thức hết mối quan hệ biện chứng giữa hai mặt đạo đức và văn hóa, Vì vậy,
khuynh hướng tập trung nâng cao văn hóa, không chú ý đến vai trò của mặt giáo
dục đạo đức; công tác giáo dục đạo đức còn thực hiện mang tính chung chung, thiếu
tính toàn diện, xem nhẹ việc thực hành rèn luyện hành vi, thói quen đạo đức.
- Sáu là, Việc phối hợp giáo dục giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong
quá trình giáo dục đạo đức có lúc thiếu chặt chẽ, chưa đồng bộ. Đời sống kinh tế
khó khăn, một bộ phận không nhỏ đoàn viên, thanh niên học sinh, suy thoái về tư
tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; môi trường gia đình, nhà trường và xã hội có
những biểu hiện xuống cấp đã ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp làm cản trở
những nỗ lực trong công tác giáo dục, tập hợp, vận động học sinh của các đơn vị
trường học.
Kết quả điều tra nguyên nhân của hạn chế trong giáo dục giá trị đạo đức
cho học sinh ở Đồng Nai cho thấy:

TT Nội dung
%Ý kiến
trả lời
Ghi chú
1 Gia đình thiếu quan tâm 19.9
2 Nhà trường thiếu biện pháp giáo dục 34.5
3 Xã hội còn tiêu cực 27.1
4 Quản lý xã hội còn buông lỏng 23.9

giáo viên 54%. Trong khi số người có quan điểm cho rằng không cần lưu giữ giá
trị đạo đức truyền thống cũng chiếm tỷ lệ tương đối, nhóm học sinh 17%, nhóm
cán bộ, giáo viên 19%.
Bảng 2. Giá trị đạo đức Việt Nam nổi bật nhất
Stt Giá trị đạo đức
Tỷ lệ %
Học sinh Cán bộ, giáo viên
1 Yêu nước 20 28
2 Đoàn kết 28 24
3 Lao động cần cù, tiết kiệm 11 20
4 Thương người 20 8
5 Ý thức cộng đồng 9 16
6 Ý kiến khác 12 4
( Số liệu tổng hợp điều tra năm 2014)
Có thể thấy, giữa hai nhóm được khảo khát có quan điểm khác nhau về giá
trí đạo đức truyền thống nổi bật nhất. Nhóm học sinh cho là giá trị đoàn kết 28%,
yêu nước 20%; nhóm cán bộ, giáo viên cho là giá trị yêu nước 28%, đoàn kết
24%.
Như vậy, sự khác nhau này là do nhận thức, sự trải nghiệm cuộc sống. Tuy
nhiên những giá trị đạo truyền thống tuy cần được lưu giữ nhưng vai trò của nó lại
rất mờ nhạt trong lối sống của học sinh trong tình hình hiện nay.
Bảng 3. Những giá trị đạo đức Việt Nam ít được lưu giữ
Stt Giá trị đạo đức
Tỷ lệ %
Học sinh Cán bộ, giáo viên
1
Yêu nước, đoàn kết, lao động cần cù,
thương người
10 22
2

