BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
******
LÊ THỊ NGỌC ANH
DẠY HỌC PHẦN VĂN HỌC LÃNG MẠN VIỆT NAM
1930- 1945
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGHỆ AN, 5/2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
******
LÊ THỊ NGỌC ANH
DẠY HỌC PHẦN VĂN HỌC LÃNG MẠN VIỆT NAM
1930-1945
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Chuyên ngành : Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Ngữ
văn
Mã số : 60 14 01 11
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐINH TRÍ DŨNG
NGHỆ AN, 5/2014
LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm trân trọng và chân thành, tôi xin được bày tỏ lòng cảm ơn
sâu sắc tới Trường Đại học Vinh, khoa Ngữ văn đã tạo điều kiện cho chúng
tôi được tham gia học tập, nghiên cứu khoa học để nâng cao trình độ.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các giảng viên, các nhà khoa học
đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ chúng tôi trong quá trình học tập cũng như
trong nghiên cứu khoa học. Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS. Đinh
Trí Dũng, người thầy đã tận tâm giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu 4
5. Phương pháp nghiên cứu 4
5.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết 5
5.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn 5
6. Cấu trúc luận văn 5
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 6
1.1. Cơ sở lý luận 6
1.1.1. Một số khái niệm liên quan 6
1.1.2. Những định hướng cơ bản của việc dạy học Ngữ văn hiện nay 10
1.1.3. Đặc trưng của môn Ngữ văn trong nhà trường phổ thông 16
1.1.4. Đặc trưng thẩm mỹ của các trào lưu, khuynh hướng văn học 18
1.2. Cơ sở thực tiễn 22
1.2.1. Chương trình phần VHLM Việt Nam 1930-1945 ở trường THPT 22
Bảng 1.1. Thống kê phần VHLM trong chương trình lớp 11 năm 2000 26
Bảng 1.2. Thống kê phần VHLM trong chương trình lớp 11hiện nay 27
1.2.2. Thuận lợi và khó khăn trong dạy học phần VHLM 1930-1945 30
1.2.3. Tình hình dạy học phần văn học lãng mạn Việt Nam 1930-1945
trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh 32
b.Về hạn chế: 35
Tiểu kết chương 1 36
Trong chương trình Ngữ vănTHPT, phần VHLM Việt Nam 1930-1945 có
một vị trí và ý nghĩa rất quan trọng. Vì thế làm thế nào để dạy học phần
VHLM có hiệu quả là niềm trăn trở đối với nhiều giáo viên dạy Ngữ văn
có tâm huyết và yêu nghề. Để chất lượng dạy học phần VHLM được
nâng cao, trước hết phải nắm vững các khái niệm về chủ nghĩa lãng mạn,
về đặc điểm các khuynh hướng và trào lưu trong văn học Việt Nam 1930-
1945 như trào lưu lãng mạn, trào lưu hiện thực, trào lưu cách mạng
Dạy học VHLM cũng phải gắn với đặc trưng môn Ngữ văn trong nhà
trường phổ thông; với những phương pháp, biện pháp phù hợp cho từng
3.1.2. Yêu cầu thực nghiệm 77
3.1.3. Nội dung thực nghiệm 77
3.1.4. Cách thức thực nghiệm 77
3.2.Tổ chức thực nghiệm 78
3.2.1. Chọn lớp thực nghiệm và lớp đối chứng 78
3.2.2. Giáo án thực nghiệm 78
3.2.3. Dạy thực nghiệm và dạy đối chứng 109
3.3. Đánh giá thực nghiệm 110
3.3.1. Nhận xét quá trình học tập của lớp thực nghiệm 110
3.3.2.Kết quả học tập của lớp thực nghiệm 112
Bảng 3.1. Kết quả trả lời trắc nghiệm – Hai đứa trẻ 112
3.3.3.Đề xuất, kiến nghị 116
KẾT LUẬN 119
TÀI LIỆU THAM KHẢO 122
PHỤ LỤC 1
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
LỜI CẢM ƠN 4
MỤC LỤC 5
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 9
DANH MỤC CÁC BẢNG 10
MỞ ĐẦU 1
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 6
Bảng 1.1. Thống kê phần VHLM trong chương trình lớp 11 năm 2000 26
Bảng 1.2. Thống kê phần VHLM trong chương trình lớp 11hiện nay 27
Chương 2
ĐỊNH HƯỚNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC PHẦN
VĂN HỌC LÃNG MẠN VIỆT NAM 1930-1945 Ở TRƯỜNG THPT 37
Bảng 2.1. Thống kê các thể loại VHLM được giảng dạy trong chương
khó khăn cho người dạy. Nếu không có cách tổ chức học tập tốt, người giáo
viên sẽ làm mất đi vẻ đẹp vốn có của tác phẩm nghệ thuật mà nhà văn công
phu sáng tạo.
Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy ở trường phổ thông 13 năm, tôi đã
trải qua giai đoạn giao thời giữa những phương pháp giảng dạy truyền thống
và đổi mới phương pháp dạy học. Tôi đã có nhiều cố gắng, nỗ lực trong quá
trình đổi mới phương pháp giảng dạy Văn nói chung và giảng dạy văn học
lãng mạn nói riêng song chưa thật hài lòng và thoả mãn. Tôi mong muốn các
tiết dạy văn học lãng mạn của mình phải tốt hơn nữa, xứng đáng với giá trị
của mỗi tác phẩm. Niềm mong mỏi tưởng chừng như đơn giản nhưng thực sự
là bài toán khó đối với tôi.
Vì vậy, chúng tôi quyết định chọn đề tài Dạy học phần văn học lãng
mạn Việt Nam 1930-1945 ở trường THPT làm đề tài cho luận văn thạc sĩ của
mình. Chúng tôi hy vọng công trình nghiên cứu này sẽ phần nào giúp giáo
viên dạy ngữ văn trong trường THPT nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ
văn nói chung và phần văn học lãng mạn nói riêng.
2
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1. Các công trình nghiên cứu về đổi mới phương pháp dạy học văn
Có nhiều bài viết nghiên cứu bản chất các phạm trù lý luận tiếp nhận văn
học, lý luận dạy học, đổi mới phương pháp dạy học. Các công trình nghiên
cứu này đã đưa ra nhiều vấn đề có ý nghĩa quan trọng giúp giáo viên dạy Ngữ
văn trang bị đầy đủ, vững vàng nhiều vấn đề về lý luận và đổi mới phương
pháp dạy học để có thể bắt kịp với xu thế dạy học hiện đại. Trong cuốn Văn
học giáo dục thế kỷ XXI, Phan Trọng Luận đã thể hiện cái nhìn bao quát về
yêu cầu bức thiết của việc đổi mới phương pháp giảng dạy của giáo dục Việt
Nam: “Bước vào thế kỷ XXI, bài toán về phương pháp đào tạo và phương
pháp dạy học cần được tiến hành như một cuộc cách mạng trong giáo dục”.
Cũng trên tinh thần ấy, trong bài viết Đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn,
Trần Đình Sử đã có cái nhìn khách quan, sâu sắc về thực trạng của dạy học
Văn học lãng mạn Việt Nam của Phan Cự Đệ, tác giả đã có cái nhìn bao quát
về văn học lãng mạn Việt Nam 1930-1945. Kể từ khi ra đời đến nay(1981) đã
hơn 30 năm nhưng nó vẫn còn nguyên vẹn ý nghĩa lý luận và thực tiễn đối với
giáo viên Ngữ văn.
Ngoài ra còn có các công trình nghiên cứu và tài liệu viết về việc dạy
văn học lãng mạn Việt Nam 1930-1945 ở trường phổ thông. Điển hình là
công trình Giảng văn văn học lãng mạn 1930-1945 của tác giả Văn Tâm.
