Sáng kiến kinh nghiệm MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC ĐỌC HIỂU CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN BẬC THPT - Pdf 29

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
TRƯỜNG THPT NGÔ SĨ LIÊN
Mã số:
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO
NĂNG LỰC ĐỌC - HIỂU CHO HỌC SINH TRONG
DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN BẬC THPT
Người thực hiện: NGUYỄN VĂN CÔNG
Lĩnh vực nghiên cứu:
- Phương pháp dạy học bộ môn: Ngữ văn 

Có đính kèm: Các sản phẩm không thề hiện trong bản in SKKN
 Mô hình  Phần mềm  Phim ảnh  Hiện vật khác
Năm học: 2014 – 2015
SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC
I. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN
1. Họ và tên: Nguyễn Văn Công
2. Ngày tháng năm sinh: 17 – 04 – 1969
3. Nam, nữ: Nam
4. Địa chỉ: Trường THPT Ngô Sĩ Liên
5. Điện thoại: 0613866499(CQ); ĐTDĐ: 0908875675
6. Fax: E-mail:
7. Chức vụ: Giáo viên
8. Nhiệm vụ được giao : Tổ trưởng chuyên môn, Chủ tịch Công đoàn, dạy 3
lớp 12
9. Đơn vị công tác: Trường THPT Ngô Sĩ Liên
II. TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO
- Học vị (hoặc trình độ chuyên môn, nghiệp vụ) cao nhất: Thạc sĩ Văn học
- Năm nhận bằng: 2011
- Chuyên ngành đào tạo: Văn học Việt Nam
III.KINH NGHIỆM KHOA HỌC

giảng bình truyền thống. Học sinh vẫn còn thụ động trong việc tiếp cận tác phẩm
văn học. Học sinh chủ yếu, nghe, ghi chép và tái hiện lại bài giảng. Điểm yếu nhất
của học sinh là chưa có phương pháp tự học, từ đó dẫn đến khả năng đọc hiểu rất
yếu.
Vài năm gần đây, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có nhiều cải tiến trong công
tác thi cử, các đề văn “mở” hơn và yêu cầu đối với kĩ năng đọc – hiểu đối với học
sinh cũng được chú ý nhiều hơn. Đặc biệt, trong năm học 2014 – 2015, với sự chỉ
đạo “đổi mới dạy học và kiểm tra, đánh giá kết quả học tập theo định hướng phát
triển năng lực học sinh”, các bài tập đọc hiểu trở thành một phần không thể thiếu
trong các đề thi, đề kiểm tra. Và như vậy, việc tìm tòi các biện pháp để nâng cao
năng lực đọc hiểu cho học sinh là nhiệm vụ mà người giáo viên dạy Văn phải quan
tâm. Công việc này vừa giúp các tiết dạy đọc – hiểu văn bản đạt hiệu quả cao vừa
phát huy tính tích cực sáng tạo của học sinh, đồng thời giúp cho học sinh có khả
năng làm tốt kiểu bài tập đọc – hiểu trong đề thi theo yêu cầu đổi mới.
Xuất phát từ lí do đó, chúng tôi đã tăng cường nhiều biện pháp, nhiều dạng
bài tập để từng bước nâng cao năng lực đọc hiểu văn bản cho học sinh, trong đó có
chú ý đến kĩ năng làm bài tập đọc hiểu một văn bản ngắn.
Đã có nhiều tài liệu nói về đọc – hiểu văn bản trong dạy học môn Ngữ văn.
Đây là một vấn đề tương đối lớn, có thể nói là bao trùm công tác dạy văn trong
trường phổ thông. Với nhiều lí do, người viết không có tham vọng đề cập toàn bộ
những nội dung liên quan đến đọc – hiểu văn bản văn học. SKKN Một số biện
pháp nâng cao năng lực đọc hiểu cho học sinh trong dạy học môn Ngữ văn bậc
THPT chỉ là một số kinh nghiệm của người viết rút ra từ thực tế giảng dạy của bản
thân ở trường THPT Ngô Sĩ Liên. Trong phạm vi của SKKN này, người viết chỉ
mới đề cập đến một số kinh nghiệm hướng dẫn học sinh làm các bài tập đọc hiểu
văn bản ngắn, một mặt góp phần nâng cao năng lực đọc hiểu văn bản nói chung
_________________________________________________________________
Nguyễn Văn Công Trường THPT Ngô Sĩ Liên
3
cho học sinh, mặt khác giúp học sinh ( đa số là có năng lực học tập trung bình –

