BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THỊ NGỌCĐẶC ĐIỂM THƠ
VIẾT VỀ BIỂN ĐẢO VIỆT NAM
TỪ 1986 ĐẾN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
NGHỆ AN - 2014
2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THỊ NGỌC
ĐẶC ĐIỂM THƠ
VIẾT VỀ BIỂN ĐẢO VIỆT NAM
TỪ 1986 ĐẾN NAY
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60.22.01.21
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. NGUYỄN VĂN HẠNH
NGHỆ AN - 2014
4
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 8
1. Lý do chọn đề tài 8
2. Lịch sử vấn đề 8
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 19
2.2.2. Giọng thiết tha, sâu lắng 63
2.2.3. Giọng uất hận, hờn căm 65
Chương 3
MỘT SỐ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT NỔI BẬT TRONG
THƠ
VIẾT VỀ BIỂN ĐẢO TỪ 1986 ĐẾN NAY 68
3.1. Sử dụng nhiều hình thức thơ 68
3.1.1. Thơ tự do 68
3.1.2. Thơ lục bát. 71
3.1.3. Thơ văn xuôi 74
3.1.4. Trường ca – trữ tình 76
3.2. Sử dụng thành công nhiều biện pháp tu từ 81
3.2.1. Biện pháp ẩn dụ 81
3.2.2. Trùng điệp lời thơ 84
3.3. Sử dụng nhiều lớp ngôn từ 87
6
3.3.1. Ngôn ngữ văn hóa, lịch sử 88
3.3.2. Ngôn ngữ đời thường, giản dị 89
3.3.3. Ngôn ngữ giàu hình ảnh 91
3.3.4. Sử dụng ngôn ngữ mang tính biểu tượng 94
KẾT LUẬN 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO 103
7
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Việt Nam là một quốc gia ven biển nằm bên bờ Tây của biển
Đông, có địa thế chính trị và kinh tế rất quan trọng. Với bờ biển dài 3260km,
trải dài từ Bắc xuống Nam, biển và đảo từ ngàn đời nay đã gắn liền với cuộc sống
con người Việt Nam, đi vào thơ ca họa nhạc. Trong đời sống thơ ca, dân tộc, từ
lâu biển, đảo đã trở thành nguồn cảm hứng sáng tạo của nhiều nhà thơ. Tuy nhiên,
đảnh ấy lại lưu giữ tốt nhất thứ bản mệnh ấy là tình yêu. Yêu những gì là hiển
nhiên là tự thuở cha ông mình. Kể từ khi Lí Thường Kiệt viết câu thơ rạch đôi
gầm trời cũng là khi thi ca nước Nam hình thành nguồn cảm hứng về cương
vực đất nước cứ cồn cào như lớp lớp sóng không ngừng nghỉ”. Theo Hòa
Bình, “Thơ ca về chủ đề biển đảo đang phát huy sức mạnh thực sự của ngôn
từ, khi mà “sóng lớp lớp đè lên thềm lục địa” của Tổ quốc. Nhưng không phải
bây giờ mà trước đây rất lâu rồi, khi các nhà thơ lênh đênh trên những chuyến
tàu ra với lính đảo đều đã ghi lại niềm tự hào dân tộc, cảm nhận được nhịp
đập chung trong trái tim Việt nam và chuyển tải cảm xúc chân thành của mình
tới công chúng, bi tráng, trầm hùng, thơ ca biển đảo hiện nay không còn là
tiếng lòng riêng của cá nhân thi sĩ mà đã trở thành sự thổn thức chung của
hàng triệu trái tim Việt Nam, trở thành thơ ca của lòng yêu nước”. (Nguồn:
http://nld.com.vn/van-hoa-van-nghe/tho-bien-dao-tieng-long-yeu-
nuoc- 20140615214745204 .htm ). Tuy nhiên, có một thực tế, thành tựu thơ viết
về biển đảo chưa có nhiều. Là người sáng tác, Nguyễn Hữu Quý trong bài
