i
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LÊ XUÂN BẢO
ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ VÀ MỨC BÓN
PHÂN KALI ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ
NĂNG SUẤT CỦA TỔ HỢP CÀ CHUA LAI NH-2764 TRÊN
ĐẤT CÁT PHA VEN BIỂN HOÀNG MAI, TỈNH NGHỆ AN
TRONG VỤ ĐÔNG XUÂN NĂM 2013-2014
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành: Khoa học cây trồng
Mã số: 60 62 01 10
Giáo viên hướng dẫn: TS. Nguyễn Thị Thanh
NGHỆ AN, 2014
ii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan:
- Luận văn này là sản phẩm nghiên cứu của tôi;
- Số liệu trong luận văn được điều tra, nghiên cứu trung thực và chưa
công bố ở bất cứ công trình nghiên cứu nào khác;
- Các trích dẫn sử dụng trong luận văn đều được dẫn nguồn cụ thể;
- Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình.
TÁC GIẢ
Lê Xuân Bảo
iii
LỜI CẢM ƠN
Đề tài: "Đánh giá ảnh hưởng của mật độ và mức bón phân kali đến sinh
trưởng, phát triển và năng suất của tổ hợp cà chua lai NH-2764 trên đất cát pha
ven biển Hoàng Mai, Nghệ An trong vụ Đông Xuân 2013-2014” được thực hiện
từ năm 2013 đến năm 2014. trong quá trình thực hiện đề tài tôi đã nhận được rất
M : Mật độ
K : Mức bón kali
v
MỤC LỤC
1.1. Ngu n g c, phân b , giá tr c a cây c chuaồ ố ố ị ủ à 4
1.1.1. Ngu n g c, phân b c a cây c chua ồ ố ố ủ à 4
1.1.2. Phân lo iạ 5
1.1.3. Giá tr dinh d ngị ưỡ 6
1.1.4 Giá tr kinh tị ế 7
1.3. Tình hình s n xu t v nghiên c u c chua trên th gi iả ấ à ứ à ế ớ 11
1.3.1. Tình hình s n xu t c chua trên th gi iả ấ à ế ớ 11
1.3.2. Tình hình nghiên c u c chua trên th gi iứ à ế ớ 14
1.3.2.1. M t s nghiên c u v ch n t o gi ng c chua trên th gi iộ ố ứ ề ọ ạ ố à ế ớ 15
1.3.2.2. M t s nghiên c u c chua ch u nhi t cao v kháng b nhộ ố ứ à ị ệ độ à ệ
virus 19
1.3.2.3. M t s nghiên c u v bi n pháp k thu t s n xu t c chuaộ ố ứ ề ệ ỹ ậ ả ấ à 23
1.4.2.1. Nghiên c u v phát tri n gi ng c chua Vi t Namứ à ể ố à ở ệ 31
vi
DANH MỤC BẢNG VÀ HÌNH
1.1. Ngu n g c, phân b , giá tr c a cây c chuaồ ố ố ị ủ à 4
1.1.1. Ngu n g c, phân b c a cây c chua ồ ố ố ủ à 4
1.1.2. Phân lo iạ 5
1.1.3. Giá tr dinh d ngị ưỡ 6
1.1.4 Giá tr kinh tị ế 7
1.3. Tình hình s n xu t v nghiên c u c chua trên th gi iả ấ à ứ à ế ớ 11
1.3.1. Tình hình s n xu t c chua trên th gi iả ấ à ế ớ 11
1.3.2. Tình hình nghiên c u c chua trên th gi iứ à ế ớ 14
1.3.2.1. M t s nghiên c u v ch n t o gi ng c chua trên th gi iộ ố ứ ề ọ ạ ố à ế ớ 15
1.3.2.2. M t s nghiên c u c chua ch u nhi t cao v kháng b nhộ ố ứ à ị ệ độ à ệ
virus 19
có tiềm năng lớn
của Việt Nam.
