MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Quá trình toàn cầu hóa đã mang lại nhiều cơ hội cho sự tăng trưởng kinh
tế và phát triển xã hội của các quốc gia. Tuy nhiên, toàn cầu hóa cũng đặt ra
nhiều thách thức đối với vấn đề lao động, việc làm và đào tạo nguồn nhân lực
đối với các nước đang phát triển nói chung và đối với Việt Nam nói riêng. Nhận
thức được điều đó, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra những định hướng về
nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo, đặc biệt là nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực nói chung và nguồn nhân lực quản lý giáo dục nói riêng. Đại hội đại
biểu lần thứ IX của Đảng xác định tiếp tục đổi mới công tác cán bộ, xây dựng
đội ngũ cán bộ, trước hết là đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lý các cấp: vững
vàng về chính trị, gương mẫu về đạo đức, trong sạch về lối sống, có trí tuệ, kiến
thức và năng lực hoạt động thực tiễn, gắn bó với nhân dân, phát hiện, tuyển
chọn, đào tạo, bồi dưỡng, coi trọng những người có đức, có tài” [2]
Đến đại hội đại biểu lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng
01/2011) đã định hướng phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 là “Phát triển và
nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là
một đột phá chiến lược, là yếu tố quyết định đẩy mạnh phát triển và ứng dụng
khoa học, công nghệ, cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và
lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất, bảo đảm cho phát triển nhanh, hiệu quả, bền
vững”, “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu. Đổi mới căn bản toàn diện
nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ
hóa hội nhập quốc tế, trong đó đổi mới quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ nhà
giáo và cán bộ quản lý là khâu then chốt” [3].
Chỉ thị 40 - CT/TW của Ban bí thư Trung ương Đảng về việc xây dựng,
nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục cũng đã chỉ rõ:
“ mục tiêu xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục được chuẩn
hóa đảm bảo chất lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt là nâng cao bản lĩnh chính
trị, phẩm chất lối sống, lương tâm, tay nghề của nhà giáo, thông qua việc quản
1
lý, phát triển đúng định hướng và có hiệu quả sự nghiệp giáo dục để nâng cao
2. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng hoạt động rèn
luyện kĩ năng nghề cho sinh viên ngành Quản lý giáo dục, Trường Đại học
Vinh.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Vấn đề quản lý hoạt động rèn luyện kĩ năng nghề cho sinh viên ngành
Quản lý giáo dục.
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp quản lý hoạt động rèn luyện kĩ năng nghề cho sinh viên ngành
Quản lý giáo dục, trường Đại học Vinh.
4. Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất và thực hiện được một số biện pháp quản lý có sơ sở khoa
học và có tính khả thi thì có thể nâng cao chất lượng hoạt động rèn luyện kĩ
năng nghề cho sinh viên ngành Quản lý giáo dục, Trường Đại học Vinh.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận của vấn đề quản lý hoạt động rèn luyện kĩ năng
nghề cho sinh viên ngành Quản lý giáo dục.
- Khảo sát thực trạng quản lý hoạt động rèn luyện kĩ năng nghề cho sinh
viên ngành Quản lý giáo dục, Trường Đại học Vinh.
- Đề xuất và thăm dò tính cần thiết, khả thi của một số biện pháp quản lý
hoạt động rèn luyện kĩ năng nghề cho sinh viên ngành Quản lý giáo dục Trường
Đại học Vinh.
6. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tiến hành khảo sát thực trạng quản lý hoạt động rèn luyện kĩ năng
nghề cho sinh viên ngành Quản lý giáo dục tại trường Đại học Vinh.
3
7. Phương pháp nghiên cứu
Để có thể hoàn thành đề tài trên, chúng tôi sử dụng một số các phương
pháp chủ yếu, cụ thể là:
Chương 3: Một số biện pháp quản lý hoạt động rèn luyện kĩ năng nghề
cho sinh viên ngành Quản lý giáo dục, Trường Đại học Vinh.
