BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
MAI THỊ HOÀI THƢƠNG
NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN
CHÍNH SÁCH CỔ TỨC CỦA CÁC DOANH NGHIỆP
NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN
VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kế toán
Mã số: 60.34.30 LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Đoàn Ngọc Phi Anh Đà Nẵng – Năm 2015
LỜI CAM ĐOAN
1.2. CÁC LÝ THUYẾT VỀ CHÍNH SÁCH CỔ TỨC 18
1.2.1. Lý thuyết chính sách cổ tức không tƣơng thích (Dividend
Irrelevance Hypothesis) 19
1.2.2. Lý thuyết chính sách cổ tức tiền mặt cao (Bird – in – the – hand
Hypothesis) - BIHH 20
1.2.3. Lý thuyết Chi phí đại diện và dòng tiền tự do của chính sách cổ tức
(The Agency Cost & Free Cash Flow Hypothesis) 22
1.2.4. Lý thuyết tín hiệu (Signalling Hypothesis) 23
1.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN CHÍNH SÁCH CỔ TỨC CỦA
DOANH NGHIỆP 24
1.3.1. Chính sách chi trả cổ tức của doanh nghiệp năm trƣớc 24
1.3.2. Lợi nhuận 25
1.3.3. Tốc độ tăng trƣởng 25
1.3.4. Quy mô 26
1.3.5. Sở hữu nhà nƣớc 27
1.3.6. Đòn bẩy nợ 27
1.3.7. Lƣu chuyển tiền thuần trong năm 28
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 29
CHƢƠNG 2: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 30
2.1. GIỚI THIỆU VỀ THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 30
2.2. CÁC GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 38
2.2.1. Tỷ lệ cổ tức năm trƣớc 40
2.2.2. Lợi nhuận 40
2.2.3. Tốc độ tăng doanh thu 41
2.2.4. Quy mô 41
2.2.5. Sở hữu nhà nƣớc 42
2.2.6. Đòn bẩy nợ 42
4.3. HÀM Ý CHÍNH SÁCH 77
4.3.1. Duy trì ổn định chính sách cổ tức 77
4.3.2. Cân đối giữa lợi ích cổ đông và cơ hội đầu tƣ của doanh nghiệp . 78
4.4. NHỮNG HẠN CHẾ VÀ HƢỚNG PHÁT TRIỂN CỦA ĐỀ TÀI 81
KẾT LUẬN 83
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI (Bản sao)
PHỤ LỤC DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
bảng
Tên bảng
Trang
2.1
Thống kê các tiêu chí cơ bản của thị trƣờng chứng khoán
Việt Nam sau 14 năm hoạt động
37
2.2
Tóm tắt kết quả của một só nghiên cứu đã đƣợc thực
hiện trƣớc đây
39
2.3
Kỳ vọng về sự ảnh hƣởng của các nhân tố đến chính sách
cổ tức
44
3.10
Chọn lọc các biến (đƣa vào/loại ra)
64
3.11
Các biến bị loại bỏ
65
3.12
Tóm tắt các mô hình theo phƣơng pháp Stepwise
66
3.13
Phân tích ANOVA
67
3.14
Kết quả hồi quy tác động của các biến độc lập đến Tỷ lệ
cổ tức
68
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quyết định chính sách cổ tức đƣợc coi là một quyết định quan trọng của
quản lý tài chính. Chính sách cổ tức là một vấn đề trọng tâm trong các nghiên
cứu tài chính từ khi công ty cổ phần ra đời. Các nhà nghiên cứu đã cố gắng để
giải quyết một số vấn đề liên quan đến cổ tức, xây dựng lý thuyết và mô hình
để giải thích hành vi cổ tức của các công ty. Mặc dù có nhiều nghiên cứu
đƣợc tiến hành nhƣng vấn đề các yếu tố ảnh hƣởng đến chính sách cổ tức vẫn
còn nhiều tranh cãi. Các nhà nghiên cứu chủ yếu tập trung vào các thị trƣờng
phát triển do đó không thể áp dụng hoàn toàn các mô hình đã đƣợc xây dựng
trƣớc đó cho một nƣớc đang phát triển và có thị trƣờng chứng khoán còn non
các doanh nghiệp niêm yết.