chính là do giáo viên chưa chú ý dạy phương pháp đọc hiểu, nói cách khác là chưa
hình thành cho học sinh năng lực tự mình đọc và hiểu một văn bản.
Để giải quyết vấn đề này, giáo viên cần định hướng:
Xuất phát từ quan điểm lấy người học làm trung tâm, giáo viên không nên
tập trung vào việc cung cấp kiến thức một chiều mà phải cung cấp chìa khóa để
học sinh tìm đến với kiến thức, nói các khác là cung cấp phương pháp để học sinh
biết cách đọc hiểu một văn bản cụ thể, từ đó hình thành năng lực tự mình đọc hiểu
các văn bản khác.
Để giúp học sinh làm tốt các bài tập đọc hiểu, giáo viên cần giúp học sinh
nắm được thế nào là hiểu một văn bản; các yêu cầu và hình thức kiểm tra cụ thể về
_________________________________________________________________
Nguyễn Văn Công Trường THPT Ngô Sĩ Liên
4
đọc hiểu; lựa chọn những văn bản phù hợp với trình độ nhận thức và năng lực của
học sinh; xây dựng hệ thống các loại câu hỏi phù hợp theo 4 mức độ nhận biết,
thông hiểu, vận dụng thấp và vận dụng cao…
Cần giúp học sinh đạt được các mức độ hiểu:
+ Nắm được nội dung chính và các thông tin quan trọng của văn bản;
+ Nhận diện và hiểu được vai trò, tác dụng của các hình thức biểu đạt được
sử dụng trong văn bản.
+ Hiểu được các tầng ý nghĩa của văn bản được tác giả gửi gắm sau câu chữ.
+ Đánh giá được giá trị của những nội dung và hình thức biểu hiện của văn
bản.
+ Bước đầu vận dụng những gì hiểu được vào giải quyết các tình huống
tương tự trong bọc tập và cuộc sống.
3. Để góp phần nâng cao năng lực đọc hiểu văn bản cho học sinh, trước mắt
là đọc hiểu các văn bản ngắn, người viết đã đề xuất và đưa vào áp dụng các dạng
bài tập đọc hiểu trong các tiết ôn tập, các tiết tăng thêm, đồng thời tổ chức kiểm tra
thường xuyên, kiểm tra định kì bằng các bài tập tương tự.
SKKN này chính là sự hệ thống hóa các kinh nghiệm mà người viết đã có