5
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG RÈN LUYỆN
KĨ NĂNG NGHỀ CHO SINH VIÊN NGÀNH QUẢN LÝ GIÁO DỤC
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Các nghiên cứu ở nước ngoài
a, Các nghiên cứu về kĩ năng nghề nói chung và kĩ năng nghề nghiệp của
nhà quản lý nói riêng được nhiều tác giả ngoài nước quan tâm. Nhìn chung có
thể khái quát kết quả nghiên cứu có liên quan thành ba xu hướng sau đây:
Xu hướng thứ nhất: Coi quản lý là một nghề, vì thế nhà quản lý cần có
những kĩ năng nghề cơ bản để thực hiện các vai trò của mình, như: kĩ năng nhận
thức; kĩ năng phi nhận thức và kĩ năng chuyên môn kĩ thuật. Hay theo
Overtoom, 2000 kĩ năng nghề được phân thành sáu nhóm nhỏ hơn, đó là:
- Những kĩ năng về năng lực cơ bản: đọc, viết, tính toán;
- Những kĩ năng truyền đạt: nói, nghe;
- Những kĩ năng về năng lực thích ứng: giải quyết vấn đề, tư duy sáng tạo;
- Những kĩ năng phát triển: tự trọng, động viên và xác định mục tiêu,
hoạch định sự nghiệp;
- Những kĩ năng về hiệu quả của nhóm: quan hệ qua lại giữa các cá nhân,
làm việc đồng đội, đàm phán;
- Những kĩ năng tác động, ảnh hưởng: hiểu biết văn hóa tổ chức, lãnh đạo
tập thể
Xu hướng thứ hai: Xuất phát từ vai trò, vị trí của nhà quản lý các cấp và
việc thực hiện tốt các nhiệm vụ được giao, xác định các kĩ năng nghề quản lý
bao gồm: kĩ năng chuyên môn kĩ thuật; kĩ năng tạo quan hệ và kĩ năng phán
đoán tổng hợp. Theo Boyatzis, 1982 về Mô hình năng lực của nhà quản lý đã
xếp các năng lực của nhà quản lý thành 5 nhóm:
- Quản lý mục tiêu và hành động: định hướng hiệu suất, chủ động hành
tạo nguồn nhân lực quản lý đã chỉ ra được 4 hạn chế của các chương trình đào
tạo như sau:
7
- Quá nặng về phân tích, không định hướng thực tiễn và hành động;
- Thíếu và yếu trong phát triển kĩ năng quan hệ qua lại giữa các cá nhân;
- Thiển cận, hạn hẹp, không có tiếp cận toàn diện tổng thể trong những
giá trị và tư duy của nó;
- Không giúp người học làm việc tốt trong các nhóm và đội làm việc.
Từ sự phân tích và nhìn nhận các hạn chế đó, nhiều nước trên thế giới đã
xây dựng chương trình giáo dục, đào tạo phát triển nhân lực quản lý theo hướng
“tiếp cận dựa trên mô hình năng lực” hay “tiếp cận năng lực”. Tiếp cận năng lực
được hình thành và phát triển rộng khắp tại Mỹ vào những năm 1970 trong
phong trào đào tạo và giáo dục các nhà giáo dục và đào tạo nghề dựa trên việc
thực hiện nhiệm vụ, các tiếp cận về năng lực đã phát triển một cách mạnh mẽ
trên một nấc thang mới trong những năm 1990 với hàng loạt các tổ chức có tầm
cỡ quốc gia ở Mỹ, Anh, Úc, New Zealand, xứ Wales, v.v (Kerka, 2001).
Những ưu thế của tiếp cận dựa trên năng lực là (Paprock, 1996; McLagan,
1996, 1997; Kerka, 2001):
Tiếp cận năng lực cho phép cá nhân hóa việc học: trên cơ sở mô hình
năng lực, người học sẽ bổ sung những thiếu hụt của cá nhân để thực hiện những
nhiệm vụ cụ thể của mình.
Tiếp cận năng lực chú trọng vào kết quả (outcomes) đầu ra.