học, anh hùng, chịu khó, trung thực, ý thức cộng đồng; nhóm Cán bộ, giáo viên
cho là lạc quan, vì nghĩa, giản dị trong lối sống, yêu gia đình. Nguyên nhân dẫn
đến quan niệm khác nhau là do chênh lệch về trình độ học vấn, kinh nghiệm
sống, Nên trình độ nhận thức của hai nhóm đối tượng không giống nhau.
Tuy nhiên nhìn chung, quan niệm về giá trị đạo đức trong lối sống của học
sinh cũng có điểm tương đồng, tỷ lệ học sinh kế thừa và phát huy các giá trị đạo
đức truyền thống chưa cao, Bên cạnh đó có một bộ phận không nhỏ trong học sinh
còn mơ hồ về nguyên nhân làm suy thoái đạo đức truyền thống. Song, ở mỗi học
sinh vẫn thấy được tầm quan trọng của giá trị đạo đức trong lối sống, nhưng họ
chưa biết chọn lọc những giá trị hiện đại và kế thừa, phát huy giá trị truyền thống
như thế nào trước sự hội nhập kinh tế quốc tế. Vấn đề, chúng ta phải giáo dục và
trang bị những giá trị đạo đức ấy cho học sinh bằng cách nào? Để họ vừa kế thừa,
phát huy giá trị truyền thống vừa tiếp biến những giá trị mới, kết hợp hài hòa
truyền thống và hiện đại để phù hợp với sự phát triển xã hội.
Thông qua tình hình và thực tế khảo sát thực trạng giáo dục đạo đức học
sinh THPT tỉnh Đồng Nai trong giai đoạn hiện nay, ta thấy rõ hơn thực trạng học
sinh khi phân tích yếu tố tích cực và tiêu cực.
Thứ nhất, yếu tố tích cực trong lối sống: Học sinh cả nước nói chung, học
sinh tỉnh Đồng Nai nói riêng, có nhiều thế mạnh, nhất là trong thời đại toàn cầu
hoá, sức trẻ, tài năng, sự nhạy cảm của họ là yếu tố quan trọng để hội nhập; lý
tưởng của họ, trên tất cả các lĩnh vực, mọi hoạt động, có thể nói gọn trong một
chữ: “Dám” đó là dám nghĩ, dám làm, dám mơ ước, dám nhận thấy những hạn
chế, non yếu và dám tin vào chính mình.
Chính nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá thường xuyên đặt ra những yêu cầu cao, đòi
hỏi mỗi họ phải năng động hơn, có đủ phẩm chất năng lực trí tuệ, tri thức khoa
học, từng bước vươn lên làm chủ khoa học kỹ thuật công nghệ hiện đại, đòi hỏi
học sinh học tập và rèn luyện với một tinh thần trách nhiệm cao, cùng với thái độ
lao động mới, thể hiện ở chất lượng và hiệu quả trong trong suốt quá trình học tập
và rèn luyện. Đồng thời thúc đẩy họ tích cực tìm kiếm, sáng tạo, thường xuyên

đến lối sống giới trẻ, trong đó có học sinh. Một bộ phận không nhỏ thanh niên, học
sinh cả nước nói chung, trong đó thanh niên, học sinh tỉnh Đồng Nai nói riêng
hiện nay, sống trong sự nô lệ cả tinh thần và vật chất, theo văn hoá ngoại lai bằng
các suy nghĩ nông cạn, chạy theo những giá trị vật chất, đề cao thái hoá vai trò cá
nhân,… hay thích thể hiện mình theo những chuẩn mực giá trị nước ngoài, xa rời
nguồn gốc dân tộc, tự hạ thấp các giá trị vật chất tinh thần của dân tộc, tự biến
mình trở thành một ký sinh trùng của xã hội. Như vậy có thể thấy, một bộ phận
không nhỏ học sinh ở trên địa bàn tỉnh Đồng Nai chưa có những nhận thức, định
hướng đúng đắn các vấn đề do hội nhập kinh tế quốc tế đưa lại. Vô tình đưa họ
đến những phạm pháp đáng tiếc.
Từ thực trạng trên, chúng ta thấy lối sống của mọi người bị quy định bởi
hoàn cảnh khách quan của xã hội, bởi những điều kiện sống và sự giáo dục của gia
đình và xã hội. Mỗi học sinh hãy chủ động trên bước đường lập nghiệp và trong
mọi hoàn cảnh để vừa thể hiện bản lĩnh của người chủ nhân tương lai của đất nước
vừa thể hiện bản lĩnh của người Việt Nam trong cơn lốc hội nhập với thế giới.
Đồng thời, mỗi học sinh phải thấy được trách nhiệm đối với bản thân cũng là trách
nhiệm đối với xã hội; phải tự tạo hành trang cho mình bằng cách nắm lấy tri thức
làm sức mạnh của bản thân; có tinh thần yêu nước, biết phát huy những truyền
thống tốt đẹp của dân tộc; có cá tính, năng lực sáng tạo, có lý tưởng, đạo đức cách
mạng… như vậy mới hoàn thành sứ mệnh là lực lượng quyết định là động lực phát
triển của đất nước nói chung và của tỉnh Đồng Nai nói riêng.
2. Những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục giá trị
đạo đức cho học sinh trường THPT trong giai đoạn hiện nay
a) Nâng cao nhận thức về giá trị đạo đức cho học sinh
Nhận thức về giá trị đạo đức
- Đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho học
sinh THPT trong giai đoạn hiện nay, có vai trò to lớn trong việc nâng cao nhận
thức cũng như điều chỉnh tư tưởng, thái độ và hành vi của con người. Bên cạnh
việc phát huy các phương tiện thông tin đại chúng thì việc đề cao tính trách nhiệm
của các tổ chức đoàn thể trong nhà trường là hết sức cần thiết. Với vị trí và vai trò