- Những nhân tố đó tác động nhƣ thế nào đến chính sách cổ tức của các
công ty cổ phần.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu.
- Đối tƣợng nghiên cứu
Chính sách cổ tức của các công ty cổ phần niêm yết trên thị trƣờng
chứng khoán Việt Nam, loại trừ các công ty thuộc nhóm ngành tài chính –
ngân hàng, vì đây là những công ty có đặc điểm hoạt động kinh doanh rất
khác biệt.
- Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu chính sách cổ tức và các nhân tố tác động đến chính
sách cổ tức của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Việt
Nam (bao gồm Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh – HOSE và
Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội – HNX) trong khoảng thời gian 5 năm, từ
năm 2009 đến năm 2013. Số liệu đƣợc thu thập từ Báo cáo tài chính và Thông
3
báo chi trả cổ tức của các công ty trên trang web của doanh nghiệp và website
, , .
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Trình tự nghiên cứu:
Đầu tiên, tác giả tìm hiểu và tổng hợp các lý thuyết có liên quan và các
nghiên cứu đã đƣợc thực hiện trƣớc đó cả ở trong nƣớc và trên thế giới. Tiếp
theo, tác giả tiến hành lựa chọn các công ty niêm yết trong mẫu nghiên cứu,
thu thập BCTC và Thông báo chi trả cổ tức của các công ty trong mẫu. Sau
đó, xác định các nhân tố tác động đến chính sách cổ tức, đặt giả thuyết nghiên
cứu. Cuối cùng, tiến hành hồi quy, kiểm định các giả thuyết, rút ra kết luận
về vấn đề nghiên cứu.
- Phƣơng pháp chọn mẫu
Các công ty đƣợc chọn nghiên cứu phải thỏa mãn các điều kiện sau:
Chƣơng 4: Thảo luận kết quả và hàm ý chính sách.
8. Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Mặc dù có rất nhiều nghiên cứu của các học giả khác nhau đã tiến hành
các cuộc khảo sát nhằm tìm ra các yếu tố quyết định chính sách cổ tức của
doanh nghiệp nhƣng tất cả vẫn chƣa đi đến một kết quả chung. Những nỗ lực
sớm nhất để giải thích hành vi cổ tức của các công ty đã đƣợc John Lintner
thực hiện năm 1956, ông cố gắng phát triển một mô hình toán học nhỏ gọn để
mô tả quá trình ra quyết định chia cổ tức.
D
t
= β
0
+ β
1
P
t
+ β
2
D
t-1
+ e
t
với D
t
và D
t-1
là cổ tức chi trả năm t và t-1, P
t
là lợi nhuận sau thuế năm t.
t
+ β
2
D
t-1
+ e
t
Ahmed và Attiya (2009) đã phân tích các yếu tố quyết định chính sách
cổ tức trong nền kinh tế mới nổi Pakistan bằng cách sử dụng dữ liệu của 320
công ty niêm yết tại KSE từ năm 2001-2006. Đầu tiên, họ đã phân tích mô
hình của Lintner và tìm thấy rằng các công ty Pakistan chủ yếu dựa vào thu
nhập hiện tại và cổ tức trong quá khứ để điều chỉnh chính sách chi trả cổ tức
của họ. Tiếp đó, Ahmed và Attiya tiến hành phân tích các yếu tố quyết định
chính sách chi trả cổ tức và nhận thấy các công ty có lợi nhuận ròng ổn định
6
sẽ chi trả cổ tức nhiều hơn. Hơn nữa, nghiên cứu này cũng chỉ ra mức độ sở
hữu và tính thanh khoản của thị trƣờng có quan hệ cùng chiều với tỷ lệ chi trả
cổ tức nhƣng tăng trƣởng doanh thu lại không ảnh hƣởng đến cổ tức chi trả và
quy mô công ty có mối tƣơng quan nghịch đến việc chi trả cổ tức.