Tiếp cận năng lực tạo ra những linh hoạt trong việc đạt tới những kết quả
đầu ra: theo những cách thức riêng phù hợp với đặc điểm và hoàn cảnh của cá
nhân.
Tiếp cận năng lực còn tạo khả năng cho việc xác định một cách rõ ràng
những gì cần đạt được và những tiêu chuẩn cho việc đo lường các thành quả.
Việc chú trọng vào kết quả đầu ra và những tiêu chuẩn đo lường khách quan của
những năng lực cần thiết để tạo ra các kết quả này là điểm được các nhà hoạch
định chính sách giáo dục, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực đặc biệt quan tâm
là những hoạt động cơ bản trong quá trình đào tạo, nhằm hình thành và phát
9
triển hệ thống tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, thái độ hành vi, đạo đức, tư cách của mỗi
cá nhân, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo tiền đề cho người
học sau này làm việc năng suất và có hiệu quả” (Nguyễn Ngọc Phương) [30];
Đi sâu vào nghiên cứu vấn đề rèn luyện kĩ năng nghề cho SV ngành
QLGD, tác giả Bùi Văn Hùng với đề tài “Xây dựng quy trình rèn luyện kĩ năng
lập kế hoạch cho sinh viên ngành QLGD” đã đề xuất quy trình rèn luyện kĩ năng
lập kế hoạch qua các bước: “Rèn luyện kĩ năng lập kế hoạch thông qua chương
trình đào tạo của SV chuyên ngành QLGD”; “Rèn luyện kĩ năng lập kế hoạch
thông qua chương trình rèn luyện kĩ năng nghề cho SV ở năm thứ 2”; “Tổ chức
hình thành và rèn luyện kĩ năng lập kế hoạch theo nhóm thông qua lập kế hoạch
tự học theo môn học mà chương trình quy định” và “Tổ chức rèn luyện kĩ năng
lập kế hoạch cho SV ngành QLGD qua các học phần và thực tập rèn nghề cuối
khóa” [17].
Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Trinh - Chế Thị Hải Linh với đề tài “Xây dựng
nội dung rèn luyện kĩ năng nghề cho SV ngành QLGD trường đại học Vinh”
cũng đã xác định các nhóm kĩ năng nghề cần rèn luyện cho SV ngành QLGD
đáp ứng yêu cầu nghề nghiệp. Cụ thể gồm: nhóm kĩ năng quản lý chung; nhóm
kĩ năng chuyên môn kĩ thuật; nhóm kĩ năng mềm và nhóm kĩ năng hỗ trợ khác
[35].
Nhìn chung, các bài viết của các tác giả trong nước đã đề cập đến vấn đề
rèn luyện kĩ năng nghề nghiệp cho SV ngành QLGD nhưng mới chỉ dừng lại ở
việc nghiên cứu các khía cạnh nhỏ của quá trình rèn luyện kĩ năng nghề. Tuy
nhiên, đây là những gợi ý bổ ích cho chúng tôi trong khi tìm hiểu vấn đề nghiên
cứu. Theo chúng tôi, vấn đề hoạt động rèn luyện kĩ năng nghề cho SV ngành
QLGD cần được nghiên cứu có hệ thống và đi sâu hơn vào những vấn đề quản
lý nhằm nâng cao chất lượng quản lý hoạt động rèn luyện kĩ năng nghề cho SV
ngành QLGD tại Việt Nam.
1.2. Các khái niệm cơ bản
hiện của sự tổng hợp kiến thức và kĩ năng để thực hiện nghiệp vụ của nghề
nghiệp đó.
Theo James, C.Hansen thì “Kĩ năng nghề là những khả năng mà con
người có thể sử dụng những gì đã hiểu biết để đạt được những mục đích, những
yêu cầu trong nghề nghiệp đề ra. Sự hiểu biết này phải là sự hiểu biết rất chuyên
nghiệp” [18; 49].