đôi khi có tính quyết định, nên những quan hệ lợi ích, những quan hệ xã hội tác
động trực tiếp, hàng ngày đến hành vi đạo đức của mỗi học sinh. Vì vậy giáo dục
đạo đức, lối sống cho học sinh là nhiệm vụ thường xuyên và ngày càng trở nên
quan trọng trong giai đoạn hiện nay.
- Không ngừng tăng cường giáo dục nâng cao bản lĩnh chính trị, bồi dưỡng
đạo đức, lý tưởng cách mạng của Đảng, của dân tộc; bồi dưỡng lòng yêu nước,
yêu chủ nghĩa xã hội cho thế hệ trẻ; lấy giáo dục nhân cách, giáo dục đạo làm
người là chính. Nhằm hình thành những thế hệ học sinh ưu tú, vững vàng về chính
trị, kiên định mục tiêu xã hội chủ nghĩa, có lý tưởng sống cao đẹp, sống có văn
hóa và tình nghĩa, giàu lòng yêu nước và tinh thần quốc tế chân chính, biết nuôi
dưỡng hoài bão, tự cường dân tộc.
- Đẩy mạnh phong trào học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí
Minh trong các đơn vị trường học. Xác định rõ, đây là công việc thường xuyên
hàng ngày, là trách nhiệm cụ thể, thiết thực của mỗi học sinh.
- Các Chuẩn mực đạo đức phải được đề cao, nhân cách con người phải được
tôn trọng, quan hệ giữa người với người phải là quan hệ giàu nhân tính, thể hiện ở
tính lên kết và sự hợp tác, sự quan tâm và trách nhiệm, sự cảm thông chia sẽ, giàu
lòng nhân ái, vị tha, nhất là tình thương đối với trẻ em và sự bình đẳng, tôn trọng
dành cho phụ nữ. Đó là những biểu hiện của đạo đức và văn hoá đạo đức cần giáo
dục cho thế hệ trẻ, đặc biệt là học sinh để tạo thành thói quen trong hành vị ứng xử
của họ.
- Vào đầu năm học mới cần giới thiệu cho học sinh truyền thống xây dựng,
phát triển và trưởng thành, các hình ảnh các thế hệ đã trưởng thành từ mái trường
nay đang góp sức xây dựng quê hương đất nước. Các thành quả mà nhà trường đã
đạt được, các thế hệ thầy cô giáo đã và đang công tác trong nhà trường để từ đó
giúp cho học sinh tình yêu trường yêu lớp, biết phát huy những truyền thống tốt
đẹp của nhà trường.
- Tổ chức các buổi nói chuyện, tọa đàm của các cán bộ lão thành cách
mạng, các cựu chiến binh; tổ chức các đợt đi thăm các di tích lịch sử. Từ đó hình
thành cho học sinh lòng yêu quê hương đất nước, tự hào dân tộc, ý chí tự cường về

