1
SỞ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
Trường THPT Xuân Thọ
Mã số:
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
HƯỚNG DẪN HỌC SINH LỚP 12 LÀM BÀI
VĂN NGHỊ LUẬN VỀ MỘT TÁC PHẨM,
MỘT ĐOẠN TRÍCH VĂN XUÔI
Người thực hiện: NGUYỄN THỊ THANH TÂM
Lĩnh vực nghiên cứu:
Quản lý giáo dục
Phương pháp dạy học bộ môn: Ngữ văn
Phương pháp giáo dục
Lĩnh vực khác:
Có đính kèm:
Mô hình Phần mềm Phim ảnh Hiện vật khác
Năm học: 2014 - 2015
BM 01-Bia SKKN
SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC
SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC
I. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN
1. Họ và tên: NGUYỄN THỊ THANH TÂM
2. Ngày tháng năm sinh: 02/12/1984
3. Nam, nữ: NỮ
4. Địa chỉ: ấp Thọ Hòa, xã Xuân Thọ, huyện Xuân lộc, tỉnh Đồng Nai.
5. Điện thoại: CQ: 0613731769 ĐTDĐ: 0944037101
6. Fax: E-mail:
7. Chức vụ: giáo viên trung học
8. Đơn vị công tác: Trường THPT Xuân Thọ.
II. TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO
BM03-TMSKKN
Phần nghị luận văn học trong chương trình THPT thường có hai dạng chính:
nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ và nghị luận về một tác phẩm, đoạn trích văn
xuôi. Theo xu hướng ra đề những năm trước học sinh được chọn một trong hai đề
thì thường các em sẽ chọn dạng đề nghị luận về một tác phẩm, đoạn trích văn xuôi
vì theo các em dạng đề này dễ làm bài hơn. Nhưng, để đạt điểm cao câu hỏi này,
học sinh cần nắm thật chắc phương pháp làm bài, như: phân tích ý nghĩa nhan đề
tác phẩm, tình huống truyện, chi tiết- tình tiết truyện, đặc sắc nghệ thuật truyện, giá
trị hiện thực, giá trị nhân đạo, …
Trong khi đó, ở chương trình Ngữ văn lớp 12, phân môn Làm văn chiếm vị trí
nhỏ bé, chưa hình thành cho học sinh những kỹ năng phân tích các dạng đề, cách
xây dựng luận điểm… Cụ thể, ở chương trình cơ bản, tiết 63 có bài Nghị luận về
một tác phẩm, một đoạn trích văn xuôi (trang 34-35-36, SGK Ngữ Văn 12, tập 2)
lại rất chung chung, chỉ đưa ra 2 bài tập:
- Bài 1: Phân tích truyện ngắn Tinh thần thể dục của Nguyễn Công Hoan.
- Bài 2: Hãy tìm hiểu sự khác nhau về từ ngữ, về giọng văn giữa hai văn bản
Chữ người tử tù của (Nguyễn Tuân) và Hạnh phúc một tang gia (trích Số Đỏ
của Vũ Trọng Phụng). Giải thích vì sao có sự khác nhau đó.
- Để rồi, ở phần Ghi nhớ (trang 36) chỉ yêu cầu học sinh nắm các nội dung:
-> Giới thiệu tác phẩm hoặc đoạn trích văn xuôi cần nghị luận
-> Phân tích giá trị nội dung và nghệ thuật theo định hướng của đề hoặc một
số khía cạnh đặc sắc nhất của tác phẩm, đoạn trích.
-> Nêu đánh giá chung về tác phẩm, đoạn trích.
Ở bài Ôn tập phần làm văn xuôi (trang 182, SGK Ngữ Văn 12, tập 2) lại đưa ra
các nội dung ôn tập nặng về lý thuyết, không ích lợi gì cho các bài thi sắp diễn ra
với học sinh như: Đề tài cơ bản của văn nghị luận trong nhà trường, lập luận trong
văn nghị luận, bố cục bài văn nghị luận, diễn đạt trong văn nghị luận.