các từ ngữ quan trọng và tần suất xuất hiện của chúng, tìm các ý chính…; tóm tắt
các ý chính bằng những câu văn ngắn gọn.
+ Bước 3: Nhận diện các hình thức biểu đạt trong văn bản, chỉ ra các yếu tố
hình thức nổi bật nhất và phân tích tác dụng của chúng ( tùy theo từng thể loại mà
có sự chú ý khác nhau)
+ Bước 4: Tìm hiểu mục đích và ý nghĩa của văn bản: Văn bản được viết để
làm gì? Người viết muốn nhấn mạnh, muốn gửi gắm điều gì?
+ Bước 5: Đánh giá giá trị của văn bản ( đem lại cho ta điều gì: về mặt nhận
thức, về tư tưởng, tình cảm, về cảm thụ cái hay cái đẹp…)
Lưu ý: Đây là quy trình chung có tính chất tổng thể. Tùy theo mức độ yêu
cầu, độ dài và thời gian dành cho từng bài tập cụ thể, học sinh có thể không cần
thực hiện hết hoặc đúng trình tự các bước trên nhưng phải nắm được và vận dụng
thành thục tất cả các bước.
- Sau khi học sinh nắm được ý nghĩa của từng hoạt động nêu trên, giáo viên
tổ chức cho học sinh luyện tập thông qua các bài tập cụ thể. Có loại bài tập yêu cầu
học sinh thực hiện tất cả các bước trên; có loại bài tập rèn một thao tác cụ thể.
Trước mỗi tiết luyện tập, giáo viên có nhiệm vụ chuẩn bị bài tập: bao gồm
việc chọn lựa văn bản (ngữ liệu có thể lấy trong SGK hoặc bên ngoài, mức độ nên
đi từ dễ đến khó), thiết kế các câu hỏi theo các mức độ và nội dung khác nhau,
chuẩn bị đáp án…
Tiến hành luyện tập: giáo viên giao bài tập và đặt ra yêu cầu cho các đối
tượng học sinh khác nhau ( câu hỏi vận dụng cao nên giao cho một vài em học khá
trong lớp). Khuyến khích học sinh tự lực làm bài, tự trình bày đáp án và nêu căn cứ
bảo vệ quan điểm của mình. Giáo viên nhận xét, hướng dẫn cách thức để có được
đáp án tối ưu.
Một số bài tập làm ví dụ:
Bài tập 1:
Yêu cầu: Học sinh đọc đoạn văn miêu tả hình ảnh ông lái đò ( trích Người
lái đò sông Đà – Nguyễn Tuân) sau đây và trả lời các câu hỏi:
“Ông đò Lai Châu bạn tôi làm nghề chở đò dọc sông Đà đã 10 năm liền…

Câu b, ý 2 Biện pháp nổi bật nhất là so
sánh.
Xuất hiện rõ nhất, gây ấn tượng
nhất, có tác dụng quan trọng nhất
Câu b, ý 3 Bằng một loạt so sánh độc đáo,
hình ảnh ông lái đò hiện lên thật ấn
tượng. Đặc sắc nhất là các chi tiết
ngoại hình ông lái đò được so
sánh, liên tưởng với các yếu tố
nghề nghiệp trên sông nước (sào,
cuống lái, tiếng nước, mong một
bến xa )
Dựa vào mối liên kết từ các yếu
tố: tay – sào; chân – kẹp cuống
lái; giọng – tiếng nước…
Câu c Tác giả muốn nhấn mạnh lòng yêu
nghề, sự gắn bó với nghề nghiệp
trên sông nước của ông lái đò
Gợi ý cho HS hiểu: vì gắn bó với
nghề nên ông lái đò sau khi nghỉ
làm vẫn còn “tật”: chân lúc nào
cũng khuỳnh khuỳnh…, giọng nói
ào ào…
Câu d Ngoại hình đặc biệt của ông lái đò;
Ông lái đò đặc biệt…
Là sự cô đọng ý 2, câu a
Bài tập 2: ( kết hợp với tiết ôn tập về bài Ai đã đặt tên cho dòng sông ? )
Yêu cầu HS đọc đoạn trích sau đây và trả lời các câu hỏi:
“ Và như vậy, giống như sông Xen của Pa-ri, sông Đa-nuýp của Bu-đa-pét;
sông Hương nằm ngay giữa lòng thành phố yêu quý của mình… Tôi đã đến Lê-