Theo David M. Kaplan thì “Kĩ năng nghề là khả năng nắm vững những
kỹ thuật để tiến hành một chuỗi các yêu cầu hành động, trong một nghề, một
công việc nào đó” [19; 33]. Ở đây, chủ yếu tác giả đề cập đến khả năng của con
người bởi v́ chính khả năng đó sẽ hàm chứa những kỹ năng cụ thể trong nó. Mặt
khác, sự nắm vững kĩ thuật là một yêu cầu quan trọng khi muốn thực hiện một
công việc dù là đơn giản hay phức tạp. Chính yếu tố kĩ thuật này cho phép người
hành nghề làm chủ được chính mình, làm chủ được tất cả những điều kiện về
máy móc, trang thiết bị để có thể giải quyết nhiệm vụ được giao trong công
việc, trong nghề nghiệp.
Theo quan điểm của Phạm Tất Dong, Đặng Danh Ánh thì kĩ năng nghề
là những khả năng phù hợp với đòi hỏi riêng của nghề đó. Ngoài trình độ học
vấn nói chung, nhất thiết phải có những kiến thức cơ sở, cơ bản của nghề gọi là
kiến thức nghiệp vụ, đó là những tri thức khoa học chuyên sâu về một lĩnh vực
hoạt động của con người, gồm hai nội dung:
Một là, kiến thức khoa học chuyên sâu về một hoạt động nghề nghiệp nào
đó của con người;
Hai là, những kỹ năng, kĩ xảo hoạt động nghề nghiệp.
Kĩ năng nghề không phải là một hành động bình thường, tự nhiên mà là
hành động đòi hỏi phải vận dụng tri thức khoa học về nghề, khả năng thực hiện
những thao tác nghề Kĩ năng nghề là một thành phần cơ bản tạo nên năng lực
nghề đáp ứng yêu cầu của lĩnh vực hoạt động nghề cụ thể trong cuộc sống.
Kĩ năng nghề được hình thành và phát triển nhờ luyện tập mà trước hết là
quá trình rèn luyện kĩ năng nghề tại phòng thực hành - thực tập ở trường, tại các
12
được gọi là hoạt động quản lý.
Quản lý là một khái niệm được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực của
đời sống xã hội. Do đối tượng quản lý phong phú, đa dạng tùy thuộc vào từng
lĩnh vực cụ thể, từng giai đoạn phát triển của xã hội mà có những cách hiểu khác
nhau về quản lý.
Theo từ điển Tiếng Việt: “Quản lý là trông coi và giữ gìn theo những yêu
cầu nhất định” [39].
Nhiều tác giả quan niệm: Quản lý là sự tác động có tính khoa học, vừa có
tính nghệ thuật vào hệ thống con người, nhằm đạt được các mục tiêu.
Khi nói về vai trò của quản lý trong xã hội, O. V. Kozlova và I. N.
Kuznetsov định nghĩa: “Quản lý là sự tác động có mục đích đến những tập thể
con người để tổ chức và phối hợp hoạt động của họ trong quá trình sản xuất”
[22].
Frederick Winslow Taylor (1856 - 1915), người Mỹ, được coi là “cha đẻ
của thuyết quản lý khoa học”, là một trong những người mở ra “kỉ nguyên vàng”
trong quản lý đã thể hiện tư tưởng cốt lõi của mình trong quản lý là: “Mỗi loại
công việc dù nhỏ nhất đều phải chuyên môn hóa và đều phải quản lý chặt chẽ”.
Ông cho rằng “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng chính xác cái gì cần làm và
làm cái đó như thế nào bằng phương pháp tốt nhất, rẻ nhất” [32]
Theo Harold Koontz, trong tác phẩm “Những vấn đề cốt yếu của quản lý”
đã được dịch ra Tiếng Việt của nhà xuất bản Khoa học - Kĩ thuật (1994): “Quản
lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm
đạt được các mục đích của nhóm” [14].
Với cách tiếp cận ấy, Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: “Quản lý là tác động
có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động
nói chung là khách thể quản lý nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến”
[31].