Thơ viết về biển đảo cần một độ sâu hơn (7/2014), viết: “Tôi nghĩ, lính biển
đảo, dân biển đảo cần ở thi ca một cái nhìn gần với cuộc sống chất chứa gian
khổ và dũng cảm của mình để từ đó những trang thơ chân thực đầy vốn sống
và nghệ thuật trở thành cây phong ba của họ. Có khái quát xa xôi đến bao
9
nhiêu thì cái đích của thi ca vẫn phải là tâm hồn người đọc. Để lắng lại hồn
dân tộc trong hồn mỗi người thơ về biển đảo nên có chiều sâu”. Theo ông,
cuộc sống của những người lính, người dân bám biển cực kỳ gian khổ hiểm
nguy. Cảm giác cô đơn trống trải không phải là không có. Con người trở nên
bé nhỏ vô cùng trước trời biển mênh mang nhất là khi sóng to gió lớn tràn qua
đảo, nhà giàn. Đã có những hi sinh đầy xúc động của người lính, người dân
bám biển. (Nguồn http://nhavantphcm.com.vn/tac-pham-chon-loc/nghien-cuu-phe-binh/tho-ve-bien-dao-
can-mot-do-sau-hon.html.) . Bàn về bài Đây biển Việt Nam – vẻ đẹp của sự chân
thành đã tạo ra sự chấn động, Bảo Anh cho rằng: “Trong bối cảnh hội nhập
quốc tế, biển là chiến lược của toàn cầu. Mỗi một dân tộc muốn lớn mạnh
cả vị trí quan trọng về an ninh quốc phòng của đất nước”. Biển còn là nơi lưu
giữ và gợi cảm hứng cho con người, đứng trước biển con người như đứng trước bao lớp
cảm xúc ồ ạt. Biển và đảo cũng là những nguồn cảm hứng bất tận cho các văn nhân, các
thi sỹ, nhạc sỹ, các họa sĩ khi họ say mê sáng tạo ra những tác phẩm văn chương, âm nhạc
và hội họa của mình. (Nguồn http://hanglinhthao.com/vi/news/Van-hoc-Bao-chi/Bien-
dao-va-To-Quoc-trong-tho- 33 / .)
Bên cạnh những bài viết bàn về đề tài biển đảo trong thơ sau 1986, có
không ít bài viết bàn về một số hiện tượng tiêu biểu viết về đề tài biển đảo
trong những năm gần đây, như Ngô Minh, Đỗ Quyên, Nguyễn Việt Chiến,
Nguyễn Ngọc Phú
Trong bài viết Cái tôi trữ tình trong thơ Ngô Minh, đăng trên
http://www.bichkhe.org/home.php?cat_id= 147 id= 1 & id= 2828 , Nguyễn Thị
Bích Kiều cho rằng: “Từ những năm tháng đất nước còn trong chiến tranh,
nhà thơ Ngô Minh đã thể hiện cái tôi trữ tình ngợi ca, tự hào về quê hương,
đất nước, con người. Khi hòa bình lặp lại, cái tôi trữ tình lúc bấy giờ đi sâu
vào đời tư, thế sự, để khám phá những miền sâu xa trong cõi tâm linh, sâu
thẳm của con người.Cái tôi ấy thể hiện nỗi buồn đau nhân thế, chứa đựng giá
11
trị nhân văn cao cả”. Đó chính là con đường thơ, con đường cuộc đời sau
những trải nghiệm, nhà thơ Ngô Minh đã dịch chuyển thơ đến gần hơn với
cuộc sống của con người, kéo thơ đến gần hơn với cuộc sống. Đến với các tập
thơ của Ngô Minh, Như Hà trong bài viết Nhà thơ Ngô Minh: biển đảo quê
hương mang tiếng gọi khẩn thiết (9/ 2013) đã cho rằng: “ông có cảm xúc biển
thường trực, nên mấy mươi năm qua, số bài thơ viết về biển của ông nhiều
thuộc hàng kỷ lục của Việt Nam”. Ký tự biển thực sự là chất biển đậm đặc và