Rõ ràng, những chỉ dẫn như thế là quá chung chung và còn quá xa với những
dạng đề thi ngày càng mới mẻ hiện nay. Nếu chỉ dừng lại ở những nội dung kiến
thức như thế, học sinh chúng ta khó lòng hiểu đề, xây dựng hệ thống luận điểm
mới đã chú trọng rèn luyện kĩ năng của học sinh.
- Từ thực tế giảng dạy bộ môn Ngữ văn lớp 12 tôi nhận thấy, muốn học sinh
làm bài đạt kết quả cao, ngoài việc truyền đạt kiến thức, tôi nghĩ rằng mình
cần phải rèn luyện kĩ năng giúp học sinh lớp 12 làm bài văn nghị luận về
một tác phẩm, một đoạn trích văn xuôi sao cho hiệu quả nhất.
- Từ thực tế ấy, với mục đích giúp học sinh làm để học sinh có thể có đầy đủ
kĩ năng làm bài kiểm tra và bài thi đạt kết quả cao tôi mạnh dạn đóng góp
phương pháp: “Hướng dẫn học sinh lớp 12 làm bài văn nghị luận về một
tác phẩm, một đoạn trích văn xuôi”.
- Phương pháp mà tôi đưa ra mang tính kế thừa nhưng vẫn rất cấp thiết trong
tình hình thực tế hiện nay. Trong một năm nghiên cứu và ứng dụng tôi cũng
đã tìm ra được một số biện pháp thực hiện đề tài cụ thể mang tính thực tiễn
cao và có thể áp dụng hiệu quả cả trong chương trình ôn thi cho kì thi THPT
QG sắp tới.
5
2. Cơ sở thực tiễn:
a. Thuận lợi
- Trình độ của học sinh lớp 12 đã được năng cao hơn ở một số kĩ năng về làm
văn. Hầu hết các em đã có thể viết được một bài văn nghị luận văn học với
yêu cầu cơ bản về nội dung và hình thức. Và theo nhận xét của các em, bài
nghị luận về đoạn trích, tác phẩm văn xuôi lại có phần dễ hơn so với dạng
bài nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ.
- Chương trình Sách giáo khoa Ngữ văn 12 đã thực hiện sự đổi mới. Trong
đó, thời lượng dành cho mảng giảng dạy tác phẩm, đoạn trích văn xuôi là
tương đối lớn. Tác phẩm, đoạn trích văn xuôi truyện trong chương trình văn
12 đều là tác phẩm của các nhà văn tên tuổi.
- Đồng thời, hiện nay công nghệ thông tin ngày càng phát triển, cơ sở vật chất
đầy đủ, sự quan tâm của nhà trường cũng góp phần tích cực trong công việc
giảng dạy môn văn trong đó có đề tài “Hướng dẫn học sinh lớp 12 làm bài
văn nghị luận về một tác phẩm, một đoạn trích văn xuôi” mà tôi đang
lớp đối chứng là 2 lớp 12 của năm học trước (2013-2014).
III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP:
Để làm được, làm tốt kiểu bài văn nghị luận về một tác phẩm, đoạn trích văn
xuôi, đầu tiên, chúng ta cần trang bị cho học sinh những kiến thức cơ bản và
kỹ năng cần thiết sau:
1. Kiến thức cơ bản để làm bài văn nghị luận về một tác phẩm, một đoạn trích
văn xuôi:
a. Khái quát về văn nghị luận:
- Văn nghị luận: là dùng ý kiến lí lẽ của mình để bàn bạc, để thuyết phục
người khác về một vấn đề nào đó. Để thuyết phục được ý kiến phải đúng và
thái độ phải đúng. Có thể gọi ý kiến là lý còn thái độ là tình. Có ý kiến đúng
và thái độ đúng rồi lại phải có cách nghị luận hợp lý nữa.