14
Tác giả Trần Hữu Cát và Đoàn Minh Duệ định nghĩa: “Quản lý là hoạt
động thiết yếu nảy sinh khi con người hoạt động tập thể, là sự tác động của chủ
Chức năng kế hoạch bao gồm cả quá trình triển khai và điều chỉnh kế
hoạch (nếu cần)
Chức năng kế hoạch có vai trò khởi đầu, định hướng cho quá trình quản
lý, là cơ sở để huy động các nguồn lực, là căn cứ cho việc kiểm tra, đánh giá quá
trình thực hiện các mục tiêu.
- Chức năng tổ chức:
Đây là chức năng thiết kế cơ cấu, tổ chức công việc và tổ chức nhân sự
cho một tổ chức. Đây chính là chức năng thứ hai trong quy trình quản lý. Chức
năng tổ chức gắn liền với các hoạt động cụ thể tác động đến tổ chức, có nhiều
cách nói khác nhau nhưng có thể khái quát: Chức năng tổ chức là quá trình phân
phối, sắp xếp các nguồn nhân lực và các nguồn lực khác tạo ra một cơ cấu tổ
chức thích hợp đảm bảo thực hiện tốt mục tiêu đề ra để tổ chức phát triển.
- Chức năng chỉ đạo:
Trong hoạt động quản lý chức năng này đồng nghĩa với việc hướng dẫn,
chỉ huy, điều khiển… đối tượng quản lý cùng với chủ thể quản lý thực hiện
nhiệm vụ để đạt được mục tiêu của tổ chức đã đặt ra. Chức năng này thể hiện
quyền hạn và quyền lực của chủ thể quản lý nó ảnh hưởng rất lớn tới đối tượng
quản lý, nó tạo ra động lực cho các thành viên trong tổ chức.
Như vậy có thể khái quát: Chức năng chỉ đạo là quá trình tác động ảnh
hưởng tới hành vi, thái độ của những người khác nhằm đạt tới các mục tiêu với
chất lượng cao.
- Chức năng kiểm tra, đánh giá:
Sau khi đề ra những mục tiêu, xây dựng các kế hoạch, xếp đặt cơ cấu,
tuyển dụng, huấn luyện và động viên nhân sự, công việc còn lại vẫn còn có thể
thất bại nếu không kiểm tra. Chức năng kiểm tra bao gồm việc xác định thành
quả, so sánh thành quả thực tế với thành quả đã được xác định và tiến hành các
16
biện pháp sửa chữa nếu có sai lệch, nhằm đảm bảo tổ chức đang trên đường đi
đúng hướng để hoàn thành mục tiêu đã đề ra.
Theo hình thức, quá trình quản lý được diễn ra tuần tự từ chức năng kế
viên, từ đó nâng cao hiệu quả rèn luyện kĩ năng nghề cho sinh viên, đáp ứng tốt
yêu cầu của thực tiễn nghề nghiệp.
1.2.6. Biện pháp quản lý hoạt động rèn luyện kĩ năng nghề
Theo từ điển Tiếng Việt, biện pháp là các hành động lựa chọn sao cho phù
hợp với mục đích.
Biện pháp là cách làm, cách thức tiến hành giải quyết một vấn đề cụ thể.
Biện pháp quản lý là tổ hợp các cách thức tiến hành của chủ thể quản lý
nhằm tác động đến đối tượng quản lý để giải quyết những vấn đề trong công tác
quản lý, làm cho hệ quản lý vận hành đạt mục tiêu đề ra và phù hợp với quy luật
khách quan.
Từ khái niệm biện pháp, biện pháp quản lý chúng ta có thể rút ra khái
niệm biện pháp quản lý hoạt động rèn luyện kĩ năng nghề như sau: Biện pháp
quản lý hoạt động rèn luyện kĩ năng nghề là cách làm, cách thức tiến hành giải
quyết các vấn đề khó khăn, cản trở của nhà quản lý trong công tác rèn luyện kĩ
năng nghề cho sinh viên nhằm thực hiện được các mục tiêu đặt ra của công tác
này.