Tỉnh Nghệ An đã hình thành được vùng chuyên canh trồng rau tại 12/19
huyện trong tỉnh, mỗi năm cung cấp cho thị trường trong và ngoài tỉnh hàng vạn
tấn rau. Vụ đông năm 2007, tỉnh Nghệ An đã trồng 9.000 ha rau các loại, đạt sản
2
lượng 90.000 tấn (Trần Ngọc Lân, 2007). Cũng theo đánh giá của ngành nông
nghiệp Nghệ An, trồng rau xanh đang là nghề ổn định, mang lại thu nhập khá cao
cho người nông dân cá biệt có nơi như xã Quỳnh Lương, huyện Quỳnh Lưu, bình
quân mỗi ngày xã bán 25 tấn rau, thu nhập đạt 120 triệu đồng/ha/năm. Rau xanh
Nghệ An hiện có mặt tại thị trường 12 tỉnh, thành trong cả nước. Trong các loại rau
xanh tại huyện Quỳnh Lưu thì cây cà chua là một trong những thương phẩm rau
quả được đưa đi bán ra các vùng trong cả nước. Tuy nhiên hiện nay vùng sản xuất
cà chua còn nhỏ lẻ, manh mún và chưa tập trung. Sản xuất còn mang tính tự phát,
nông dân còn sử dụng nhiều giống cũ năng suất thấp, nhiễm sâu bệnh và chất
lượng chưa cao. Ngoài ra người dân còn lạm dụng phân đạm và thuốc bảo vệ thực
vật dẫn đến sâu bệnh hại nhiều và giảm năng suất. Sản phẩm sản xuất ra chủ yếu
tập trung ở chính vụ đông, là lúc thu hoạch rộ các loại rau màu khác nên giá cà
chua thường rẻ và hiệu quả sản xuất chưa cao. Chất lượng sản phẩm chưa đáp ứng
tốt cho thị trường xuất khẩu nên chủ yếu tiêu thụ nội địa và một phần cho xuất
khẩu. Vì vậy, diện tích và sản lượng cà chua không ổn định.
So với các cây rau khác, cà chua đặc biệt dễ bị thương tổn do sâu bệnh hại.
Thường dễ bắt gặp một số ruộng cà chua bị phá hủy nghiêm trọng do bệnh virus
xoăn lá, héo xanh, sương mai, ở các vùng thâm canh rau quả. Cà chua, cũng
như nhiều đối tượng rau khác, một khi đã nhiễm bệnh virus, khả năng chống
bệnh dường như rất kém hiệu quả.
Trong năm 2012, Công ty TNHH Giống Cây Trồng Nông Hữu đã tiến hành
trồng thử 6 tổ hợp cà chua lai khác nhau tại Nghệ An, kết quả bước đầu đã chọn
được tổ hợp cà chua lai NH-2764 có nhiều đặc điểm nổi trội như mẫu mã thương
phẩm được thị trường ưa chuộng, sinh trưởng khỏe trên đất cát, và được nông dân
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Nguồn gốc, phân bố, giá trị của cây cà chua
1.1.1. Nguồn gốc, phân bố của cây cà chua
Nhiều nghiên cứu cho rằng cây cà chua có nguồn gốc ở vùng Nam Mỹ,
dọc theo bờ biển Thái Bình Dương, từ quần đão Galapagos tới Chile (Nguyễn
Văn Hiển, 2000) [10]. Theo các nghiên cứu của Jenkins (1948), có thể dạng này
được chuyển từ Peru và Ecuado tới nam Mehico. Trước khi Crixitop Colong tìm
ra Châu Mỹ thì ở Peru và Mehico đã trồng cà chua, ở đó nó đó được người dân
bản xứ thuần hóa và cải tiến. Các nhà thực vật học Decadolle (1984), Mulle
(1940), Luckwill (1943), Breznev (1955), Becker - Dilinggen (1956)… đều
thống nhất cho rằng cây cà chua có nguồn gốc ở bán đão Galapagos, ở Peru,
Equado, Chile. Tuy nhiên Mehico là đất nước đầu tiên trồng trọt loại cây này. Có
3 chứng cứ đáng tin cậy để khẳng định Mehico là trung tâm khởi nguyên trồng
trọt hóa cây cà chua:
- Cà chua trồng được bắt nguồn từ Châu Mỹ.
- Được trồng trọt hóa trước khi chuyển xuống Châu Âu và Châu Á.
- Tổ tiên của cà chua trồng ngày nay là cà chua anh đào (L.esculentum
var.cerasiforme) được tìm thấy từ vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới Châu Mỹ, sau đó
đến vùng nhiệt đới Châu Á và Châu Phi [4].