- Nghị luận văn học: là một dạng nghị luận mà các vấn đề đưa ra bàn luận là
các vấn đề về văn học: tác phẩm, tác giả, thời đại văn học, …
- Đối tượng của bài nghị luận về một tác phẩm, một đoạn trích văn xuôi rất đa
dạng: chú ý đến cốt truyện, nhân vật, tình tiết, các dẫn chứng chính xác, giá
trị hiện thực, giá trị nhân đạo, tình huống truyện, …
b. Các bước làm một bài văn nghị luận:
Bước 1: Tìm hiểu đề:
Cần khắc sâu cho học sinh tầm quan trọng của việc tìm hiểu đề, cần trả lời cho
được 4 câu hỏi sau đây:
- Đề thuộc kiểu nào? Có 2 kiểu đề:
+ Đề nổi, các em dễ dàng nhận ra và gạch dưới luận đề trong đề bài.
+ Đề chìm, các em cần nhớ lại bài học về tác phẩm ấy, dựa vào chủ đề của
bài đó mà xác định luận đề.
- Đề yêu cầu nghị luận theo dạng bài nào? Dưới đây là dạng đề thường gặp:
7
+ Phân tích ý nghĩa nhan đề.
+ Phân tích ý nghĩa tình huống truyện.
+ Phân tích nhân vật: hình tượng, diễn biến tâm lí, vẻ đẹp của nhân vật…
->Giới thiệu luận đề cần giải quyết. (cần bám sát đề bài để giới thiệu lau65n
đề cho rõ ràng, chính xác. Luận đề cần dẫn lại nguyên văn yêu cầu của đề).
+ Thân bài:
-> Nêu luận điểm 1 – luận cứ 1 – luận cứ 2,… (Các luận điểm, luận cứ này
chính là các ý 1,2,3…ý a, ý b, mà các thầy cô đã giảng dạy trong bài học
về tác phẩm ấy). Học sinh cần chỉ ra giá trị nội dung thứ nhất là gì, trong đó
chứa đựng giá trị nghệ thuật gì? Giá trị tư tưởng tình cảm gì?,…
-> Nêu luận điểm 2 – luận cứ 1 – luận cứ 2,… Cần chỉ ra giá trị nội dung thứ
2, trong đó chứa đựng giá trị nghệ thuật gì? Giá trị tư tưởng tình cảm gì?,…
-> Nhận định chung: khắc sâu giá trị tư tưởng – chỉ ra thành công về nội
dung và nghệ thuật của tác phẩm (so sánh với các tác phẩm khác cùng thời)
và nêu hạn chế của nó (nếu có).
+ Kết bài:
-> Khẳng định giá trị văn học của tác phẩm ở 2 mặt nội dung và nghệ thuật.
-> Sau khi đã có dàn ý, học sinh cần phải biết dựng đoạn dựa theo các luận
điểm vừa tìm ra.
Bước 3: Cách dựng đoạn và liên kết đoạn:
Dựng đoạn:
+ Cần nhận thức rõ mỗi luận điểm phải được tách ra thành một đoạn văn
nghị luận (Phải xuống dòng và lùi đầu dòng, chữ đầu tiên phải viết hoa).
+ Một đoạn văn nghị luận thông thường cần có một số loại câu sau đây:
-> Câu chủ đoạn: nêu lên luận điểm của cả đoạn và cần ngắn gọn rõ ràng.
-> Câu phát triển đoạn: gồm một số câu liên kết nhau: câu giải thích, câu dẫn
chứng, câu phân tích dẫn chứng, câu so sánh, câu bình luận, …
-> Câu kết đoạn: là câu nhận xét, đánh giá vấn đề vừa triển khai, tiểu kết cả
đoạn.
Liên kết đoạn:
Các đoạn văn trong bài văn đều cần có sự liên kết chặt chẽ với nhau. Có 2
mối liên kết: liên kết nội dung và liên kết hình thức.
+ Liên kết nội dung:
ngoài tác phẩm. Đặc biết chú ý với những trường hợp tác giả có quá trình
lựa chọn, thay đổi nhan đề tác phẩm.