1.3. Hoạt động rèn luyện kỹ năng nghề cho sinh viên ngành Quản lý
giáo dục
1.3.1 Sự cần thiết phải tổ chức hoạt động rèn luyện kỹ năng nghề cho
sinh viên
Theo kết quả nghiên cứu ban đầu từ Báo cáo Phát triển Việt Nam 2013
Christian Bodewig, Ngân hàng Thế giới, tháng 11/2012, cho thấy: Gần 40% các
công ty quốc tế và công ty địa phương đều cho rằng hệ thống giáo dục phổ
thông và giáo dục nghề nghiệp của Việt Nam không đáp ứng được yêu cầu về kĩ
năng trong công việc của họ. Đặc biệt là đối với các công ty nước ngoài, tỷ lệ
18
này xấp xỉ 70%. Điều này cho thấy rằng những người sử dụng lao động không
cảm thấy hài lòng với chất lượng về giáo dục và tay nghề của lực lượng lao
động hiện có. Bên cạnh đó, họ không chỉ tìm kiếm những kĩ năng chuyên môn
kĩ thuật, mà còn tìm kiếm các kĩ năng mà giới chuyên môn gọi là “nhận thức” và
- Chuyên viên quản lý hành chính giáo dục trong các cơ quan QLGD (Bộ
Giáo dục và Đào tạo, Sở Giáo dục và Đào tạo, Phòng Giáo dục và Đào tạo, các
cơ quan QLGD của các tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể, doanh nghiệp, dự án
và các tổ chức giáo dục khác);
- Chuyên viên (chuyên viên văn phòng; chuyên viên quản lý cơ sở vật
chất và thiết bị trường học; chuyên viên quản lý học sinh, sinh viên; chuyên viên
phòng đào tạo, phòng đảm bảo chất lượng, phòng thanh tra giáo dục, phòng
TCCB,…) ở các cơ sở giáo dục (trường mầm non, tiểu học, THCS, THPT, giáo
dục thường xuyên, trung học dạy nghề, cao đẳng, đại học); cơ sở giáo dục cộng
đồng (trung tâm học tập cộng đồng); các cơ sở đào tạo bồi dưỡng;
- Chuyên viên phụ trách công tác văn hóa, giáo dục trong các cơ quan
chính quyền các cấp (tỉnh, huyện, xã) và các tổ chức văn hóa giáo dục ở cộng
đồng;
- Cán bộ nghiên cứu trong các cơ quan nghiên cứu về QLGD (các viện
nghiên cứu, các trung tâm nghiên cứu của các trường đại học, cao đẳng,…);
- Giảng viên chuyên ngành QLGD trong các cơ sở đào tạo và bồi dưỡng
cán bộ QLGD (học viện QLGD, trường đào tạo và bồi dưỡng cán bộ QLGD cấp
tỉnh, thành phố, các khoa QLGD trong trường đại học và cao đẳng);
- Các tổ chức khác cần sử dụng đến kiến thức về QLGD.
Trong các vị trí công tác nói trên, đa số SV ngành QLGD sau tốt nghiệp
có thể đảm nhiệm ngay vị trí chuyên viên hành chính giáo dục và chuyên viên
giáo dục khác, còn vị trí nghiên cứu viên và giảng viên đòi hỏi SV cần nâng cao
trình độ đào tạo và tích lũy vốn kinh nghiệm trong lĩnh vực công tác có liên
quan.
b) Những yêu cầu về kiến thức, kĩ năng nghề cần có của thế giới việc làm
đối với sinh viên ngành Quản lý giáo dục sau tốt nghiệp
20
b.1) Đối với vị trí chuyên viên hành chính giáo dục và chuyên viên giáo
dục khác
Theo Quyết định số 414/TCCP-VC ngày 29 tháng 5 năm 1993 Về việc
- Về kiến thức:
+ Nắm được đường lối, chính sách chung, nắm chắc phương hướng, chủ
trương, chính sách của ngành, của đơn vị về lĩnh vực nghiệp vụ của mình.
+ Nắm được các kiến thức cơ bản về chuyên môn nghiệp vụ thuộc lĩnh
vực đó.
+ Nắm được mục tiêu, đối tượng quản lý, hệ thống các nguyên tắc và cơ
chế quản lý của nghiệp vụ thuộc phạm vi mình phụ trách.