thức, từ đó trang bị cho HS những kiến thức lý luận cơ bản về vấn đề đã học (là
yêu cầu chính), GV có thể có những bài tập đọc – hiểu trong quá trình giảng dạy.
Thông qua đó, vừa cung cấp kiến thức mới, củng cố kiến thức cũ, vừa rèn kĩ năng
đọc hiểu cho HS.
Trước đây, khi dạy những bài có tính chất lý luận như bài Giá trị văn học và
tiếp nhận văn học, giáo viên thường than khó, than khổ, HS khó tiếp thu… Vì trình
độ của học sinh còn hạn chế (điều tất nhiên) nên cách dạy thường là GV giảng giải
và cho ví dụ minh họa, học sinh vô tình càng trở nên thụ động, hiểu lơ mơ…
Chúng tôi thử đổi mới bằng cách kết hợp với bài tập đọc hiểu và thấy có
hiệu quả khả quan.
VD: Khi dạy đến mục Tính chất tiếp nhận văn học của bài “Giá trị văn học
và Tiếp nhận văn học”, GV có thể ra bài tập, yêu cầu HS đọc đoạn văn bản:
“(1)Trong sự giao tiếp giữa tác phẩm và độc giả, cần chú ý tính chất cá thể
hóa, tính chủ động, tích cực của người tiếp nhận. (2)Ở đây, năng lực, thị hiếu, sở
thích của cá nhân đóng vai trò rất quan trọng; tùy theo lứa tuổi già hay trẻ, trình
độ học vấn cao hay thấp, kinh nghiệm sống nhiều hay ít mà có kết quả tiếp nhận,
cụ thể, riêng biệt cho mỗi người. (3)Thậm chí, cùng một người, lúc nhỏ đọc tác
phẩm ấy đánh giá khác, sau lớn lên đánh giá khác, về già lại đánh giá khác.
(4)Tính khuynh hướng trong tư tưởng, tình cảm, trong thị hiếu thẩm mĩ càng làm
_________________________________________________________________
Nguyễn Văn Công Trường THPT Ngô Sĩ Liên
8
cho sự tiếp nhận văn học mang đậm nét cá nhân và chính sự chủ động, tích cực
của người tiếp nhận đã làm tăng thêm sức sống của tác phẩm. (5)Tác phẩm văn
học tuy miêu tả cuộc sống cụ thể, toàn vẹn, sinh động, nhưng vẫn còn rất nhiều
điều mơ hồ chưa rõ.(6) Người đọc phải quan sát, tri giác để làm nổi lên những nét
mờ, khôi phục những chỗ còn bỏ lửng, nhận ra mối liên hệ của những phần xa
nhau, ý thức được sự chi phối của chỉnh thể đối với các bộ phận. (7)Ở đây không
chỉ có tác phẩm tác động tới người đọc, mà còn có việc tác động, tìm tòi của người
đọc đối với văn bản. (8)Thiếu sự tiếp nhận tích cực của người đọc thì tác phẩm

kiến: “Tuổi trẻ đọc sách như nhìn trăng qua cái kẽ, lớn tuổi đọc sách như ngắm
_________________________________________________________________
Nguyễn Văn Công Trường THPT Ngô Sĩ Liên
9
trăng ngoài sân, tuổi già đọc sách như thưởng trăng trên đài.” của Lâm Ngữ
Đường (bài Phân tích một ý kiến bàn về văn học – Ngữ văn 12, tập 1, tr. 91).
Điểm chung giữa 2 câu là cùng diễn đạt ý: Tiếp nhận văn học phụ thuộc vào
tuổi tác, kinh nghiệm sống…
d/ Các cụm từ những nét mờ, những chỗ còn bỏ lửng trong câu (6) được
hiểu là phần nghĩa hàm ẩn của văn bản văn chương.
Vấn đề này gợi nhớ đến lí thuyết “tảng băng trôi” của Hê-min-uê đã được
giới thiệu trong phần VHNN.
Với những bài tập như ví dụ trên, HS vừa dễ tiếp thu kiến thức vừa có thêm
năng lực đọc hiểu.
2. Giải pháp 2: Vận dụng kiến thức về thể loại vào việc đọc hiểu văn bản
ngắn
Một trong những nét mới của chương trình và SGK Ngữ văn hiện hành là sự
nhấn mạnh đến việc hướng dẫn cho học sinh cách đọc văn bản theo các kiểu loại
và phương thức biểu đạt.
Mỗi loại văn bản có nội dung phản ánh, cách thể hiện riêng, phong cách
ngôn ngữ riêng. Vì vậy, khi hướng dẫn đọc hiểu một văn bản, việc đầu tiên là phải
nhắc nhở học sinh chú ý đến đặc điểm của thể loại văn bản.
a/ Đối với các văn bản thông tin: bao gồm văn bản “nhật dụng”, văn bản
thông tin – báo chí, văn bản thông tin – chính luận, văn bản thông tin – khoa học…
Học sinh cần lưu ý đặc điểm của từng loại văn bản:
- Văn bản thông tin – báo chí: nổi bật ở tính mới mẻ, chân thực của sự
kiện; thái độ tình cảm rõ ràng; ngôn ngữ thường ngắn gọn, chính xác
nhưng vẫn có sức truyền cảm…
- Văn bản thông tin – khoa học: có mục đích cung cấp thông tin khoa học,
thường sử dụng các thuật ngữ khoa học, diễn đạt rõ ràng, không dùng lối