+ Nghĩa cụ thể và ấn tượng về nhan đề
+ Tác dụng, ý nghĩa của nhan đề trong việc nêu bật chủ đề, tư tưởng tác
phẩm.
- Kết bài:
10
+ Đánh giá ý nghĩa tình huống đối với sự thành công của tác phẩm
+ Cảm nhận của bản thân về tình huống đó.
Ví dụ minh họa:
Đề: Anh chị hãy giải thích ý nghĩa nhan đề truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân.
- Mở bài:
+ Tác giả Kim Lân, vị trí văn học của tác giả.
+ Giới thiệu về tác phẩm Vợ nhặt.
+ Nêu nhiệm vụ nghị luận.
- Thân bài:
+ Xuất xứ của nhan đề:
-> Tiền thân là tiểu thuyết Xóm ngụ cư.
-> Viết lại thành truyện ngắn Vợ nhặt.
-> Lấy tình tiết Tràng nhặt vợ để đặt tên tác phẩm.
+ Ý nghĩa cụ thể: nghĩa đen là nhặt được vợ => tạo ấn tượng, kích thích sự
chú ý của người đọc vì thân phận rẻ rúng của con người.
+ Ý nghĩa chủ đề: nhan đề truyện đã định hướng chủ đề tác phẩm: phản ánh
tình cảnh thê thảm và thân phận tủi nhục của người nông dân nghèo trong
nạn đói khủng khiếp; sự đen tối, bế tắc của xã hội Việt Nam trước Cách
mạng tháng Tám.
- Kết bài:
+ Đánh giá ý nghĩa nhan đề đối với sự thành công của tác phẩm
+ Cảm nhận của bản thân về nhan đề đó.
b. Phân tích ý nghĩa tình huống trong tác phẩm, đoạn trích văn xuôi:
đáo xoay quanh chuyến đi thực tế của nghệ sĩ Phùng, qua đó thể hiện cách
nhìn sâu sắc của tác giả về cuộc sống và sự băn khoăn về số phận con người.
- Thân bài:
+ Đó là tình huống nhận thức trước một hiện tượng đầy nghịch lí của cuộc
sống. Nghệ sĩ Phùng đến vùng biển miền Trung chụp ảnh làm lịch và tiếp
cận được cảnh chiếc thuyền ngoài xa trong sương sớm hết sức thơ mộng.
Ngay sau đó, tại bãi biển, anh chứng kiến nghịch cảnh của cuộc sống - đó là
cảnh bạo hành trong gia đình hàng chài sống trên chính chiếc thuyền kia.
12
+ Khía cạnh nghịch lí của tình huống:
-> Cảnh thiên nhiên toàn bích nhưng cảnh đời thì đen tối; người có thiện chí
giúp đỡ nạn nhân lại bị nạn nhân từ chối quyết liệt
-> Người vợ tốt lại bị chồng ngược đãi; vợ bị bạo hành nhưng vẫn cam chịu,
quyết không bỏ chồng, lại còn bênh vực kẻ vũ phu đó; người chồng vẫn gắn
bó nhưng vẫn cứ hành hạ vợ; con đánh bố
+ Khía cạnh nhận thức của tình huống: Thể hiện qua những phát hiện về đời
sống của hai nhân vật Phùng và Đẩu.
Nhận thức về nghệ thuật và cuộc sống của người nghệ sĩ (nhân vật Phùng):
-> Cái đẹp ngoại cảnh có khi che khuất cái xấu của đời sống (ban đầu Phùng
ngây ngất trước cái đẹp bề ngoài của hình ảnh con thuyền từ xa, về sau anh
nhận ra vẻ đẹp ngoại cảnh đó đã che lấp cuộc sống nhức nhối bên trong).