He và Li (2009) đã nghiên cứu dữ liệu của các công ty niêm yết trên thị
trƣờng chứng khoán Trung Quốc từ năm 2003 đến 2007 để kiểm tra các yếu
tố ảnh hƣởng đến chính sách chi trả cổ tức của công ty. Trên cơ sở nghiên cứu
này, họ đã kết luận rằng các đặc trƣng của cơ cấu tổ chức là yếu tố quan trọng
nhất ảnh hƣởng đến chính sách cổ tức. Họ nhận thấy lợi nhuận, đòn bẩy tài
chính, tỷ lệ nắm giữ tiền mặt có ảnh hƣởng đến việc chi trả cổ tức của các
công ty cổ phần.
Sim và Appannan (2011) đã thực hiện khảo sát, kiểm tra các yếu tố
chính quyết định sự thanh toán cổ tức tại các công ty niêm yết của Malaysia
đến sự tác động của các nhân tố nhƣ chính sách cổ tức trong quá khứ, lợi
nhuận, ở các nƣớc phát triển hay đang phát triển thì hai nhân tố này cũng có
ảnh hƣởng rất lớn đến chính sách cổ tức. Còn các nhân tố khác nhƣ Tốc độ
tăng trƣởng, Quy mô doanh nghiệp, Tính thanh khoản, Đòn bẩy tài chính có
mức độ ảnh hƣởng khác nhau trong các nghiên cứu khác nhau.
Ở Việt Nam chƣa có nhiều nghiên cứu bàn về chính sách cổ tức, chƣa có
một mô hình thống nhất để giải thích hành vi chi trả cổ tức của các doanh
nghiệp. Kế thừa những đóng góp của các nghiên cứu trƣớc, đề tài tập trung
xem xét ảnh hƣởng của các nhân tố đó trong nền kinh tế Việt Nam, thông qua
các doanh nghiệp niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán.
8
CHƢƠNG 1
CHÍNH SÁCH CỔ TỨC VÀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG
ĐẾN CHÍNH SÁCH CỔ TỨC CỦA DOANH NGHIỆP
1.1. TỔNG QUAN VỀ CỔ TỨC VÀ CHÍNH SÁCH CỔ TỨC
1.1.1. Các khái niệm
- Cổ tức (Dividend)
Cổ tức cổ phần hay lợi tức cổ phần là một phần lợi nhuận sau thuế đƣợc
công ty cổ phần chia cho các chủ sở hữu bằng nhiều hình thức khác nhau nhƣ
tiền mặt, cổ phần hoặc tài sản khác. Cổ tức gồm có cổ tức dành cho cổ phần
ƣu đãi và cổ tức dành cho cổ phần thƣờng. Cổ tức trả cho cổ phần ƣu đãi là
một mức hay một tỷ lệ cố định theo các điều kiện áp dụng riêng cho mỗi loại
cổ phần ƣu đãi. Cổ tức trả cho cổ phần thƣờng đƣợc xác định căn cứ vào lợi
nhuận ròng còn lại sau khi đã trích lợi nhuận giữ lại để tái đầu tƣ, phát triển
công việc kinh doanh [31].
Nguồn gốc của chi trả cổ tức bắt đầu từ chi trả các khoản vốn góp mà
mỗi thành viên đã tham gia góp và chi trả lợi nhuận, các khoản thu từ thanh lý
tài sản cho những ngƣời có quyền yêu cầu. Tuy nhiên, hình thức chi trả các
khoản vốn đã góp không đem lại hiệu quả nên việc chi trả cổ tức chuyển sang
thƣờng ƣa thích một quá trình tăng trƣởng của cổ tức một cách ổn định. Vì thế
có thể việc tái đầu tƣ đem lại thu nhập cao nhƣng các nhà quản lý cũng chỉ
tăng tỷ lệ cổ tức lên một phần nào đó, thấp hơn nhiều so với mức tăng lợi
nhuận của công ty. Vì nhà quản lý có tâm lý chờ đợi để xem việc tăng lợi
nhuận có tỏ ra bền vững hay không trƣớc khi điều chỉnh tăng cổ tức. Những
công ty theo đuổi mô hình chính sách ổn định cổ tức thƣờng vì những lợi ích
chủ yếu sau. Thứ nhất, thực hiện chính sách cổ tức có thể làm tăng giá cổ
10
phiếu của công ty trên thị trƣờng. Bởi vì, các nhà đầu tƣ thƣờng có khuynh
hƣớng đánh giá cao hơn số cổ tức mà họ chắc chắn nhận đƣợc. Nếu cổ tức
tăng giảm thất thƣờng các nhà đầu tƣ xem nhƣ có nhiều rủi ro. Điều đó có
nghĩa là cùng một mức cổ tức nhƣ nhau nhƣng nhà đầu tƣ sẽ trả giá cao hơn
cho cổ phiếu của công ty có mức trả cổ tức ổn định hơn. Thứ hai, thực hiện ổn
định cổ tức sẽ ổn định thành phần cổ đông của công ty, tạo điều kiện cho việc
quản lý công ty. Ở nhiều nƣớc, phần lớn cổ đông sống bằng thu nhập nhận
đƣợc dƣới hình thức cổ tức, do vậy, nếu cổ tức của một công ty bị dao động
thất thƣờng thì nhiều cổ đông sẽ chuyển qua mua loại chứng khoán có thu
nhập cổ tức ổn định hơn.