nhưng cũng có mặt trong các văn bản như: tùy bút, bút kí, văn tế…
+ Phương thức thuyết minh: dùng trong các văn bản trình bày tri thức, trong
văn bản quảng cáo sản phẩm hàng hóa, trong các lời giới thiệu di tích, thắng cảnh,
nhân vật…
Điều lưu ý HS là trong một văn bản cụ thể, ngoài phương thức biểu đạt
chính, còn có thể phối hợp thêm nhiều phương thức biểu đạt khác nhau.
Ví dụ cụ thể: Yêu cầu HS xác định những phương thức biểu đạt được sử
dụng trong đoạn thơ:
“ Thuở nhỏ tôi ra cống Na câu cá
Níu váy bà đi chợ Bình Lâm
Bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật
Và đôi khi ăn trộm nhãn chùa Trần
Thuở nhỏ tôi lên chơi đền Cây Thị
Chân đất đi đêm xem lễ đền Sòng
Mùi huệ trắng quyện khói trầm thơm lắm
Điệu hát văn lảo đảo bóng cô đồng
Tôi đâu biết bà tôi cơ cực thế
Bà mò cua xúc tép ở đồng Quan
Bà đi gánh chè xanh Ba Trại
Quán Cháo, Đồng Giao thập thững những đêm hàn”
_________________________________________________________________
Nguyễn Văn Công Trường THPT Ngô Sĩ Liên
11
( Đò Lèn – Nguyễn Duy)
(Câu 1 – Đề thi tuyển sinh Đại học khối C năm 2014)
- Giáo viên cần cắt nghĩa cho HS hiểu: Đây là thơ trữ tình, phương thức biểu
đạt chính sẽ là biểu cảm. Nhưng không chỉ vậy, trong đoạn thơ còn sử dụng cả các
phương thức khác là tự sự và miêu tả ( căn cứ nhận diện: ngoài việc bộc lộ cảm
xúc của người cháu, đoạn thơ còn thuật lại những chuyện trong quá khứ qua những
sự việc cụ thể, đoạn thơ còn có những dòng miêu tả: mùi huệ trắng quyên khói