Lịch sử phát triển và du nhập cà chua vào các nước trên thế giới là khác
nhau. Ở Châu Âu cây cà chua bắt đầu du nhập vào từ thế kỷ 16 do những nhà
buôn Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha. Năm 1554, Andrea Mattioli nhà dược liệu học
người Italia mới đưa ra những dẫn chứng xác đáng về sự tồn tại của cây cà chua
trên thế giới và được ông gọi là “pomid’oro” sau đó được chuyển vào tiếng Italia
với cái tên “tomato”. Người Pháp gọi cà chua là “pomme d’amour” (quả táo tình
yêu). Mặc dù có nhiều tên gọi khác nhau nhưng thời bấy giờ cà chua chỉ được
trồng phổ biến dưới dạng cây cảnh với màu sắc quả đẹp vì người ta cho rằng
trong cà chua có độc do cà chua là thành viên trong họ cà, có họ hàng với cây cà
độc dược. Đầu thế kỷ 18 các giống cà chua đã trở nên phong phú và đa dạng,
5
6
a) L. Esculentum Mill. Ssp. Spontaneum Brezh: Cà chua dại, bao gồm hai
dạng sau.
- L. esculentum var.pimpinellifolium Mill. (Brezh).
- L. esculentum var. racemigenum (Lange), Brezh.
b) L. esculentum Mill. ssp. subspontaneum - cà chua bán hoang dại, gồm 5
dạng sau.
- L. esculentum var.cersiforme (A Gray) Brezh - cà chua anh đào.
- L. esculentum var. pyriforme (C.H. Mull) Brezh - cà chua dạng lê.
- L. esculentum var. pruniforme Brezh - cà chua dạng mận.
- L. esculentum var. elongatum Brezh - cà chua dạng quả dài.
- L. esculentum var. succenturiatum Brezh - cà chua dạng nhiều ô hạt.
c) L. esculentum Mill. ssp. cultum - cà chua trồng, có 3 dạng sau:
- L. esculentum var. vulgare Brezh.
- L. esculentum var. validum (Bailey) Brezh.
- L. esculentum var. grandiflium (Bailey) Brezh.
1.1.3. Giá trị dinh dưỡng
Cà chua là loại rau ăn quả có giá trị dinh dưỡng cao, chứa nhiều gluxit,
nhiều axit hữu cơ và nhiều loại vitamin cần thiết cho cơ thể con người. Theo các
nhà dinh dưỡng hằng ngày mỗi người sử dụng 100g - 200g cà chua sẽ thỏa mãn
nhu cầu các vitamin cần thiết và các chất khoáng chủ yếu.
Không những có giá trị to lớn về mặt dinh dưỡng mà cây cà chua còn có
giá trị trong y học. Theo Kiều Thị Thư (1998), cà chua có vị ngọt, có tác dụng
tạo năng lượng, tăng sức sống, làm cân bằng tế bào, giải nhiệt, chống hoại huyết,
kháng khuẩn, chống độc, hoà tan ure, thải ure, điều hoà bào tiết, giúp tiêu hoá dễ
dàng các loại bột và tinh bột. Dùng ngoài để chữa trứng cá, mụn nhọt, viêm tấy
và trị vết đốt của sâu bọ. Chất tomarin chiết xuất từ lá cà chua khô có tác dụng
kháng khuẩn, chống nấm, diệt một số bệnh hại cây trồng [24].
Trong cà chua còn có chất Lycopen - thành phần tạo nên màu đỏ của quả
cà chua - giúp giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch. Hàm lượng chất này nhiều hay
8
thị trường thế giới năm 1999 là 36,7 tấn trong đó cà chua được dùng ở dạng ăn
tươi chỉ 5-7%. Ở Mỹ (1997) tổng giá trị sản xuất 1ha cà chua cao hơn gấp 4 lần
so với lúa nước, 20 lần so với lúa mì. [4]
Ở Việt Nam mặc dù cà chua mới được trồng khoảng trên 100 năm nay
nhưng nó đã trở thành một loại rau phổ biến và được sử dụng rộng rãi, diện tích
trồng hàng năm biến động từ 12-13 nghìn ha. Theo số liệu điều tra, sản xuất cà
chua ở vùng Đồng bằng sông Hồng cho thu nhập bình quân 100-150 triệu
đồng/ha/vụ, cao gấp 3-4 lần so với trồng lúa.[21]
1.2. Yêu cầu ngoại cảnh
1.2.1. Nhiệt độ
Cà chua thuộc nhóm cây ưa ẩm. Nhiệt độ thích hợp nhất cho nảy mầm là
18,5-21
o
C (Wittwer 1960), còn Thompson (1974) lại cho rằng nhiệt độ tối ưu là
26-32
o
C. Nhiệt độ quá cao sẽ làm chậm sự nảy mầm của hạt, hạt dễ mất sức
sống, mầm bị biến dạng. Cà chua sinh trưởng tốt trong phạm vi nhiệt độ 15-30
o
C,
nhiệt độ tối ưu là 22-24
o
C (Lorenz Maynard 1988). Quá trình quang hợp của lá
cà chua tăng khi nhiệt độ đạt tối ưu 25-30
o
C, khi nhiệt độ cao hơn mức thích hợp
( >35
o
C) quá trình quang hợp sẽ giảm dần.