sử hàng nghìn năm của dân tộc. Do đó, nếu mỗi học sinh biết dung hòa được các
giá trị truyền thống với các giá trị hiện đại thì kinh tế, xã hội sẽ phát triển, nhưng
các giá trị truyền thống phải được biến đổi phù hợp với tinh thần thời đại. Trong
quá trình biến đổi đó, các giá trị truyền thống được gạn lọc, khơi trong, được kết
hợp với giá trị hiện đại tạo nên một hệ giá trị mới mang tinh thần của thời đại,
nhưng lại có đặc điểm của dân tộc. Đồng thời sẽ giúp họ tiếp thu một cách có chọn
lọc các luồng giá trị mới và cũng là điều kiện giúp giới trẻ từng bước tiến vào thế
giới mà không sợ lai căng hay đánh mất chính mình trong lối sống của mỗi người.
- Hạn chế các yếu tố tiêu cực trong lối sống.

Cần giáo dục cho thế hệ trẻ việc nhận diện các quan hệ đạo đức đang vận
động trong đời sống của xã hội. Việc cổ vũ, ủng hộ các quan hệ đạo đức đúng đắn,
phê phán và đấu tranh công lại các quan niệm đạo đức sai lầm một cách khách
quan là điều cần thiết để từ đó, học sinh có lòng tin vào những điều thiện và phê
phán điều ác một cách khoa học, củng cố ý thức tự giác. Các hành vi xấu, thiếu
trách nhiệm, ăn bám, lười biếng, lừa đảo phải được vạch trần và người tốt việc tốt
phải được cổ vũ, nêu gương điển hình
Nghị Quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII
đã nhấn mạnh những đức tính cần có của con ngưòi mới Việt Nam:
- Có tinh thần yêu nước, tự cường dân tộc, phấn đấu vì độc lập dân tộc và
chủ nghĩa xã hội, có ý chí vươn lên đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu,
đoàn kết với nhân dân thế giới trong sự nghiệp đấu tranh vì hoà bình, độc lập dân
tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
- Có ý thức tập thể, đoàn kết, phấn đấu vì lợi ích chung.
- Có lối sống lành mạnh, nếp sống văn minh, cần kiệm, trung thực, nhân
nghĩa, tôn trọng kỷ cương phép nước, quy ước của cộng đồng, có ý thức bảo vệ và
cải thiện môi trường sinh thái.
- Lao động chăm chỉ với lương tâm nghề nghiệp, có kỹ thuật, sáng tạo, nâng
xuất cao vì lợi ích của bản thân, gia đình, tập thể, xã hội.
- Thường xuyên học tập, nâng cao hiểu biết, trình độ chuyên môn, trình độ

các vấn đề trong cuộc sống, chú ý phát huy tư duy độc lập, sáng tạo trong học
sinh.
- Giáo viên cần tích cực, chủ động tự học, tự bồi dưỡng nâng cao trình độ
chuyên môn nghiệp vụ thông qua các đợt tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp
vụ và các buổi sinh hoạt tổ nhóm chuyên môn, dự giờ, chú ý các kĩ thuật dạy học
tích cực, Thường xuyên cập nhật kiến thức lý luận và thực tiễn về giáo dục và về
môn học, gắn nội dung bài học với cuộc sống, tăng cường dạy chữ kết hợp với dạy
người.
- Tăng cường các hoạt động ngoại khoá cho giáo viên và học sinh, kết hợp
với các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, các hoạt động của Đoàn, đội nhằm
thông qua các hoạt động này góp phần giúp học sinh hình thành nhân cách, nhận
thức các giá trị sống và hình thành các kĩ năng sống.
- Tăng cường đổi mới kiểm tra đánh giá thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy
học môn Giáo dục công dân và các môn học khác. Bám sát chuẩn kiến thức, kĩ
năng, thái độ trong kiểm tra; kết hợp giữa đánh giá bằng cho điểm mức độ đạt
được về kiến thức và kỹ năng với việc theo dõi sự tiến bộ về thái độ, hành vi trong
việc rèn luyện đạo đức, lối sống của học sinh.
- Tích hợp giảng dạy nội dung “Học tập và làm theo tấm gương đạo
đức Hồ Chí Minh” vào các môn học.
Tiếp tục tích hợp, lồng ghép nội dung giáo dục “Học tập và làm theo tấm
gương đạo đức Hồ Chí Minh”, giáo dục giá trị và kĩ năng sống, giáo dục bảo vệ
môi trường vào môn Giáo dục công dân một cách phù hợp với từng đối tượng học
sinh và điều kiện cụ thể của từng trường theo đúng nguyên tắc, cách thức, nội
dung đã nêu trong các tài liệu hướng dẫn. Việc tích hợp, lồng ghép những nội
dung trên được xem là những hoạt động quan trọng trong việc tiếp tục thực hiện
cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, là nội
dung cơ bản của phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh
tích cực”. Việc kiểm tra, đánh giá đối với những nội dung tích hợp, lồng ghép
trong kiểm tra đánh giá môn Giáo dục công dân: cần chú ý kiểm tra năng lực vận
dụng, tư duy sáng tạo để giải quyết các vấn đề trong thực tiễn, đánh giá thông qua