chính nhà thơ cũng thừa nhận “chưa bao giờ tôi viết đậm đặc về biển như
trong tập này. Đây là xúc cảm có thể gọi là đặc biệt, trước đó chưa có. Gặp
bất cứ đề tài gì, hình tượng biển bao giờ cũng ám ảnh tôi, lúc nào tôi cũng
nghĩ về biển”. Khi biển mang tiếng gọi khẩn thiết và thấy rõ vị trí của biển
đảo với đời sống con người, hơn ai hết, nhà thơ chính là người nhạy cảm nhất
bỗng không còn mạ?” tình cảm với cha với mẹ là nỗi lòng sâu thẳm mà Ngô
Minh đã viết lên từ Chân sóng - nơi tận cùng của con sóng gió nhưng lại là
đỉnh điểm của sự bình yên muôn thuở. Đó là những nhận xét của Trần Minh
Tích ở bài viết “Mẹ” trong “Chân sóng” của Ngô Minh” trích Ngô Minh -
hạt phù sa biển, nhà xuất bản Thuận hóa (2014). Trong bài Từ “Chân sóng”
đến “Quà tặng xứ xưa” trích Ngô Minh-hạt phù sa biển, nhà xuất bản Thuận
hóa, 2014, Nhất Lâm cho rằng: “Hai tập Chân sóng và Quà tặng xứ xưa, tôi
lại thích 37 bài thơ của tập Chân sóng hơn. Ở đây, anh viết về mẹ mình, về
quê hương giống cách nghĩ của tôi. Giữa mẹ nhà thơ và mẹ tôi có nhiều điểm
giống nhau, suốt đời cực khổ lo cho chồng, cho con và làm nghĩa vụ với đất
nước. Nay cả hai đã gần tuổi 90 (mẹ anh mất, mẹ tôi còn). Chúng tôi, những
đứa con, biền biệt xa mẹ, xa quê; khi trở về thì mẹ đã già, đã mất.Chúng tôi
hiểu nhau và hiểu thơ về lẽ đó”. Trong bài viết: Nhà thơ Ngô Minh: Biển đảo
quê hương vang tiếng gọi khẩn thiết trích Ngô Minh - hạt phù sa biển, nhà
13
xuất bản Thuận hóa, (2014) Lý Đợi viết: “Từ thuở mẹ đẻ rơi tôi bên bờ chân
sóng, trong tôi biển đảo Việt Nam là hoàn thiện, giống như làng tôi vậy. Tập
thơ nào tôi cũng có nhiều bài về biển, có tập toàn về biển”… Nhà thơ Ngô
Minh bắt đầu câu chuyện theo tôi, nếu nghệ thuật làm tốt công việc của
mình, thì “lãnh hải” tự nhiên được mở rộng, được ghi nhớ, được truyền tụng
nên cũng được bảo vệ, ít nhất là trong tâm tưởng và tâm thức của cộng đồng,
của dân tộc”. Tập thơ Ký tự biển của Ngô Minh có thể nói rằng đó là tập thơ
“đậm chất biển”. Đọc thơ Ngô Minh hầu như tập nào hình ảnh biển cũng xuất
hiện, biển ở mỗi tập thơ đều có một vị thế và cách nhìn riêng nhưng đều toát
lên vẻ đẹp, sự kì vĩ và giàu có của biển đảo. Biển luôn có vai trò quan trọng
trong đời sống của con người.
Bên cạnh Ngô Minh, Đỗ Quyên được xem là một trong những nhà
thơ viết nhiều về biển đảo. Sáng tác của ông đã thu hút sự quan tâm của
giới nghiên cứu phê bình và đông đảo công chúng yêu thơ. Vương Hùng
trong bài viết Đỗ Quyên với trường ca Lòng Hải Lý nhận xét: “Trường ca
Và như câu thơ của Nguyễn Duy: “Dù ở đâu cũng tổ quốc trong lòng/Cột cây
số đóng từ thương đến nhớ!”. Một chiếc áo khác của trường ca, không dựa
vào một thực tế nào đó, không khúc thức, cốt truyện, không mang âm hưởng
sử thi, cũng không phải là sự hòa hợp giữa tính sử thi và tính cộng đồng, mà
Lòng hải lý đi sâu vào những suy tưởng riêng tư.