C (ngày/đêm) cùng
9
với nhiệt độ đất trên 21
o
C làm giảm số hoa trên chùm. Nhiệt độ còn ảnh hưởng
trực tiếp tới sự nở hoa cũng như quá trình thụ phấn thụ tinh. Tỷ lệ đậu quả cao ở
nhiệt độ tối ưu là 18-20
o
C. Khi nhiệt độ ngày tối đa vượt 38
o
C trong vòng 5-9
ngày trước hoặc sau khi hoa nở 1-3 ngày, nhiệt độ đêm tối thấp vượt 25-27
o
C
trong vòng vài ngày trước và sau khi nở hoa đều làm giảm sức sống hạt phấn, đó
chính là nguyên nhân làm giảm năng suất. [29]
Sự hình thành màu sắc quả cũng chịu ảnh hưởng lớn của nhiệt độ. Nhiệt
độ tối ưu để hình thành sắc tố là 18-24
o
C. Quả có màu đỏ - da cam đậm ở 24-
28
o
C do có sự hình thành Lycopen và Caroten dễ dàng. Nhưng khi nhiệt độ ở 30-
36
o
C quả có màu vàng đó là do Lycopen không được hình thành. Khi nhiệt độ lớn
hơn 40
o
C quả giữ nguyên màu xanh bởi vì cơ chế phân huỷ Chlorophyll không
hoạt động, Caroten và Lycopen không được hình thành.
cho cây. Tỉ lệ bón các nguyên tố dinh dưỡng chủ yếu phụ thuộc vào tuổi cây,
giống và điều kiện trồng. Sử dụng phân bón thích hợp sẽ nâng cao sản lượng và
chất lượng quả.
- Đạm: Cà chua yêu cầu đạm nhiều vào thời kì ra hoa và kết quả. Đạm là
nguyên tố dinh dưỡng quan trọng duy trì sự sinh trưởng, hình thành các bộ phận
dinh dưỡng của cây. Trong điều kiện có chế độ chiếu sáng tốt, bón nhiều đạm
làm cho cây sinh trưởng khỏe, mập, có triển vọng cho thu hoạch cao. Nếu trời âm
u, ruộng cà chua không đủ ánh sáng bón nhiều đạm sẽ làm cho cây mọc vóng,
yếu, tỉ lệ đậu quả thấp.
- Lân: Là một trong những thành phần chủ yếu của tế bào và mô cây. Tác
dụng của lân là xúc tiến quả lớn nhanh trong điều kiện cung cấp đạm đầy đủ.
Thời kì đầu sinh trưởng, cây cà chua rất mẫn cảm với thiếu lân trong đất, do vậy
giai đoạn đầu cần phải bón lót cho cây ở dạng dễ tiêu để xúc tiến việc ra rễ đồng
thời tăng khả năng hút nước và chất dinh dưỡng. Cây được bón lót đầy đủ sẽ nở
hoa và chín sớm hơn, chất lượng quả cũng sẽ tốt hơn về lần tăng cường hoạt
động của xitokinin. Thiếu lân, cây đồng hóa đạm yếu, do vậy khi thiếu lân cây có
biểu hiện thiếu đạm, lá có màu xanh tối và thân có màu nâu tím, khi trồng cà
chua cần chú ý bón đầy đủ lân dễ tiêu, hiệu lực của lân tốt khi bón đạm đầy đủ.