-> Cái xấu cũng có thể làm cái đẹp bị khuất lấp (tìm hiểu sâu gia đình hàng
chài, Phùng lại thấy cuộc sống nhức nhối ấy làm khuất lấp nhiều nét đẹp của
không ít thành viên trong gia đình).
-> Từ sự phức tạp ấy, Phùng nhận ra rằng để hiểu được sự thật đời sống
không thể nhìn đơn giản mà phải có cái nhìn đa chiều và sâu sắc hơn.
Nhận thức về con người và xã hội của người cán bộ (qua nhân vật Đẩu):
-> Đằng sau cái vô lí là cái có lí (việc người đàn bà bị hành hạ là vô lí,
nhưng người đàn bà ấy không muốn rời bỏ chồng lại có lí riêng); đằng sau
cái tưởng chừng đơn giản lại chứa chất nhiều phức tạp.
- Kết bài:
+ Đánh giá nhân vật đối với sự thành công của tác phẩm.
+ Cảm nhận của bản thân về nhân vật đó.
• Ví dụ minh họa:
Đề: Phân tích hình tượng nhân vật Tnú trong tác phẩm Rừng xà nu của nhà văn
Nguyễn Trung Thành.
- Mở bài:
+ Giới thiệu vài nét về tác giả Nguyễn Thành trung và tác phẩm Rừng xà nu.
+ Giới thiệu về nhân vật Tnú.
- Thân bài:
+ Giới thiệu khái quát về nhân vật: Tnú là người Strá, mồ côi cha mẹ từ rất
sớm, được dân làng Xô Man cưu mang- đùm bọc. Từ nhỏ Tnú đã giác ngộ
14
cách mạng và làm liên lạc cho cách mạng rất thông minh, gan dạ, giàu tự
trọng.
+ Lần lượt phân tích những biểu hiện phẩm chất anh hùng của Tnú:
Một con người gan góc, dũng cảm, trung thành tuyệt đối với cách mạng:
-> Tiếp tế cho các cán bộ ở trong rừng mà không sợ bị chặt đầu hoặc treo cổ.
-> Làm liên lạc, giặc vây các ngả đường thì xé rừng mà đi, qua sông lựa chỗ
thác mạnh mà bơi, “vì chỗ nước êm thằng Mĩ hay phục”.
-> Bị giặc bắt thì nuốt luôn cái thư vào bụng, bị tra tấn không khai; một
mình xông ra giữa vòng vây của kẻ thù trong tay không có vũ khí; bị giặc
bắt, bị đốt mười đầu ngón tay vẫn không kêu than
-> Học chữ thua Mai thì lấy đá đập vào đầu -> lòng tự trọng và ý chí quyết
tâm cao.
=> Phẩm chất anh hùng là cơ sở để làm nên hành động anh hùng của Tnú.
Một người biết vươn lên mọi đau đớn và bi kịch cá nhân:
-> Mồ côi, được dân làng nuôi nấng, sau này trở thành người con ưu tú của
dân làng.
-> Bản thân 2 lần bị giặc bắt, bị tra tấn dã man (tấm lưng chằng chịt những
+ Chân lý cách mạng là chân lý từ máu và nước mắt, nó đồng nghĩa với chân
lý cuộc sống. Cuộc đời Tnú là bằng chứng sống cho qui luật nghiệt ngã ấy.
+ Câu chuyện bi tráng về cuộc đời Tnú - cuộc đời của một con người mang
ý nghĩa cuộc đời của một dân tộc, mang đậm tính sử thi – nhân vật ấy gánh
nặng số phận lịch sử.
+ Dù có nhiều dị biệt, Tnú vẫn là kiểu nhân vật sánh vai với các anh hùng
trong trường ca Đam San, Xinh Nhã của núi rừng Tây Nguyên.
Phân tích diễn biến tâm lí nhân vật:
• Dàn ý:
- Mở bài:
+ Giới thiệu về tác giả, tác phẩm.
+ Giới thiệu về nhân vật
+ Khái quát diễn biến tâm lí của nhân vật.