- Xác định chủ đề cần viết (thường liên quan đến một nội dung của văn
bản đã cho)
_________________________________________________________________
Nguyễn Văn Công Trường THPT Ngô Sĩ Liên
12
- Viết đoạn ngắn theo 1 trong 2 kiểu diễn dịch hoặc tổng – phân – hợp
(theo kinh ngiệm của giáo viên thì đây là 2 cấu trúc mà HS dễ thực hiện
hơn cả)
+ Đoạn diễn dịch thường có mô hình: A + B,C,D… ( trong đó A là câu chủ
đề; B,C,D… là các câu khai triển bậc 1)
+ Đoạn tổng – phân – hợp thường có mô hình: A + B,C,D… + A’ ( trong đó
A là câu chủ đề để giới thiệu đoạn văn; B,C,D…là các câu giải thích hoặc làm rõ ý
tưởng chính của đoạn văn bằng cách cung cấp các dẫn chứng, lí lẽ có liên quan; A’
là câu kết đoạn bằng cách nhắc lại nội dung/ ý tưởng chính)
Ví dụ 1: Yêu cầu HS nêu 2 tác dụng của việc tự học theo quan điểm riêng
của mình. Trả lời trong khoảng 5-7 dòng. ( mục Đọc hiểu, Đề thi minh họa-kỳ thi
THPT quốc gia năm 2015 )
- HS xác định 2 ý chủ đề ( tương ứng với 2 tác dụng của tự học ):
 tự học giúp cho ta có được kiến thức một các vững chắc nhất;
 tự học còn giúp ta rèn luyện tính độc lập trong tư duy.
- Triển khai từng ý chủ đề nêu trên theo lối diễn dịch:
Việc tự học sẽ giúp ta có được những kiến thức một cách vững chắc nhất.Vì
khi tự mình tìm đến với kiến thức, chọn lọc kiến thức với thái độ chủ động, tích
cực, ta sẽ hiểu sâu về vấn đề và nhớ lâu hơn…
Ngoài tri thức, tự học còn giúp ta tự rèn luyện nhiều phẩm chất tốt đẹp: sự
kiên trì, ý chí vượt khó…Đặc biệt, tự học giúp ta có thói quen tự suy nghĩ, tạo khả
năng tư duy sáng tạo.
- Học sinh cũng có thể kết nối 2 đoạn nhỏ trên thành 1 đoạn lớn.
Ví dụ 2: Yêu cầu HS bày tỏ suy nghĩ về vấn đề chủ quyền biển đảo Việt
Nam.

GD&ĐT.
Thông qua hướng dẫn của giáo viên, học sinh một mặt có thể làm tốt các bài
tập đọc hiểu văn bản bản ngắn, vừa nâng cao được năng lực đọc hiểu văn bản và
tạo lập văn bản nói chung. Chất lượng học tập của học sinh được nâng cao, kết quả
làm bài cũng tốt hơn trước rất nhiều. Đặc biệt các em đã có được phương pháp làm
bài, không còn lúng túng, nhầm lẫn khi làm các bài tập đọc hiểu như trước.
Việc tìm tòi, nghiên cứu các biện pháp dạy đọc hiểu cũng giúp giáo viên có
thêm nguồn tư liệu bổ sung cho phương pháp, kĩ thuật dạy học, qua đó cũng góp
phần làm phong phú nội dung bài dạy, đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy
học bộ môn.
Áp dụng những kinh nghiệm đã nêu, kết quả giảng dạy môn Văn cuối năm
của các lớp kể từ năm học 2013 – 2014 đến nay đã có nhiều tiến bộ rõ nét. Tỉ lệ bộ
môn của cả Tổ cũng đạt trên 75 % (so với trước chỉ đạt 60 %).
Trong bối cảnh có nhiều thay đổi về cấu trúc đề thi ở thời gian qua, kết quả
thi tốt nghiệp THPT môn Văn của trường Ngô Sĩ Liên vẫn giữ vững ở mức cao,
thường vượt tỉ lệ chung của tỉnh. Năm học 2013 – 2014, tỉ lệ tốt nghiệp ở các lớp
đã dạy đạt 90% ( so với tỉ lệ 82% của tỉnh ). Ở năm học 2014 – 2015, với cấu trúc
đề thi mới, kết quả thi cuối kỳ cũng đạt mức khả quan, tỉ lệ chung của cả tổ Văn
đạt 85%, kết quả giảng dạy cuối năm ở các lớp 12 cũng đạt hơn 75%.
V. ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG
SKKN này đã được người viết vận dụng trong quá trình giảng dạy của bản
thân hai năm gần đây, sau đó triển khai áp dụng rộng rãi trong phạm vi tổ Văn của
trường THPT Ngô Sĩ Liên. Giáo viên trong tổ tiếp tục triển khai trong giờ dạy của
mình và cũng đã thu được những kết quả khá tốt, đặc biệt rất có ích cho những
giáo viên trẻ, chưa có kinh nghiệm giảng dạy.
_________________________________________________________________
Nguyễn Văn Công Trường THPT Ngô Sĩ Liên
14
Tuy nhiên, do mới được nghiên cứu và áp dụng trong thời gian chưa lâu, lại
ở một phạm vi nhỏ là một trường phổ thông, nên đề tài chưa có được rút kinh