11
- Kali: Cần thiết cho quá trình đồng hóa CO
2
để tạo thành gluxit, đồng
thời hạn chế sự phát triển của các loại bệnh hại. Kali cũng giúp cho các tế bào
cứng cáp, làm tăng khả năng cất giữ và vận chuyển, có vai trò quan trọng trong
việc hình thành màu sắc, tăng lượng caroten và giảm lượng clorophin. Khi thiếu
Kali, cây ngừng sinh trưởng, mép lá có vết màu nâu vàng, sau đó cuộn lại và
chết. Bón kali cần kết hợp với việc bón đầy đủ các nguyên tố dinh dưỡng khác.
Cũng như các cây trồng khác cà chua cần ít nhất 20 nguyên tố dinh dưỡng
cho quá trình sinh trưởng phát triển bình thường của nó. Trong các nguyên tố đa
lượng cà chua cần nhiều Kali hơn cả, sau đó là đạm và lân. Cà chua còn yêu cầu
khu vực khác 7%. Tại châu Á, theo thống kê là khu vực trồng nhiều cà chua nhất
(1,19-1,22 triệu ha) và cũng là nơi có sản lượng cao nhất (26,7-28,5 triệu tấn).
Trong đó, Trung Quốc và Ấn Độ là nơi trồng nhiều cà chua nhất, Trung Quốc có
344.000 ha cà chua đứng thứ 3 sau khoai tây, bắp cải; Ấn Độ có 320.000 ha cà
chua đứng thứ 3 sau dưa hấu và măng tre (Lin, Lai 1988). Tuy nhiên Nhật Bản
và Đài Loan là 2 nước đứng đầu về năng suất, Nhật Bản năng suất bình quân
52,4 tấn/ha (Naricawa, 1998), Đài Loan năng suất bình quân là 40 tấn/ha có nơi
đạt đến 100-150 tấn/ha (Lin và cs, 1998).
Tại khu vực Bắc Mỹ và châu Âu năng suất cà chua trung bình đạt được
39-43,6 tấn/ha, một số điển hình năng suất như Hà Lan 37,5 triệu tấn/ha. Tại
những vùng này cà chua được trồng trong nhiệt độ thấp, nhiều diện tích được
trồng trong điều kiện nhân tạo.
Tại châu Phi và châu Á do điều kiện kinh tế thấp, cà chua sản xuất chất
lượng còn chưa cao, năng suất bình quân 20,2-23,3 tấn/ha, được tiêu thụ tại chỗ
là chính. Mức tiêu thụ cà chua bình quân tính theo đầu người trên thế giới
16kg/người/năm. Những nước có mức tiêu thụ cao là Thỗ Nhĩ Kỳ 170kg, Italia
77,8kg, Tây Ban Nha 55,3kg và Mỹ 45kg/người/năm.
Châu Âu luôn là khu vực xuất khẩu cà chua lớn nhất ở tất cả các dạng sản
phẩm (Tươi, đóng hộp, cô đặc ). Xuất khẩu cà chua trên thế giới có sự biến động
rất lớn đặc biệt là cà chua chế biến dạng cô đặc. Giá bán có xu hướng giảm mạnh
trong thời gian gần đây. Năm 1999 xuất khẩu cà chua cô đặc của châu Âu chiếm
tới 56% lượng xuất khẩu của thế giới trong khi đó châu Á chỉ là 24%.
13
Bảng 1.2. Tình hình sản xuất cà chua trên toàn thế giới (từ 2000-2009)
Năm Diện tích (ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (tấn)
2000 4.022.729 273.424 109.991.205
2001 4.014.631 268.856 107.935.873
2002 4.149.475 280.122 116.235.925
2003 4.190.199 284.050 119.022.925
2004 4.497.756 283.370 127.453.248
Ta có thể thấy rằng cà chua được sản xuất chủ yếu ở các nước ôn đới và á
nhiệt đới. Cà chua sản xuất ở Châu Mỹ, Châu Âu thường được chế biến thành
các dạng sản phẩm khác nhau như cà chua đóng hộp, cà chua cô đặc… Xuất
khẩu cà chua cô đặc ở Châu Âu chiếm tới 56% lượng xuất khẩu trên toàn thế
giới. Sản lượng cà chua Châu Á và Châu Phi cao nhưng do chất lượng không
đồng đều nên chủ yếu được tiêu thụ tại chỗ.