Mô hình chính sách thặng dƣ cổ tức theo đuổi mục tiêu tăng trƣởng cổ
tức thông qua cách công ty thực hiện chi trả cổ tức sau khi đã đáp ứng các nhu
cầu dòng tiền mặt có sẵn trong công ty để đầu tƣ và duy trì đƣợc tỷ lệ cơ cấu
vốn mục tiêu của công ty. Cơ sở của mô hình thặng dƣ cổ tức là nếu công ty
có nhiều cơ hội đầu tƣ có lãi và không mong muốn phải huy động vốn từ việc
phát hành mới cổ phiếu hoặc trái phiếu có chi phí vốn cao, công ty sẽ lựa
chọn nguồn vốn bên trong từ lợi nhuận giữ lại để tái đầu tƣ. Phần còn lại mới
dùng để chi trả cổ tức. Tuy nhiên, nếu có sự cam kết chắc chắn về tỷ lệ chi
trả, nhiều cổ đông lại ƣu tiên thích tỷ lệ giữ lại lợi nhuận cao để tái đầu tƣ hơn
là chia cổ tức nếu nhƣ mức thu nhập mà công ty đạt đƣợc do đầu tƣ cao hơn
mức thu nhập mà chính các nhà đầu tƣ có thể thu về đƣợc nếu đầu tƣ ở chỗ
Thứ nhất, chính sách cổ tức ảnh hƣởng trực tiếp đến lợi ích của các cổ
đông, cổ tức cung cấp cho cổ đông một lợi nhuận thƣờng xuyên khi họ đầu tƣ
vào công ty. Do vậy, việc công ty có duy trì trả cổ tức ổn định hay không ổn
định, đều đặn hay thay đổi thất thƣờng đều làm ảnh hƣởng đến tâm lý của nhà
đầu tƣ, do đó nó có thể dẫn đến những biến động về giá cổ phiếu của công ty
12
trên thị trƣờng.
Thứ hai, chính sách cổ tức ảnh hƣởng đến chính sách tài trợ của công ty.
Thông qua việc quyết định chính sách cổ tức mà công ty cũng quyết định luôn
chính sách tài trợ, vì lợi nhuận giữ lại là một nguồn tài trợ quan trọng cho vốn
kinh doanh của công ty. Nên từ đó chính sách cổ tức ảnh hƣởng đến chi phí
sử dụng vốn của doanh nghiệp. Ngoài ra, nếu chi trả cổ tức thì các doanh
nghiệp tìm kiếm nguồn tài trợ thiếu hụt do lợi nhuận giữ lại ít bằng việc huy
động vốn từ bên ngoài với nhiều thủ tục phức tạp và tốn nhiều chi phí hơn.
Thứ ba, chính sách cổ tức ảnh hƣởng tới chính sách đầu tƣ của công ty.
Với nguồn tài trợ có chi phí sử dụng vốn thấp từ lợi nhuận giữ lại, doanh
nghiệp có thể linh hoạt lựa chọn đầu tƣ vào các dự án có tỷ suất sinh lời cao.
Nhƣ vậy lợi nhuận giữ lại có thể kích thích tăng trƣởng lợi nhuận trong tƣơng
lai.