giới.
+ Phong trào xây dựng “Trường học thân thiện, Học sinh tích cực”.
Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, thân thiện là yêu cầu bức thiết để
học sinh được sống và rèn luyện, có điều kiện để trải nghiệm khả năng của mình.
Có được một môi trường giáo dục lành mạnh và thân thiện trong bối cảnh hiện nay
quả thực là một đòi hỏi rất lớn đối với các lực lượng tham gia vào quá trình giáo
dục. Môi trường vĩ mô của toàn xã hội, mọi người cùng làm giáo dục, nhà nhà
cùng làm giáo dục, làm sao cho để xây dựng được xã hội học tập, học tập suốt đời.
Môi trường vi mô ở gia đình, trong nhà trường có vai trò rất quan trọng trong quá
trình giáo dục tư tưởng, đạo đức lối sống cho học sinh. Mỗi môi trường đều có
phương pháp giáo dục đặc thù, trong đó nhà trường giữ vai trò hết sức quan trọng.
Tổ chức các hoạt động giáo dục đa dạng, linh hoạt, gắn với đặc điểm lứa
tuổi nhằm thu hút học sinh tham gia một cách tích cực và hào hứng theo khả năng
của mình. Tính đa dạng của các hoạt động giáo dục bao hàm cả về nội dung giáo
dục lẫn hình thức hoạt động. Nội dung giáo dục của hoạt động phải phản ánh
nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống kinh tế, xã hội hiện nay. Đồng thời nội
dung đó cần đáp ứng nhu cầu mong muốn nâng cao hiểu biết của học sinh trước
những thách thức của cuộc sống. Hình thức hoạt động là yếu tố tạo nên sự thành
công trong công tác tổ chức hoạt động cho học sinh. Lựa chọn các hình thức hoạt
động phải đảm bảo có thể đáp ứng nhu cầu, hứng thú và khả năng của các em. Nếu
là hình thức khiên cưỡng, bị áp đặt thì hiệu quả giáo dục sẽ không cao, không
mang lại hứng thú cho các em, ngược lại sẽ tạo nên tâm lý thụ động khi bắt buộc
phải tham gia vào hoạt động của tập thể.
Tăng cường giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua hoạt động phong
trào xây dựng “Trường học thân thiện, Học sinh tích cực”, coi đó là giải pháp tích
cực nhằm hình thành, phát triển ở các em một lối sống lành mạnh, có văn hóa, có
đạo đức. Giáo dục kỹ năng sống giúp học sinh có cách suy nghĩ, thái độ và hành vi
tích cực, đặc biệt giúp tăng cường kỹ năng giao tiếp hiệu quả, có kỹ năng phân
tích vấn đề và tình huống, có thái độ tự khẳng định và có quyết định chọn lựa.
Giáo dục kỹ năng sống kết nối nhà trường, gia đình và cộng đồng trong cùng mục