Công trình khá đầy đặn, sâu sắc và toàn diện về văn học lãng mạn Việt Nam
1930-1945, góp phần to lớn cho giáo viên và học sinh dạy và học VHLM một
cách hiệu quả. Dạy học VHLM Việt Nam cũng được các nhà khoa học, nhà
giáo quan tâm sâu sắc thể hiện qua số lượng không nhỏ các bài viết trong
Sách giáo viên lớp 11, sách Thiết kế bài dạy lớp 11 hoặc các tài liệu Bồi
dưỡng giáo viên. Trong đó phải kể đến cuốn Giảng văn văn học Việt Nam của
nhóm tác giả Nguyễn Đăng Mạnh – Trần Đăng Suyền…Trên các Tạp chí văn
học , tạp chí Văn học & tuổi trẻ cũng xuất hiện không ít những bài viết về các
tác phẩm văn học lãng mạn trong nhà trường. Ngoài ra còn có các bài viết
xuất hiện gần đây của các tác giả Đinh Trí Dũng, Phan Huy Dũng, Chu Văn
Sơn, Lê Quang Hưng…
4
Từ những vấn đề đã nghiên cứu, công trình của chúng tôi mong muốn
tiếp tục mang tới đến một góc nhìn mới tiếp nối những công trình nghiên cứu
trước đây, góp phần vào việc nâng cao chất lượng giảng dạy môn văn nói
chung, phần văn học lãng mạn nói riêng trong trường phổ thông.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, luận văn hướng đối tượng chủ yếu là thực trạng,
nội dung và phương pháp nâng cao chất lượng việc dạy học văn học lãng mạn
Việt Nam 1930-1945 ở trường THPT.
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài Dạy học phần văn học lãng mạn Việt Nam 1930-1945 ở trường
6. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham khảo, nội dung
chính của Luận văn được triển khai trong 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2. Định hướng, nội dung và phương pháp dạy học phần văn học
lãng mạn Việt Nam 1930-1945 ở trường THPT
Chương 3. Thực nghiệm sư phạm
6
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Một số khái niệm liên quan
1.1.1.1. Chủ nghĩa lãng mạn
Cuộc Đại cách mạng tư sản năm 1789 đánh đổ chế độ phong kiến,
thiết lập chế độ tư sản là một bước ngoặt vĩ đại không những đối với Pháp mà
còn đối với cả châu Âu. Chính Lê – Nin cũng nói: “Cả thế kỷ XIX diễn ra
dưới khẩu hiệu của cách mạng Pháp”. Sự sụp đổ của xã hội phong kiến và sự
kiến lập những quan hệ xã hội mới không thể không tác động sâu xa đến tư
tưởng, tình cảm của mọi tầng lớp xã hội, một mặt đưa lại sự bất mãn cho lớp
người này muốn bảo vệ hay còn luyến tiếc cái cũ, mặt khác không đáp ứng
được sự chờ đợi của lớp người kia. Chính trong bối cảnh lịch sử xã hội ấy,
chủ nghĩa lãng mạn đã ra đời. Các nhà văn lãng mạn tỏ thái độ bất hoà, bất
mãn với hiện thực xã hội bằng sự đắm chìm vào những tình cảm buồn đau
như là một “thứ bệnh thế kỷ”, đồng thời phát huy trí tưởng tượng, tìm đến
những thế giới đầy mộng mơ, hoặc thuộc quá khứ xa xưa, hoặc ở những miền
đất lạ, những xứ sở phương xa, trong đó thiên nhiên cũng như tâm hồn con
người chưa bị cuộc sống đô thị và đồng tiền làm vẩn đục. Đây là thời kỳ ý
thức cá nhân thức tỉnh sâu sắc ở người cầm bút. Tình hình phân hóa của các
giai cấp cũng diễn ra rất phức tạp. Vì thế chủ nghĩa lãng mạn cũng có nhiều
dạng thức và do đó có nhiều cách hiểu khác nhau. Nhiều chuyên gia tỏ ra bất
những buổi chiều tà, những trái tim tan vỡ vì tình yêu tuyệt vọng. Chủ nghĩa
lãng mạn với nội dung ấy tất dẫn đến việc sử dụng rộng rãi các thể văn trữ
tình dù là tiểu thuyết, truyện ngắn hay bút ký, tùy bút, đặc biệt nó phát triển
mạnh mẽ ở thơ trữ tình. Cũng do nội dung ấy nên chủ nghĩa lãng mạn thiên
hướng sáng tạo những hình tượng khác thường, có tính biệt lệ, sử dụng rộng
rãi bút pháp đối lập để kích thích mạnh vào tình cảm, cảm xúc và trí tưởng
tượng của người đọc: đối lập giữa ánh sáng và bóng tối, cái đẹp và cái thô
kệch, cái cao cả và cái thấp hèn.