- Thân bài:
+ Giới thiệu khái quát về nhân vật: cuộc đời, số phận…
+ Phân tích bối cảnh - tình huống và diễn biến tâm lí của nhân vật.
+ Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật của nhà văn.
- Kêt bài:
+ Đánh giá thành công của nhà văn trong nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật.
+ Cảm nhận của bản thân về nhân vật.
16
• Ví dụ minh họa:
ĐỀ: Phân tích diễn biến tâm trạng nhân vật bà cụ Tứ trong truyện ngắn Vợ
nhặt của Kim Lân.
- Mở bài:
+ Kim Lân là một trong những nhà văn xuất sắc của nền văn xuôi hiện đại
Việt Nam trước và sau Cách mạng tháng Tám.
+ Một trong những tác phẩm tiêu biểu của Kim Lân được viết ngay sau khi
Cách mạng tháng Tám thành công là truyện ngắn Vợ nhặt.
+ Nhà văn đã viết rất hay về tâm trạng của bà cụ Tứ - một người mẹ già,
thu vén căn nhà; trong bữa cơm ngày đói, bà toàn nói chuyện vui để xua đi
thực tại hãi hùng, để nhen nhóm niềm tin vào cuộc sống cho con: “Khi nào
có tiền ta mua lấy đôi gà …”
-> Thật cảm động, khi Kim Lân để cái ánh sáng kỳ diệu của tình mẫu tử toả
ra từ nồi cháo cám: “Chè khoán đây, ngon đáo để cơ”. Chữ “ngon” này
không phải là xúc cảm về vật chất (xúc cảm về vị cháo cám) mà là xúc cảm
về tinh thần: ở người mẹ, niềm tin về hạnh phúc của con biến đắng chát của
cháo cám thành ngọt ngào.
-> Tuy nhiên niềm vui của bà cụ Tứ trong hoàn cảnh ấy thật tội nghiệp, bởi
thực tại vẫn nghiệt ngã với nồi cháo cám “đắng chát và nghẹn bứ”.
- Kết bài:
Có thể nói, bà cụ Tứ là một nhân vật tiêu biểu cho vẻ đẹp tình người và
lòng nhân ái mà Kim Lân đã gửi gắm trong tác phẩm “Vợ nhặt”. Thành
công của nhà văn là đã thấu hiểu và phân tích được những trạng thái tâm lý
khá tinh tế của con người trong một hoàn cảnh đặc biệt.
Phân tích vẻ đẹp của nhân vật:
• Dàn ý:
- Mở bài:
+ Giới thiệu về tác giả, vị trí văn học của tác giả. (có thể nêu phong cách).
+ Giới thiệu về tác phẩm (đánh giá sơ lược về tác phẩm), nêu nhân vật.
+ Giới thiệu vẻ đẹp của nhân vật.
- Thân bài:
+ Giới thiệu chân dung, lai lịch, số phận
+ Vẻ đẹp tâm hồn
+ Tổng hợp, đánh giá:
-> Giá trị nội dung, tư tưởng được thể hiện qua nhân vật
-> Nghệ thuật xây dựng nhân vật.
- Kết bài:
+ Đánh giá nhân vật đối với sự thành công của tác phẩm.
18
- Phân tích khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn.
19
Dàn ý và ví dụ minh họa cho từng dạng đề:
Về giá trị nhân đạo.
• Dàn ý:
- Mở bài:
+ Giới thiệu về tác giả, tác phẩm.
+ Giới thiệu về giá trị nhân đạo.
+ Nêu nhiệm vụ nghị luận.
- Thân bài:
+ Giới thiệu hoàn cảnh sáng tác
+ Giải thích khái niệm nhân đạo: Giá trị nhân đạo là một giá trị cơ bản của
văn học chân chính, được tạo nên bởi niềm cảm thông sâu sắc với nỗi đau
của con người, sự nâng niu trân trọng những nét đẹp trong tâm hồn con
người và lòng tin vào khả năng vươn dậy của họ.