qua ngàn năm dựng nước và giữ nước, truyền thống nhân đạo sâu sắc, truyền
thống đoàn kết, cần cù trong lao động, sản xuất, truyền thống “Uống nước nhớ
nguồn”,“Ăn quả nhớ người trồng cây”… Thông qua đó giúp cho học sinh nhận
thấy trách nhiệm của mình với Tổ quốc, với gia đình và xã hội mà trước tiên là
trách nhiệm với bản thân, trách nhiệm trong học tập, lao động như thế đã hình
thành trong mỗi học sinh những phẩm chất đạo đức truyền thống đáng quý của
dân tộc Việt Nam.
e) Phát huy tính tự giác của học sinh trong giáo dục giá trị đạo đức
Tập thể học sinh là một tổ chức có cùng môi trường học tập, có cùng lứa
tuổi, là nơi mà các em dễ bộc lộ cá tính. Vì vậy người cán bộ quản lý phải biết kết
hợp với giáo viên chủ nhiệm để giúp các em xây dựng được một tập thể lớp đoàn
kết, có tổ chức kỷ luật và phát huy được vai trò tự quản, tính tự giác trong việc
giáo dục giá trị đạo đức.
Để phát huy tối đa được tính tự giác và vai trò tự quản của tập thể học sinh
cần phải có sự lựa chọn đầu tư về đội ngũ cán bộ lớp, cán bộ chi đoàn, cụ thể:
+ Phải lựa chọn được ban cán sự lớp là những học sinh có phẩm chất, có
năng lực, nhiệt tình và có uy tín với tập thể, được tập thể tín nhiệm.
+ Căn cứ vào số lượng học sinh để phân chia thành các tổ, nhóm có tỷ lệ
chất lượng, phù hợp với vị trí địa lý, tổ chức tốt phong trào “đôi bạn cùng tiến”.
+ Có sự định hướng giữa giáo viên chủ nhiệm với tổ chức Đoàn về cơ cấu
nhân sự của Ban chấp hành chi đoàn lớp nhằm có sự thống nhất điều hành hoạt
động của tập thể lớp.
+ Đội ngũ ban cán sự lớp và Ban chấp hành chi đoàn có nhiệm vụ điều hành
hoạt động của tập thể lớp theo các tiêu chí đã đề ra và nhiệm vụ kế hoạch của nhà
trường. Điều hành tập thể lớp giúp giáo viên chủ nhiệm trong các hoạt động tập
thể.
+ Sau mỗi tuần hoạt động sau các đợt thi đua và sau một học kỳ, cuối năm
thì giáo viên chủ nhiệm cùng ban cán sự lớp và chi đoàn phải có trách nhiệm đánh
giá xếp loại kịp thời để khen thưởng những cá nhân tiêu biểu đồng thời điều chỉnh
uốn nắn những sai phạm.

Trên thực tế, lâu nay, sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường trong việc giáo
dục học sinh thiếu sự phối hợp chặt chẽ. Sự lỏng lẻo của mối quan hệ này bắt
nguồn từ nhiều nguyên nhân, song do cả hai phía giáo viên và cha mẹ học sinh.
Chuyện cha mẹ học sinh chỉ gặp gỡ thầy, cô giáo trong một hoặc hai buổi họp phụ
huynh, thậm chí không trò chuyện với cô giáo của con, không phải hiếm. Giáo
viên đến thăm nhà học sinh lại càng hiếm hơn. Điều này ảnh hưởng không nhỏ tới
việc giáo dục đạo đức cho học sinh.
Vì vậy, muốn giáo dục rèn luyện đạo đức học sinh có hiệu quả cần có sự kết
hợp sức mạnh tổng hợp từ nhà trường, gia đình và xã hội. Nhà trường, giáo viên
chủ nhiệm phải chủ động phối hợp thường xuyên với gia đình, địa phương. Sự
phối hợp nhằm mở rộng môi trường giáo dục, từ đó có sự tác động trực tiếp hay
gián tiếp tốt của gia đình, xã hội trong công tác giáo dục hình thành nhân cách,
phẩm chất đạo đức cho học sinh, sự phối hợp nhà trường và gia đình được thực
hiện bởi một số biện pháp như sau:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status