8
Trên thế giới, chủ nghĩa lãng mạn ra đời sớm nhất và phát triển rực
rỡ nhất là ở Pháp với hàng loạt những tên tuổi lớn như: Victor Hugo, Musset,
Vigny, Gautier, Rimbaud, Mallarmé Thành tựu rực rỡ của văn học lãng mạn
đã mang đến một diện mạo mới, một giá trị mới cho văn học nhân loại.
1.1.1.2. Chủ nghĩa lãng mạn trong văn học Việt Nam giai đoạn
1930-1945
Ở Việt Nam, chủ nghĩa lãng mạn đã có mầm mống từ cuối thế kỷ XIX
với thơ, văn, từ khúc của Chu Mạnh Trinh, Dương Khuê, Đào Tấn…Đến đầu
thế kỷ XX, chủ nghĩa lãng mạn thể hiện đầy đủ đặc trưng của nó trong thơ
Tản Đà và văn Hoàng Ngọc Phách. Trước đó, tuy có một số sáng tác nhỏ
mang tính lãng mạn nhưng còn tản mác, rời rạc, chưa tạo thành phong
trào. Từ năm 1931 đã có sự xuất hiện vài bài thơ lãng mạn của Lan Sơn, Lưu
Trọng Lư, Thế Lữ. Tác phẩm lãng mạn xuất bản trước 1932 có tập thơ Khối
tình con của Tản Đà , Linh Phượng ký của Đông Hồ và hai quyển gây được
ảnh hưởng một thời gian là Tố Tâm của Song An Hoàng Ngọc Phách và Giọt
lệ thu của Tương Phố. Nhưng phải chờ tới khi Nhất Linh xuất hiện cùng với
sự ra đời của nhóm Tự lực văn đoàn hô hào thay cũ đổi mới và dấy lên phong
trào thơ mới thì trào lưu văn chương lãng mạn mới thực sự có mặt trong dòng
văn học Việt Nam. Hai tờ báo Phong hóa và Phụ nữ tân văn đã góp công
không nhỏ vào việc giúp cho phong trào thơ mới nở rộ bằng những bài thơ
lãng mạn của các nhà thơ không cộng tác với nhóm Tự lực văn đoàn.
bản ngã, khát vọng tự do yêu đương cho hạnh phúc và quyền sống cá nhân.
Điều này giải thích được quan điểm mỹ học nghệ thuật vị nghệ thuật của
những người trong trào lưu văn chương lãng mạn thuộc giai đoạn 1932-1945
của văn học Việt Nam.
Trong văn học 1930-1945, so với trào lưu hiện thực, trào lưu lãng mạn
chịu đựng sóng gió dư luận nhiều hơn và nhiều lúc bị đánh giá khá bất công.