+ Phân tích các biểu hiện của giá trị nhân đạo:
-> Tố cáo chế độ thống trị đối với con người.
-> Bênh vực và cảm thông sâu sắc đối với số phận bất hạnh con người.
-> Trân trọng khát vọng tư do, hạnh phúc và nhân phẩm tốt đẹp con người.
-> Đồng tình với khát vọng và ước mơ con người.
+ Đánh giá về giá trị nhân đạo.
- Kêt bài:
+ Đánh giá ý nghĩa vấn đề đối với sự thành công của tác phẩm.
+ Cảm nhận của bản thân về vấn đề đó.
• Ví dụ minh họa:
Đề: Phân tích giá trị nhân đạo trong truyện ngắn Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân
- Mở bài:
+ “Vợ nhặt” là một trong những truyện ngắn hay nhất của nhà văn Kim Lân
và của văn xuôi hiện đại Việt Nam sau 1945. Truyện được in trong tập
truyện Con chó xấu xí , xuất bản năm 1962.
lẫn thương lo, mừng tủi; từ chấp nhận người con dâu đến mừng vui thu xếp
cuộc sống mới, quên đi thực tại đói khổ, say sưa phác họa tương lai ).
-> Dẫu có thất vọng vì gia cảnh nhà chống, nhưng người vợ nhặt vẫn vui vẻ
thực hiện thiên chức một người phụ nữ, vợ, người con dâu
Hơn thế nữa, tác phẩm còn thể hiện lòng tin sâu sắc vào tấm lòng nhân hậu
và trân trọng khát vọng hạnh phúc của người lao động nghèo:
-> Sự cảm thông, lòng thương người, sự hào phóng của Tràng (với người
đàn bà mới gặp có hai lần…); tình nghĩa, thái độ, trách nhiệm của anh vời
gia đình sau một ngày có vợ; sự biến đổi tính cách của người vợ nhặt từ khi
được Tràng đưa về làm vợ giữa ngày đói…; tấm lòng nhân hậu của bà cụ Tứ
21
-> Kim Lân khẳng định: Dù có phải hàng ngày đối chọi với cái đói, cái chết
nhưng người dân lao động vẫn biết vui với những gì mình đang có, vẫn lấp
lánh niềm tin vào tương lai.
Cái nhìn nhân đạo của Kim Lân còn thể hiện ở cách kết thúc tác phẩm:
-> Vợ nhặt không dừng lại ở tuyệt vọng, ở màu sắc đen tối, bi quan. Nhà văn
đã gieo vào lòng người đọc dự cảm về sự đấu tranh, sự đổi đời của các nhân
vật (hình ảnh Tràng ngồi tư lự “trong óc Tràng vẫn thấy đám người đói và lá
cờ đỏ bay phấp phới ”
-> Cho phép người đọc tin và mong vào tương lai tươi sáng của những
người nghèo khổ.
- Kết bài:
Tóm lại, điểm đáng quý về giá trị nhân đạo của Vợ nhặt là niềm tin tưởng
sâu sắc của nhà văn vào bản năng sống, khát vọng sống mạnh mẽ của những
người lao động nghèo. Tình cảm nhân đạo của tác phẩm có nhiều nét mới so
với tình cảm nhân đạo trong nhiều tác phẩm văn học hiện thực trước cách
mạng tháng Tám.
Về giá trị hiện thực.
• Dàn ý:
- Mở bài:
-> Bối cảnh của truyện ngắn Vợ nhặt là khung cảnh nông thôn Việt Nam vào
một thời kì ngột ngạt và đen tối nhất- đó là nạn đói năm Ất Dậu 1945. Bọn
thực dân Pháp và phát xít Nhật buộc người nông dân phải nhổ lúa và hoa
màu để trồng đay, phục vụ cho nhu cầu chiến tranh. Người dân ở vùng đồng
bằng Bắc bộ lâm vào nạn đói khủng khiếp, gần hai triệu người chết đói.