1.3.2. Tình hình nghiên cứu cà chua trên thế giới
Lịch sử công tác chọn tạo giống cà chua trên thế giới bắt đầu ở Châu Âu
với những tiến bộ ban đầu về dòng, giống. Năm 1860 những giống cà chua mới
đã được giới thiệu ở Mỹ. Năm 1863, có 23 giống cà chua được giới thiệu, trong
đó giống Trophy được coi là giống có chất lượng tốt nhất.
Chương trình thử nghiệm của Liberti Hyde Bailey tại trường nông nghiệp
Michigan (Mỹ) bắt đầu từ năm 1886, tác giả đã tiến hành chọn lọc, phân loại
giống cà chua trồng trọt. Từ năm 1870 đến 1893, A.W.Livingston đã giới thiệu
13 giống cà chua trồng trọt được giới thiệu theo phương pháp chọn lọc cá thể.
Khoảng hơn 200 năm trước việc chọn tạo giống cà chua trồng riêng cho các
vùng, chọn giống chịu bệnh đã có nhiều tiến bộ. Người Italia là những người đầu
tiên phát triển các giống cà chua mới này. Sau đó người ta chú ý hơn đến việc
chọn giống cà chua theo mục đích sử dụng riêng. Nhìn chung hiện nay hướng
chọn tạo giống cà chua trên thế giới phụ thuộc vào điều kiện khí hậu đất đai của
từng vùng, kỹ thuật canh tác hay nhu cầu chế biến, ăn tươi mà xác định sự đa
dạng trong công tác chọn tạo loại cây trồng này. Những giống cà chua mới phải
có năng suất cao, ổn định, mềm dẻo sinh thái, chống chịu một số bệnh cơ bản của
từng vùng sản xuất. Cuối thế kỷ XIX có trên 200 dòng, giống cà chua đã được
giới thiệu rộng rãi (theo Tạ Thu Cúc, 1985) [3].
Nhiều công trình nghiên cứu của trung tâm nghiên cứu và phát triển rau
15
Châu Á (AVRDC) cho thấy những giống cà chua chọn tạo trong điều kiện ôn đới
không thích hợp với điều kiện nóng ẩm vì sẽ tạo những quả kém chất lượng như có
màu đỏ nhạt, nứt quả, vị nhạt hoặc chua…(Kuo và cs, 1998) [29]. Theo ý kiến của
chúng sống được đến 25 ngày trên những dòng mẫn cảm. Quan sát trên đồng
ruộng người ta thấy có từ 0- 4 hoặc 5-25 con bọ phấn trắng trưởng thành trên
những dòng kháng và dòng mẫn cảm (dẫn theo Nguyễn Văn Hiển, Đỗ Tấn
Dũng , 2004) [11].
Gen có sự ảnh hưởng đến số quả/chùm ở cà chua. Kết quả nghiên cứu chỉ
ra rằng có sự sai khác giữa giá trị trung bình của bố mẹ và con cháu về chỉ tiêu số
quả/chùm hoa, các gen bổ sung ảnh hưởng đến sự di truyền tính trạng trên ở tất
cả các tổ hợp quan sát [14].
Tính dễ rụng quả của giống cũng được các nhà chọn giống quan tâm. Nếu
giống có quả dễ rụng tỷ lệ hao hụt sẽ cao song nếu khó rụng cũng sẽ gây khó
khăn trong quá trình thu hoạch. Một số giống cà chua thu hoạch bằng máy được
chuyển gen không có tầng rời để khi thu hoạch phần cuống không dính vào quả.
Để nghiên cứu được một giống cà chua có chất lượng cao các nhà chọn
giống phải quan tâm đến nhiều yếu tố: hàm lượng chất khô (đường, ux-caroten,
Vitamin C, ), mẫu mã quả (màu sắc, hình dạng, hương vị, ), hàm lượng đường
tự do, hàm lượng axit hữu cơ, tỷ lệ đường/axit,
Nhiều công trình nghiên cứu nhằm làm tăng hàm lượng chất khô tổng số
đối với các giống có năng suất cao đã được thực hiện thông qua việc lai tạo giữa
các loài khác nhau của chi Lycopersicon, Rick đã tạo ra các dòng cà chua mới có
hàm lượng chất khô cao. Tuy nhiên việc chuyển các gen qui định hàm lượng chất
khô cao vào giống có gen qui định tính trạng chịu va đập trong chọn tạo giống
cho thu hoạch bằng máy là việc làm rất khó, đồng thời nghiên cứu cho thấy nếu
lựa chọn yếu tố hàm lượng chất khô cao thì năng suất sẽ giảm và ngược lại do đó
trong chọn giống cần dung hoà được hai yếu tố này [37].