Thời gian gần đây đã có nhiều bài viết, nhiều cuộc thi, nhiều hoạt động
hướng tới biển đảo. Đặc biệt Báo VietNamNet phối hợp cùng với Hội nhạc sỹ
Việt Nam, Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức cuộc thi sáng tác thơ và ca khúc
Đây biển Việt Nam. Cuộc thi là một trong những hoạt động góp thêm những
tiếng nói mới, thanh âm mới, trang sách mới - dùng ngôn ngữ “thơ ca và âm
15
nhạc” để xây đắp thêm sự vững bền của phòng tuyến nơi hải đảo. Cùng viết
về biển đảo, các tác giả với các tác phẩm tiêu biểu như Nguyễn Việt Chiến
với Tổ quốc nhìn từ biển, Nguyễn Ngọc Phú với Tổ quốc tôi ba nghìn cây số
biển, Trịnh Công Lộc với Mộ gió, Hữu Thỉnh với Trường ca biển, Nguyễn
Thế Kỷ với tập thơ Về tổ đã làm nên diện mạo thơ viết về biển đảo thêm
phong phú và có những ý tưởng mới mẻ.
16
Nguyễn Việt Chiến - một trong những nhà thơ tiêu biểu với biển đảo quê
hương. Dưới cái nhìn của nhà thơ, biển đảo chính là cội nguồn, là gia sản lớn
nhất mà cha ông đã phải bỏ bao xương máu để giữ lấy cho đến ngày nay. Nghiên
cứu về thơ Nguyễn Việt Chiến, Nguyễn Mẫu Hùng Kiệt trong bài viết Bài thơ
Tổ quốc nhìn từ biển của Nguyễn Việt Chiến trên http://vanvn.net/news/ 16 / 809 -
den-voi-bai-tho to-quoc-nhin-tu-bien-nguyen-viet-chien.html đã khẳng định
chủ quyền của đất nước khi gợi nhớ về truyền thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ
chia con lên rừng, xuống biển mà làm nên hình hài đất nước. Theo nhà thơ
“Chúng ta là con dân của đất Việt, ông cha ta từ ngàn năm trước đã lên rừng, đã
xuống biển để khai phá, dựng xây non nước này. Và, biển - đảo ấy là một
phần gia tài nghèo khó mà ông cha ta tự ngàn xưa đã không tiếc máu xương,
công sức để giữ gìn, để truyền đời lại cho cháu con hôm nay”. Phùng Văn
Phú - một con người sinh ra và lớn lên ở vùng biển miền trung chịu bao khắc
nghiệt của vùng “chảo lửa” gió lào bỏng rát. Chính cái khắc nghiệt này đã tôi
luyện thêm tính cách cần cù chịu khó cho con người nơi đây. Tình yêu với biển,
sự gắn kết và xem biển như một phần không thể thiếu trong chính cuộc sống mà
nhà thơ đã từng tâm sự: “Tôi lớn lên trong hơi gió biển. Bữa cơm là đậm đà vị
muối biển. Đêm ngủ không được nghe tiếng sóng biển là tôi thấy thiếu điều gì đó.
Được viết về biển, nói về biển, tôi thấy mình như con cá được bơi trong nước”.
Nguồn http://www.phongdiep.net/default.asp?action=article & ID= 14859 .
18
Ngoài những gương mặt thơ tiêu biểu về đề tài biển đảo đã được đông
đảo bạn đọc và giới nghiên cứu phê bình nói tới, những năm qua còn xuất
hiện sáng tác của nhiều nhà thơ như Trần Đăng Khoa, Nguyễn Thế Kỷ, Trịnh
Công lộc Theo đó cũng đã có một số bài phê bình thơ về sáng tác của họ
đăng trên một số trang báo mạng. Tuy nhiên, nhìn chung, các bài viết còn tản
mản, mang tính thẩm bình nhiều hơn là nghiên cứu.
Điểm lại những nghiên cứu, phê bình của thơ viết về biển đảo thời gian
qua, có thể thấy, hầu hết các bài viết mới dừng lại ở việc phân tích, phê bình
một bài thơ, tập thơ cụ thể và chủ yếu là đăng trên các trang báo điện tử. Cho
đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện
thơ viết về biển đảo từ 1986 đến nay. Đây là cơ sở để chúng tôi thực hiện đề
tài này với mong muốn đưa ra một cái nhìn hệ thống, toàn diện về thơ viết về
đề tài biển đảo. Từ đó, góp phần nhận diện các khuynh hướng vận động của
thơ Việt Nam đương đại.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Như tên của đề tài đã xác định, mục đích nghiên cứu của đề tài là chỉ ra
những đặc điểm nổi bật (trên cả hai phương diện nội dung và hình thức thể
hiện) của thơ viết về biển đảo từ 1986 đến nay.