-> Đặc sắc nghệ thuật của nhà văn Kim Lân trong tác phẩm Vợ nhặt là mặc
dù không có một dòng nào tố cáo trực tiếp tội ác của bọn thực dân Pháp và
phát xít Nhật, hình ảnh của chúng cũng không một lần xuất hiện, nhưng tội
ác của chúng vẫn hiện lên một cách rõ nét. Khung cảnh làng quê ảm đạm, tối
tăm. “Những căn nhà úp súp. Những xác chết nằm còng queo bên đường.
Không khí vẩn lên mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người…”.
-> Giá trị của con người lúc này thật rẻ rúng, người ta “nhặt” được vợ giống
như nhặt cái rơm, cái rác ở bên đường. Thông qua tình huống “nhặt vợ” của
Tràng, Kim Lân không chỉ nói lên được thực trạng đen tối của xã hội Việt
Nam trước Cách mạng, mà còn thể hiện được thân phận đói nghèo, bị rẻ
rúng của người nông dân trong chế độ xã hội cũ (Chú ý chi tiết: giữa cái mẹt
rách có độc một lùm rau chuối thái rối và một đĩa muối ăn với cháo…rồi nồi
“chè khoán” nấu bằng cám)
23
- Kết luận: Vợ nhặt là một tác phẩm thành công của nhà văn Kim Lân. Qua
tác phẩm này, chúng ta không chỉ nhận thấy tài năng của nhà văn, sự hiểu
biết sâu sắc, cặn kẽ của ông về cuộc sống của người nông dân, mà điều quan
trọng hơn đó chính là cái tâm, cái tấm lòng gắn bó thiết tha, sâu nặng của
Kim Lân đối với những người lao động nghèo khó trước Cách mạng.
Về khuynh hướng sử thi, cảm hứng lãng mạn:
• Dàn ý:
- Mở bài:
+ Giới thiệu về tác giả, tác phẩm.
+ Giới thiệu về khuynh hướng văn học
+ Khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn được thể hiện trong tác phẩm
- Thân bài:
+ Giải thích:
-> Khuynh hướng sử thi là viết về những vấn đề có ý nghĩa lớn lao với dân
tộc cộng đồng, viết về những con người lịch sử.
-> Cảm hứng lãng mạn là viết về niềm vui, về tinh thần lạc quan và niềm tin
vào tuơng lai còn nhiều khó khăn thử thách.
+ Phân tích: Biểu hiện của khuynh hướng sử thi trong tác phẩm, qua các
phương diện:
Đề tài của truyện nói về số phận và con đường giải phóng của dân làng Xô
Man ở Tây Nguyên, tiêu biểu cho số phận và con đường đấu tranh giải
phóng của nhân dân miền Nam và của cả dân tộc.
Chủ đề tác phẩm thể hiện ý chí bất khuất, tinh thần chiến đấu của con người
Tây Nguyên và con đường tất yếu mà đất nước ta, dân tộc ta đã đi và phải
đi, trong hoàn cảnh quân giặc đã dùng bạo lực hòng hủy hoại, tiêu diệt sự
sống của chúng ta.
Khắc họa những nhân vật mang tầm vóc lớn lao, có ý nghĩa lịch sử. Toàn bộ
tác phẩm đã xây dựng được một tập thể nhân dân anh hùng với những con
người đại diện cho cả một thế hệ và cả dân làng đã làm nên vẻ đẹp của cả
một dân tộc:
-> Hình ảnh ông cụ Mết
-> Hình ảnh Tnú:
o Nỗi đau mà Tnú phải gánh chịu đó cũng chính là nỗi đau mà cả dân
làng Xô Man, nỗi đau của những con người đã hi sinh đó hay chính là
nõi đau của hàng ngàn vạn cây xà nu….đó cũng là nỗi đau của cả một
dân tộc.
o Ở tnú ta còn bắt gặp là một ý thức quyết tâm, một tinh thần cách
mạng, niềm tin vào cách mạng…
25