+ Nắm được những vấn đề cơ bản về tâm sinh lý lao động khoa học quản
lý, tổ chức khoa học quản lý, tổ chức lao động khoa học, thông tin quản lý.
+ Am hiểu thực tiễn sản xuất, xã hội và đời sống xung quanh các hoạt
động quản lý đối với lĩnh vực đó.
- Về kỹ năng:
+ Biết xây dựng các phương án, kế hoạch, các thể loại quyết định cụ thể
và thông hiểu thủ tục hành chính nghiệp vụ của ngành quản lý, viết văn bản tốt.
+ Biết phương pháp nghiên cứu tổng kết và đề xuất, cải tiến nghiệp vụ
quản lý. Nắm được xu thế phát triển nghiệp vụ trong nước và thế giới.
+ Biết tổ chức chỉ đạo, hướng dẫn, phương pháp kiểm tra và có khả năng
tập hợp tổ chức phối hợp tốt với các yếu tố liên quan để triển khai công việc đó
hiệu quả cao. Có trình độ độc lập tổ chức làm việc.
- Về trình độ:
Tốt nghiệp Học viện hành chính Quốc gia ngạch chuyên viên. Nếu là đại
học chuyên môn, nghiệp vụ hoặc tương đương (đã qua thời gian tập sự) thì phải
trải qua lớp bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý hành chính theo nội dung chương trình
của Học viện Hành chính Quốc gia. Biết 1 ngoại ngữ trình độ A (đọc hiểu được
sách chuyên môn).
22
b.2) Đối với vị trí cán bộ nghiên cứu (nghiên cứu viên) trong các cơ quan
nghiên cứu về QLGD:
Theo Quyết định số 11/2006/QĐ-BNV ngày 5/10/2006 của Bộ trưởng Bộ
nội vụ về Tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch viên chức ngành khoa học và công
nghệ, những tiến bộ khoa học và công nghệ quan trọng trong nước và trên thế
giới liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu.
+ Nắm vững cách thức sử dụng, vận hành, bảo quản thiết bị, vật tư dùng
trong nghiên cứu và các quy định an toàn lao động, vệ sinh lao động.
+ Nắm được nội dung quản lý, phương pháp triển khai nghiên cứu, xử lý
thông tin, đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ.
- Về kỹ năng:
+ Có khả năng nghiên cứu và triển khai ứng dụng kết quả nghiên cứu vào
thực tiễn. Có khả năng tổ chức một nhóm nghiên cứu, điều hành, phân công và
phối hợp thực hiện nhiệm vụ của một đề tài, dự án.
+ Có khả năng xây dựng và trình bày các báo cáo nghiên cứu khoa học
được giao, tham gia các hội nghị khoa học thuộc lĩnh vực nghiên cứu.
- Về trình độ:
+ Tốt nghiệp đại học chuyên ngành phù hợp với lĩnh vực nghiên cứu,
hoàn thành nhiệm vụ trong thời gian thử việc.
+ Sử dụng được một ngoại ngữ thông dụng ở trình độ B trong hoạt động
chuyên môn.
+ Sử dụng thành thạo máy vi tính và các thiết bị văn phòng đáp ứng yêu
cầu nhiệm vụ chuyên môn.
b.3) Đối với vị trí giảng viên chuyên ngành QLGD:
Theo Điều lệ trường Đại học (Ban hành kèm theo Quyết định số
58/2010/QĐ-TTg ngày 22 tháng 9 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ)
b.3.1) Nhiệm vụ của giảng viên
24
- Thực hiện nhiệm vụ của viên chức quy định tại Điều 23 của Điều lệ này.
- Thực hiện các nhiệm vụ giảng dạy, nghiên cứu khoa học và chuyển giao
công nghệ, quản lý đào tạo, quản lý hoạt động khoa học và công nghệ, học tập,
bồi dưỡng nâng cao trình độ theo quy định về chế độ làm việc đối với giảng viên
do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành.
- Giữ gìn phẩm chất, uy tín, danh dự của nhà giáo; tôn trọng nhân cách