3.2. Với mục đích ấy, đề tài đặt ra nhiệm vụ:
Thứ nhất, phác thảo diện mạo thơ viết về biển đảo từ 1986 đến nay.
Chương 1
THƠ VIẾT VỀ BIỂN ĐẢO TỪ 1986 ĐẾN NAY
MỘT CÁI NHÌN PHÁC THẢO
1.1. Cơ sở sự hình thành dòng cảm hứng biển đảo trong thơ Việt
Nam từ 1986 đến nay
1.1.1. Vẻ đẹp của biển đảo
Việt Nam là quốc gia nằm bên bờ biển, lưng tựa Trường Sơn và ba phía
hướng về biển Đông. Vẻ đẹp hùng vĩ, thơ mộng của Việt Nam luôn gắn liền
với biển đảo. Từ Trà cổ Quảng Ninh chạy dài đến Hà Tiên, bờ biển Việt Nam
với 3260 km, mềm mại với những đường cong, nét khuất góp phần làm nên
dáng hình đất nước. Những dải cát vàng tinh khôi, những hàng phi lao xanh
mướt ven biển, gợi lên ý niệm về khu vườn địa đàng nơi trần thế. Nơi đây,
bình minh sẽ đến rất nhanh và thật đẹp rồi khi ánh hoàng hôn huyền ảo chớm
soi, con người mới cảm nhận được niềm hạnh phúc trọn vẹn khi ngắm nhìn vẻ
đẹp của đất trời và biển đảo Việt Nam. Hướng tầm mắt ngút ngàn về phía biển
khơi là những con sóng vừa “dữ dội và dịu êm”, vừa “ồn ào và lặng lẽ” ngày đêm
ôm ấp vuốt ve những hòn đảo ngọc. Có không ít địa danh bờ biển, hòn đảo đã trở
thành điểm du lịch thu hút sự chú ý của du khách mọi miền đất nước và trên thế
giới. Đó là Minh Châu, nơi hằng đêm cát trắng tỏa ánh hào quang lên bầu trời lấp
lánh ngàn sao; là Cù Lao Chàm hùng vĩ với vô vàn di tích khảo cổ; là một Phú
Quý hoang sơ, thơ mông, một Lý Sơn giàu có và hào phóng… Tất cả góp phần
tạo nên vẻ đẹp tự nhiên, huyền ảo, hấp dẫn của đất nước Việt Nam.
Bên cạnh vẻ đẹp thiên nhiên hùng vĩ, biển đảo Việt Nam còn hết sức
hấp dẫn bởi sự trù phú của nguồn tài nguyên vô tận. Nguồn tài nguyên hải sản
phong phú với đầy đủ chủng loại tôm, cua, cá, mực Nguồn tài nguyên
khoáng sản đưới lòng đại dương mênh mông vô tận. Nằm ở ngã ba đường
giao thương quốc tế trên Thái Bình Dương, biển đảo Việt Nam có một vị trí
21
quan trọng trong phát triển giao thông, phát triển kinh tế. Từ ngàn đời nay,
biển đảo luôn gắn liền với đất liền bằng tình thương ruột thịt, cách xa nghìn
nhiên, chỉ bốn năm sau chiến thắng 30/4/1975, đất nước lại bước vào hai cuộc
chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam và phía Bắc. Thêm vào đó, sự bao vây
cấm vận kinh tế của các nước và cơ chế quản lý quan liêu bao cấp kéo dài…
đã đẩy nền kinh tế rơi vào thời kỳ khủng hoảng trầm trọng. Lạm phát gia
tăng, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn. Đứng trước tình hình đó, Đảng
ta đã chứng tỏ năng lực lãnh đạo của mình bằng công cuộc đổi mới sâu sắc
toàn diện (1986). Nhờ đó, đất nước dần dần thoát khỏi sự khủng hoảng.