a/ Nội dung đoạn văn so sánh sự khác biệt về tính cách, số phận giữa Kiều
và Từ Hải.
b/ Các biện pháp nghệ thuật nổi bật: sử dụng kết cấu đối lập – song hành,
biện pháp lặp CP: (nếu) Kiều …(thì) Từ…
Tác dụng: nhấn mạnh sự khác biệt giữa 2 nhân vật
_________________________________________________________________
Nguyễn Văn Công Trường THPT Ngô Sĩ Liên
15
c/ “tự ti”: sự mặc cảm, hạ thấp bản thân
“tự tôn”: đề cao, coi trọng bản thân
d/ Thao tác lập luận chính được sử dụng trong đoạn văn: so sánh
Bài tập 2:
Đọc đoạn văn sau và trả lời các câu hỏi:
“Kháng chiến phải đi đôi với kiến quốc. Kháng chiến có thắng lợi thì kiến
quốc mới thành công. Kiến quốc có thành công thì kháng chiến mới thắng lợi”.
(Hồ Chí Minh)
a/ Nội dung đoạn văn nói về điều gì?
b/ Biện pháp nghệ thuật nổi bật trong đoạn văn? Tác dụng của chúng?
c/ Em hiểu như thế nào về từ “kiến quốc”?
Gợi ý trả lời:
a/ Đoạn văn nêu mối quan hệ giữa nhiệm vụ kháng chiến (giành chính
quyền, giành độc lập tự do, lập nên chế độ mới) và nhiệm vụ kiến quốc (xây dựng
đất nước) của cách mạng nước ta.
b/ Biện pháp nghệ thuật nổi bật là đảo đối.
Tác dụng: nhấn mạnh sự kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa 2 nhiệm vụ.
c/ “Kiến quốc” là kiến thiết, xây dựng đất nước, bao gồm xây dựng chính
quyền, phát triển kinh tế, chăm lo đời sống nhân dân…
Bài tập 3: Đọc đoạn thơ và trả lời các câu hỏi :
“Mình đi, có nhớ những ngày
Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù

Các cặp tiểu đối : miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai…
Liệt kê : các hình ảnh, sự kiện ở cuối đoạn
Giá trị biểu đạt :  giúp tô đậm, khắc sâu kỉ niệm cũng như diễn tả nỗi lòng
day dứt của người ở lại.
3/ Đặc sắc của cách sử dụng từ “mình”:
Trong câu “Mình đi, mình có nhớ mình”, từ “mình” thứ 1 và từ “mình” thứ 2
được dùng ở ngôi thứ 2 số ít ( chỉ người ra đi ), từ mình thứ 3 vừa chỉ ngôi thứ 1
vừa chỉ ngôi thứ 2 số ít. Mình đi có nhớ đến người ở lại? có nhớ đến chính bản
thân mình trước kia…  tạo tính đa nghĩa, khơi gợi nhiều suy nghĩ sâu sắc, vừa
giúp tạo âm điệu da diết.
Bài tập 4:
Đọc đoạn thơ và trả lời câu hỏi:
“Họ giữ và truyền cho ta hạt lúa ta trồng
Họ chuyền lửa qua mỗi nhà, từ hòn than qua con cúi
Họ truyền giọng điệu mình cho con tập nói
Họ gánh theo tên xã, tên làng trong mỗi chuyến di dân
Họ đắp đập be bờ cho người sau trồng cây hái trái”
( Trích “Đất Nước” của Nguyễn Khoa Điềm )
a/ Nội dung chính của đoạn thơ?
b/ Phân tích những đặc sắc nghệ thuật có trong đoạn thơ trên.
Gợi ý trả lời:
a/ Nội dung chính của đoạn thơ: Tiếp tục khẳng định tư tưởng “Đất Nước
của Nhân dân”. Nhân dân là người sáng tạo, lưu giữ, phát huy tất các giá trị đẹp đẽ
về vật chất, tinh thần, bản sắc văn hóa góp phần làm nên Đất nước.
b/ Phân tích những đặc sắc nghệ thuật có trong đoạn thơ trên:
+ Sử dụng 1 loạt động từ : giữ, truyền, chuyền, gánh, đắp, be
+ Phép lặp cấu trúc : Họ + động từ + a,b,c,d
 giúp khẳng định vai trò to lớn của Nhân dân trong việc làm nên Đất nước; vừa
tạo sắc thái cụ thể, gần gũi, bình dị
Bài tập 5:

hạnh phúc lớn lao của nhân vật trữ tình khi trở về gặp lại nhân dân.
b/ Các đặc sắc nghệ thuật của đoạn thơ :
+ Sử dụng liên tiếp những hình ảnh so sánh rất đẹp, rất lạ, rất gợi cảm ( 5
hình ảnh ), phối hợp với phép liệt kê ( nêu 1 loạt hình ảnh )
+ Hiệu quả : Những hình ảnh so sánh vừa đẹp vừa có sự hòa hợp, gắn bó đã
nhấn mạnh niềm hạnh phúc tột độ của nhà thơ khi trở về với nhân dân. Được trở về
với nhân dân không chỉ là niềm vui, niềm khao khát mà còn 1 lẽ tự nhiên. Về với
nhân dân là về với ngọn nguồn của sự sống, về với những gì thân thiết, sâu nặng
nhất của lòng mình.
NGƯỜI THỰC HIỆN
Nguyễn Văn Công
_________________________________________________________________
Nguyễn Văn Công Trường THPT Ngô Sĩ Liên
18
SỞ GD&ĐT ĐỒNG NAI
TRƯỜNG THPT NGÔ SĨ LIÊN
–––––––––––

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
––––––––––––––––––––––––
Đồng Nai, ngày 28 tháng 05 năm 2015
PHIẾU NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Năm học: 2014 - 2015
–––––––––––––––––
Tên sáng kiến kinh nghiệm: Một số biện pháp nâng cao năng lực đọc – hiểu cho
học sinh trong dạy học môn Ngữ văn bậc THPT
Họ và tên tác giả: Nguyễn Văn Công Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị: Trường THPT Ngô Sĩ Liên
Lĩnh vực: (Đánh dấu X vào các ô tương ứng, ghi rõ tên bộ môn hoặc lĩnh vực

Trong Tổ/Phòng/Ban  Trong cơ quan, đơn vị, cơ sở GD&ĐT  Trong ngành

_________________________________________________________________
Nguyễn Văn Công Trường THPT Ngô Sĩ Liên
19
- Đã được áp dụng trong thực tế đạt hiệu quả hoặc có khả năng áp dụng đạt hiệu quả
trong phạm vi rộng: Trong Tổ/Phòng/Ban  Trong cơ quan, đơn vị, cơ sở GD&ĐT 
Trong ngành 
Xếp loại chung: Xuất sắc  Khá  Đạt  Không xếp loại 
Cá nhân viết sáng kiến kinh nghiệm cam kết và chịu trách nhiệm không sao
chép tài liệu của người khác hoặc sao chép lại nội dung sáng kiến kinh nghiệm cũ
của mình.
Tổ trưởng và Thủ trưởng đơn vị xác nhận đã kiểm tra và ghi nhận sáng kiến
kinh nghiệm này đã được tổ chức thực hiện tại đơn vị, được Hội đồng chuyên môn
trường xem xét, đánh giá; tác giả không sao chép tài liệu của người khác hoặc sao
chép lại nội dung sáng kiến kinh nghiệm cũ của chính tác giả.
NGƯỜI THỰC HIỆN
SKKN
XÁC NHẬN CỦA TỔ
CHUYÊN MÔN
THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Nguyễn Văn Công Nguyễn Văn Công Hoàng Văn Bắc
_________________________________________________________________
Nguyễn Văn Công Trường THPT Ngô Sĩ Liên
20


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status