Để đo lƣờng chính sách cổ tức, ngƣời ta thƣờng sử dụng các tỷ số sau:
a. Cổ tức mỗi cổ phần thường
Cổ tức một cổ phần là chỉ tiêu phản ánh mức thu nhập thực tế mà mỗi cổ
phần đƣợc hƣởng từ kết quả hoạt động kinh doanh. Cổ tức mỗi cổ phần đƣợc
tính nhƣ sau:
Cổ tức mỗi cổ phần (DIV) =
Tổng cổ tức chi trả
Tổng số cổ phần
Tỷ lệ chi trả cổ tức tính trên mệnh
đầu tƣ chiến lƣợc. Nhà đầu tƣ chiến lƣợc luôn có xu hƣớng nắm giữ lâu dài cổ
phiếu và sẵn sàng hi sinh lợi nhuận ban đầu (cổ tức) để dành vốn đầu tƣ phát
triển kinh doanh và hƣởng những giá trị nâng cao trong trƣơng lai. Những nhà
đầu tƣ dạng này rất quan tâm đến việc doanh nghiệp đã giữ lại bao nhiêu lợi
nhuận để đầu tƣ phát triển doanh nghiệp. Trong khi đó các nhà đầu tƣ ngắn
hạn lại không quan tâm lắm đến tỷ lệ cổ tức trên thu nhập mỗi cổ phần, cái họ
hƣớng tới chính là thu nhập họ nhận đƣợc khi bỏ ra một đồng vốn đầu tƣ vào
cổ phiếu của công ty, và tỷ suất cổ tức đƣợc sử dụng để xem xét vấn đề này.
c. Tỷ suất cổ tức (Dividend Yied)
Tỷ suất cổ tức phản ánh tỷ lệ giữa cổ tức và giá thị trƣờng của cổ phiếu,
14
hay tỷ lệ cổ tức mà nhà đầu tƣ nhận đƣợc so với số tiền mà họ phải bỏ ra để
mua cổ phiếu đó.
Tỷ suất cổ tức (DY)
=
Cổ tức mỗi cổ phần
Giá thị trường mỗi cổ phần
Trong công thức trên, tùy theo nhu cầu đo lƣờng khác nhau mà sử dụng
giá thị trƣờng mỗi cổ phần ở các thời điểm khác nhau, hoặc khác với thời
điểm thông báo chia cổ tức.
Thu nhập của nhà đầu tƣ gồm hai phần là cổ tức và chênh lệch giá do
chuyển nhƣợng cổ phần. Tỷ suất cổ tức là tỷ suất sinh lợi của nhà đầu tƣ chỉ
tính riêng cho thu nhập từ cổ tức khi nhà đầu tƣ mua cổ phần tại một mức giá
thị trƣờng nào đó, nghĩa là tỷ suất cổ tức phản ánh nhà đầu tƣ sẽ nhận đƣợc
bao nhiêu đồng cổ tức từ một đồng đầu tƣ vào cổ phiếu tại mức giá thị trƣờng.
Tỷ suất cổ tức ở mức cao hay thấp chƣa hẳn đã phản ánh đƣợc công ty có chi
trả cổ tức cao hay thấp không, vì tỷ suất cổ tức còn phụ thuộc vào giá cổ
phiếu trên thị trƣờng.
1.1.3. Quá trình trả cổ tức
Thông thƣờng có 3 phƣơng thức chi trả cổ tức cơ bản là: cổ tức bằng tiền
mặt, cổ tức bằng cổ phiếu, cổ tức bằng tài sản khác theo quy định tại doanh
nghiệp. Trong đó, phƣơng thức chi trả cổ tức bằng tiền mặt là phổ biến nhất.
a. Phương thức chi trả cổ tức bằng tiền mặt
Cổ tức tiền mặt là dạng cổ tức mà công ty lấy ra từ lợi nhuận ròng có
đƣợc chia cho cổ đông dƣới dạng tiền mặt (hoặc chuyển khoản). Cổ tức tiền
mặt đƣợc chi trả tính trên cơ sở mỗi cổ phiếu, đƣợc tính bằng phần trăm mệnh
giá. Đây là hình thức đƣợc nhiều công ty sử dụng .
Ƣu điểm:
- Cổ tức tiền mặt có tính thanh khoản rất cao.