Sau gần 30 năm đổi mới, diện mạo đất nước đã có nhiều thay đổi. Tiềm
lực của đất nước, đặc biệt là tiềm lực biển đảo đã được thức tỉnh, góp phần
làm giàu cho đất nước. Những con tàu đã vươn xa đến các vùng biển đảo của
quê hương và đến với nhiều nước trên thế giới. Chưa bao giờ tiềm năng biển,
đảo lại được nói tới nhiều như mấy chục năm qua. Biển hào phóng cung cấp
cho con người không chỉ vô số hải sản mà còn cả nguồn năng lượng giàu có,
góp phần làm giàu cho tổ quốc. Nhưng giàn khoan trên biển ngày càng vươn
xa đánh thức tiềm lực biển Đông. Hướng về biển, khai thác biển đã trở thành
một chủ trương lớn của Đảng và nhà nước trong định hướng phát triển đất
nước thời kỳ mới. Nhận thức về vai trò của biển đảo đã có nhiều thay đổi
trong mỗi người dân. Biển, đảo không chỉ đóng vai trò quan trọng trong xây
dựng phát triển đất nước, mà còn góp phần bảo vệ sự thống nhất toàn vẹn của
đất nước, cả trong lịch sử, hiện tại và tương lai. Không chỉ cung cấp nguồn
thức ăn cho cư dân ven bờ từ hàng nghìn năm nay, biển Đông còn tạo điều
kiện để phát triển các ngành kinh tế và là cửa ngõ để Việt Nam có quan hệ
23
trực tiếp với các vùng miền của đất nước, giao thương với thị trường khu vực
và quốc tế, là nơi trao đổi và hội nhập của nhiều nền văn hóa.
Gắn liền với những thay đổi trên nhiều phương diện kinh tế, xã hội, văn
học Việt Nam cũng bước vào thời kỳ đổi mới tích cực và mạnh mẽ. Sự đổi
mới trong văn học được bắt đầu bằng sự đổi mới tư duy. Chính sự đổi mới tư
duy bắt đầu từ sự tìm tòi, sáng tạo bằng nhiều nguồn cảm hứng được bung
tỏa, trong đó nguồn cảm hứng về biển đảo quê hương đất nước được rất nhiều
vương triều nhà Nguyễn là vua Gia Long trong những năm 1815-1816 đã gửi
đoàn thám hiểm đặc biệt đi khảo sát quần đảo Hoàng Sa và các tuyến đường
biển tại đây. Như vậy, quyền tài phán lịch sử của Trung Quốc đối với Hoàng
Sa là rất là đáng ngờ. Nhưng Bắc Kinh hiểu rõ tầm quan trọng chiến lược của
những hòn đảo đối với ưu thế kiểm soát quân sự biển Đông giàu tài nguyên.
Ngoài ra, việc chiếm cứ Hoàng Sa đã làm thay đổi cục diện địa chính trị trong
toàn bộ khu vực Đông Nam Á. Trung Quốc đã mở tuyến đường trực tiếp vươn
về phía nam đến quần đảo Trường Sa, mục tiêu kế tiếp trong chính sách đối
ngoại và quân sự của Bắc Kinh. Gần đây nhất, Trung Quốc đặt giàn khoan trái
phép HD 981 vào vùng biển Việt Nam một cách ngang nhiên đã chứng tỏ vấn
đề biển Đông ở nước ta đang ngày một nóng bỏng và có nguy cơ trở thành
cuộc chiến. Biển Đông đang nóng lên từng ngày, từ diễn đàn Quốc Hội cho
đến trong mỗi nghĩ suy, mỗi việc làm của mỗi con người Việt Nam. Cả nước
hướng về biển đảo thân yêu đang trở thành phương châm sống, hành động
trên khắp mọi miền đất nước.
Chưa bao giờ biển đảo lại thiêng liêng đến thế. Hàng chục triệu người
Việt Nam đã thể hiện tình cảm yêu nước của mình bằng những hành động
thiết thực. Như một lẽ tự nhiên, các nhà thơ thêm một lần “ra trận”. Cảm
25