Tuy vậy, VHLM Việt Nam 1930-1945 đã phát triển rất mạnh mẽ, đạt
nhiều thành tựu. Từ năm 1932 đến năm 1935 đã nổ ra hàng loạt các cuộc
tranh luận văn học sôi nổi được tham gia của nhiều tờ báo và các nhà văn, nhà
thơ như: tranh luận về thơ mới thơ cũ, bỏ cũ theo mới, hôn nhân và gia đình,
10
tranh luận về nghệ thuật phục vụ cái gì…Các cuộc tranh luận này phản ảnh
cuộc đấu tranh giữa lễ giáo phong kiến với tự do cá nhân, giữa khuôn sáo và
tư tưởng gò bó với cảm xúc cá nhân được tự do bày tỏ. Hai tờ Phong hóa và
Ngày nay do Nhất Linh và nhóm Tự lực văn đoàn chủ trương là cơ quan ngôn
luận cổ vũ mạnh mẽ cho sự thay cũ đổi mới. Đây cũng là nơi qui tụ văn
chương của các nhà văn, nhà thơ trong trào lưu VHLM như Nhất Linh, Khái
Hưng, Thế Lữ, Huy Cận, Thạch Lam…Sự thành công của trào lưu văn
chương lãng mạn cũng phải kể đến các tờ Hà Nội báo, Tiểu thuyết thứ bảy,
Phổ thông Bán nguyệt san, Tao đàn, Thanh Nghị với sự tham gia của các tác
giả như Lưu Trọng Lư, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Phạm Huy Thông, Bích
Khê, Nguyễn Tuân, Vũ Hoàng Chương, Nguyễn Xuân Sanh… Sự toàn thắng
của phong trào thơ mới cũng là tiếng trống khải hoàn cho trào lưu văn học
lãng mạn, chấm dứt hoàn toàn lối thơ văn cũ từ thời Đông Dương tạp chí và
Nam Phong trở về trước.
1.1.2. Những định hướng cơ bản của việc dạy học Ngữ văn hiện nay
1.1.2.1. Dạy học Ngữ văn là một khoa học
a. Phương pháp dạy học
Thuật ngữ phương pháp trong tiếng Hy Lạp là “Méthodos” có nghĩa là
con đường, cách thức hoạt động nhằm đạt được mục đích nhất định. Vì vậy,
đích của mình và thực hiện hệ thống hành động với phương tiện mà họ có
nhằm lĩnh hội nội dung dạy học.
b. Phương pháp dạy học Văn
Với tư cách là một khoa học ở Việt Nam, phương pháp dạy học Văn mới
chỉ xuất hiện và phát triển khoảng năm mươi năm trở lại đây. Phương pháp
dạy học Văn là một khoa học nghiên cứu những đặc điểm và quy luật của quá
trình dạy học văn trong nhà trường. Quá trình này bao gồm quá trình dạy của
giáo viên và học của học sinh. Đây cũng là quá trình phức tạp bao gồm quá
trình ngôn ngữ, văn học, tâm lí sư phạm. Ba yếu tố tạo thành hoạt động dạy
học văn là giáo viên, học sinh và bài văn. Có thể nói một cách đơn giản
phương pháp dạy học văn phải giải đáp ba câu hỏi cơ bản: Môn văn là gì?
12
Dạy học văn để làm gì?( nhiệm vụ môn văn)Dạy học văn như thế nào?