16
- Có thể phát tín hiệu tốt cho thị trƣờng, vì các công ty chi trả cổ tức
bằng tiền mặt thì chứng tỏ khả năng thanh toán của công ty rất tốt.
- Việc chi trả cổ tức bằng tiền mặt có thể khẳng định khả năng quản lý
tốt của ban điều hành doanh nghiệp.
- Khi giá cổ phiếu thấp, việc thanh toán cổ tức bằng tiền mặt sẽ hỗ trợ
tính thanh khoản cho cổ phiếu, giúp công ty giữ chân cổ đông, nhất là các cổ
đông lớn.
- Cổ tức chia cho cổ đông chịu thuế suất thuế TNCN là 5%, tƣơng đối
thấp (theo TT111/2013/TT-BTC).
- Thuận lợi cho cổ đông trong việc sử dụng vào các mục đích có tính
chất tiêu dùng cá nhân.
- Thủ tục chi trả nhanh chóng, đơn giản.
Nhƣợc điểm:
- Lƣợng tiền của công ty bị giảm do dùng tiền mặt chi trả cổ tức, và đe
dọa đến khả năng thanh toán của công ty.
Trong bối cảnh thị trƣờng chứng khoán thiếu sôi động, không có sự tăng
trƣởng về giá giữa các loại cổ phiếu thì việc chi trả cổ tức bằng tiền mặt là
một yếu tố hấp dẫn đối với các nhà đầu tƣ.
- Cá nhân nhận cổ tức bằng cổ phiếu chƣa phải chịu thuế TNCN (theo
TT 111/2013/TT-BTC).
- Giúp nhà đầu tƣ ngắn hạn có thể hƣởng lợi từ phần chênh lệch khi giá
cổ phiếu tăng.
Nhược điểm:
- Làm pha loãng quyền điều hành do tỷ lệ sở hữu cổ phần thay đổi.
- Phát sinh chi phí phát hành cổ phiếu mới.
- Tạo áp lực cho việc chi trả cổ tức trong tƣơng lai.
18
- Phƣơng thức này khó có thể duy trì một cách liên tục.
c. Phương thức chi trả cổ tức bằng tài sản khác
Ngoài hai phƣơng thức trên thì doanh nghiệp cũng có thể có cách chi trả
cổ tức khác ngoài tiền mặt và cổ phiếu. Đó là trả cổ tức bằng tài sản khác nhƣ:
trái phiếu hoặc chứng khoán khác của công ty hay thậm chí có thể là tài sản
cố định của chính công ty. Thông thƣờng các doanh nghiệp chỉ thực hiện
phƣơng thức này khi doanh nghiệp gặp khó khăn về tiền mặt. Trên thực tế
phƣơng thức này rất hiếm gặp.
Ưu điểm:
- Hình thức này đƣợc sử dụng khi công ty không thể trả cổ tức cho cổ
đông bằng các phƣơng thức khác.
Nhược điểm:
- Giảm các khoản đầu tƣ của công ty, hàng hóa, bất động sản… Khi lựa
chọn hình thức trả cổ tức này thì cũng đồng nghĩa với việc công ty tuyên bố
tình trạng kinh doanh vô cùng khó khăn của mình ra bên ngoài dẫn đến giảm
uy tín kéo theo giá cổ phiếu của công ty sụt giảm.
1.2. CÁC LÝ THUYẾT VỀ CHÍNH SÁCH CỔ TỨC
Mặc dù, có rất nhiều những nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm về
chính sách cổ tức, đặc biệt là sau khi Lý thuyết Chính sách cổ tức không
tƣơng thích (Dividend Irrelevance Hypothesis) của Miller và Modigliani
Miller và Modigliani lập luận rằng chính sách cổ tức không tác động tới giá
trị doanh nghiệp mà dòng tiền trong tƣơng lai từ hoạt động đầu tƣ là yếu tố
quyết định duy nhất đến giá trị công ty. Còn chính sách phân chia dòng thu
nhập của công ty thành cổ tức và lợi nhuận giữ lại nhƣ thế nào là không quan
trọng. Họ cho rằng tác động của một chính sách cổ tức nào đó có thể đƣợc bù
trừ bằng các hình thức tài trợ khác nhƣ việc bán cổ phần. Những lập luận của