Một trong những lý do liên quan đến sự đối ngược giữa hàm lượng chất
khô và năng suất là do những giống năng suất cao thường có số quả nhiều nên
không đủ khả năng quang hợp để cung cấp chất khô cho quả. Theo Augustin có
sự biến đổi hiệu suất quang hợp giữa các loại gen có mật độ hạt diệp lục trong lá
17
mầm khác nhau. Những giống có số lượng hạt diệp lục cao thì hiệu suất quang
Vitamin C tập trung ở gần vỏ quả, trong mô của ngăn quả điều này cho thấy các
giống quả chắc thường có hàm lượng Vitamin C thấp hơn. Ngoài ra các giống có
quả dài, bộ lá rậm rạp cũng cho quả có hàm lượng Vitamin C thấp hơn.
Vỏ cà chua là chỉ tiêu kinh tế quan trọng đối với các nhà chế biến vì nó
ảnh hưởng đến tỷ lệ thành phẩm. Vỏ quả và hạt chiếm 18-20% khối lượng quả
sau khi bóc. Giống cà chua chế biến cần dễ bóc vỏ, màu vỏ đồng đều, diện tích
phần vỏ mất màu ít. Tuy nhiên thường các giống cà chua dễ bóc vỏ thì quả mềm,
giống cứng quả thì khó bóc vỏ. Để khắc phục tình trạng này nhiều nhà nghiên
cứu đã sử dụng giống có gen dễ bóc vỏ để cải thiện đặc tính này cho các giống
quả cứng nhằm tạo ra giống quả cứng và dễ bóc vỏ.
Màu sắc quả cà chua được tạo nên bởi sự kết hợp của sắc tố đỏ (qui định
bởi gen og) và chất nhuộm màu (qui định bới gen hp). Nếu chỉ có sắc tố đỏ sẽ
tác động bất lợi đến hàm lượng Vitamin A của quả. Người ta đó dựng phộp lai
ngược lại để chọn gen hp ở thời kỳ cây con và og ở thời kỳ nở hoa thông qua
việc xử lý cây con ở nhiệt độ thấp. Sự kết hợp này tạo cho thế hệ con lai bảo vệ
được cả hai gen từ thời kỳ cây con cho tới trước khi trồng. Mặt khác sự kết hợp
giữa hai gen này tạo cho quả cà chua có màu đỏ đẹp, bền. Ngoài ra một số
giống có thân lá phát triển, độ che phủ quả tốt tạo cho quả ít bị biến đổi màu do
ánh sáng mặt trời.
Năm 2003, Trung tâm nghiên cứu và phát triển rau Châu Á (AVRDC) đã
đưa ra giống cà chua màu vàng có hàm lượng Caroten cao gấp 3-6 lần so với
giống cà chua màu đỏ. Ngoài ra giống cà chua này cũng có hàm lượng axit thấp
hơn, độ ngọt tương đương các giống cà chua quả đỏ. Giống cà chua này góp
phần làm giảm tỷ lệ quáng gà, mù cho trẻ em, đặc biệt là trẻ em ở các nước đang
và kém phất triển. Giống cà chua này được trồng phổ biến ở Bangladet và được
đông đão người dân đón nhận [29].
Tỷ lệ giữa độ chắc quả và dịch quả trong ngăn hạt là một trong những chỉ
tiêu để chọn tạo giống cà chua chất lượng cao. Dịch quả là nguồn axit quan trọng
và giúp người sử dụng cảm nhận hương vị của quả cà chua. Stevens cho rằng việc
19
C. Ở nhiệt độ cao (35-50
0
C)
độ hữu dục của hạt phấn giảm đi, làm giảm tỷ lệ đậu quả.
Chọn lọc nhân tạo hạt phấn trên cơ sở đa dạng hoá di truyền của chúng là
một trong những phương pháp chọn giống. Nhiều nghiên cứu cho thấy ở cà chua