(nguyên tắc, phương pháp dạy học văn). Như vậy, phương pháp dạy học văn
không chỉ quan tâm nghiên cứu các tác phẩm văn chương mà quan trọng hơn
phải tìm hiểu dạy học văn để làm gì? Khoa học về phương pháp dạy học văn
vừa phải đi sâu tìm hiểu bản chất của văn học, vừa phải khám phá sức mạnh
tác động xã hội thẩm mỹ đến nhân cách học sinh. Phương pháp dạy học văn
phải dựa trên những nguyên tắc chung của lý luận dạy học:
Trước hết phải dạy học theo đặc trưng bộ môn. Nói đến môn văn điều
đầu tiên người ta quan tâm đến là tính chất văn, nghệ thuật ngôn từ, hình
tượng nghệ thuật, cảm xúc thẩm mĩ…mà các môn khoa học khác không có
được. Bởi thế người thầy phải là những kỹ sư tâm hồn, là nghệ sĩ, là nhà
khoa học. Dạy học văn không thể theo công thức máy móc mà phải bám sát
với đặc trưng của bộ môn. Chỉ khi ấy mục đích của việc dạy học văn mới đạt
mức cao nhất.
Bên cạnh đó phải phát huy chủ thể trong quá trình dạy học văn. Không
có sự vận động của chủ thể thì mọi hoạt động của giáo viên sẽ trở thành áp
đặt. Những năng lực chủ quan của học sinh có được phát huy thực sự thì việc
chiếm lĩnh tri thức, việc thưởng thức tác phẩm, hứng thú học tập thực sự mới
trên báo chí, trong các công trình nghiên cứu của cả những người trong và
ngoài nghề từ những năm 70 thế kỷ trước. Nhưng có thể khẳng định rằng, cho
đến nay vẫn chưa có sự đồng thuận cao của những người đứng đầu về phương
pháp dạy học văn.
Từ năm 1973, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã đặt ra vấn đề đổi mới dạy
học văn trong trường phổ thông: “Hiện nay trong nhà trường phổ thông chúng
ta có hiện tượng dạy văn theo điệu “sáo”…nghĩa là cho học sinh học nhiều,
yêu cầu học sinh nhớ nhiều để bắt chước và như vậy gọi là “làm văn”. Học
sinh học nhiều, nhớ nhiều là điều đáng khuyến khích nhưng không phải là
điều chủ yếu. Điều chủ yếu là dạy suy nghĩ, dạy sáng tạo…Dứt khoát chúng
ta đã có cách dạy khác, phải dạy cho học sinh biết suy nghĩ, suy nghĩ bằng trí
óc của mình và diễn tả suy nghĩ ấy của mình như thế nào cho tốt nhất…”( Tạp
chí Nghiên cứu giáo dục số 28, 1973). Kể từ đó, trong trường phổ thông bắt
14
đầu có dấu hiệu thay đổi phương pháp dạy học văn theo hướng nói trên.
Nhưng quá trình đổi mới diễn ra chậm chạp, không có những bước đột phá.
Đầu thế kỷ XX, trong cuốn Chương trình giáo dục phổ thông – môn Ngữ văn
ban hành tháng 5/2006 có ghi rõ: “ …để thực hiện tư tưởng dạy học tập trung
vào người học, phát huy tính tích cực chủ động của học sinh trong học tập,
chương trình coi trọng phương pháp tổ chức học tập phù hợp với đặc trưng bộ
môn với độ tuổi học sinh…Ở THPT…hoạt động học tập mang tính nghiên
cứu bước đầu được vận dụng nhằm phát triển năng lực tự học và tư duy sáng
tạo của học sinh…”[49] Như vậy đổi mới phương pháp dạy học văn thực sự
đã trở thành một yêu cầu tất yếu gắn với đổi mới về giáo dục.
Tuy nhiên đổi mới phương pháp dạy dạy học văn như thế nào chưa bao
giờ là một câu hỏi dễ dàng. Thậm chí nó còn gây ra nhiều cuộc tranh cãi về
quan điểm. Nhà giáo Phạm Toàn – một nhà giáo có nhiều tâm huyết với việc
đổi mới dạy học văn đã cho rằng: “Môn Ngữ văn đang bị dạy sai vì người
chủ biên bộ sách Ngữ văn THPT nâng cao đã có sự nhầm lẫn, “đọc hiểu” là
một khái niệm dùng cho học ngôn ngữ. Còn học văn chính là một môn nghệ