Website: Email : Tel : 0918.775.368
đại học quốc gia Hà Nội
trung tâm đào tạo & bồi dỡng
giảng viên lý luận chính trị
Luận văn thạc sĩ
t tởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ
giữa giai cấp với dân tộc và việc vận dụng
t tởng đó vào sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam
Chuyên ngành:
triết học (cndvbc & cndvls)
Mã số:
5. 01. 02
Học viên: Nguyễn Quang Trung
Ngời hớng dẫn : ts. Vũ Thiện Vơng
Hà Nội - 2004
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài :
Mối quan hệ giữa giai cấp với dân tộc (gọi tắt là mối quan hệ giai cấp dân
tộc) là một trong những nội dung cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin. Hồ Chí Minh
là ngời đã vận dụng sáng tạo lý luận ấy vào quá trình lãnh đạo cách mạng Việt
Nam, đa dân tộc Việt Nam từ một nớc thuộc địa nửa phong kiến trở thành một nớc
độc lập và tiến lên chủ nghĩa xã hội (CNXH).
Việc nhận thức đúng đắn quan điểm CNMLN và T tởng Hồ Chí Minh
(TTHCM) về mối quan hệ giai cấp dân tộc (QHGC-DT) và vận dụng nó vào sự
nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay là một đòi hỏi cấp bách. Chính vì vậy tôi
chọn đề tài : "T tởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa giai cấp với dân tộc và
việc vận dụng t tởng đó vào sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay" làm luận
văn tốt nghiệp thạc sĩ triết học của mình.
Trong khuôn khổ của phạm vi nh thế, đối tợng nghiên cứu của luận văn này
là :
-Thực chất của mối QHGC-DT theo quan điểm của CNMLN.
-Thực tiễn của mối QHGC-DT trên thế giới và ở Việt Nam vào đầu thế kỷ
XX.
-Những luận điểm cơ bản, thể hiện bản chất của mối QHGC-DT trong
TTHCM.
-Những phơng hớng, giải pháp nhằm tăng cờng mối QHGC-DT ở Việt Nam
hiện nay, dới ánh sáng TTHCM về mối QHGC-DT.
5. Cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu.
Trên cơ sở lý luận của CNMLN, TTHCM và đờng lối của Đảng Cộng sản
Việt Nam, luận văn sử dụng chủ yếu sử dụng các phơng pháp nghiên cứu sau :
-Phơng pháp quy nạp và diễn dịch :
Trong rất nhiều bài nói, bài viết của Hồ Chí Minh, chúng tôi thấy rất nhiều
bài thể hiện t tởng của Ngời về mối QHGC-DT. Bằng phơng pháp quy nạp không
đầy đủ, chúng tôi đã khái quát lại thành những luận điểm thể hiện bản chất của
TTHCM về mối QHGC-DT. Những luận điểm này trở thành những đề mục lớn
cho chơng II của luận văn.
-Phơng pháp chứng minh luận đề :
Trong các bài viết, bài nói của Hồ Chí Minh, có nhiều luận điểm nổi tiếng,
thể hiện t tởng sâu sắc của Ngời về một vấn đề nào đó. Bằng những dẫn chứng cụ
thể chúng tôi chứng minh rằng những luận đề này là kết quả của một quá trình ch-
ng cất lâu dài về một vấn đề nào đó để hình thành nên TTHCM về vấn đề này.
-Phơng pháp loại suy và so sánh :
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Lịch sử Việt Nam và thế giới thời cận hiện đại đã từng tồn tại nhiều giai cấp,
nhiều trào lu chính trị t tởng khác nhau. Bằng phơng pháp loại suy, chúng tôi đã
thấy đợc quá trình tìm kiếm, lựa chọn con đờng cách mạng và giai cấp lãnh đạo
của Hồ Chí Minh. Đồng thời với sự so sánh các vấn đề "đồng dạng phối cảnh"
và (2.2) của Hồ Chí minh. Phơng pháp vận dụng ấy là tiết 3.2 của luận văn này.
4
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Những chữ viết tắt
CNMLN : Chủ nghĩa Mác Lênin
CNTB : Chủ nghĩa t bản
CNXH : Chủ nghĩa xã hội
ĐLDT: Độc lập dân tộc
LCLN : Luận cơng của Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa
QHGC-DT : Quan hệ giai cấp dân tộc.
TBCN : T bản chủ nghĩa
TTHCM : T tởng Hồ Chí Minh
TTTT : Trung tâm truyền tin
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Chơng 1
Cơ sở hình thành t tởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ
giai cấp - dân tộc
1.1. Cơ sở thực tiễn:
1.1.1. Quan hệ giai cấp - dân tộc trên thế giới từ cuối thế kỷ XIX đến đầu
thế kỷ XX:
Tử nửa đầu thế kỷ XIX trở về trớc, ở châu Âu, sự phát triển của lực lợng sản
xuất T bản chủ nghĩa (TBCN) đang bị kìm hãm nặng nề bởi tình trạng cát cứ của
giai cấp phong kiến quý tộc. Trong tình hình ấy giai cấp t sản là ngời đi tiên phong
trong phong trào dân tộc.Lúc bấy giờ, lợi ích của giai cấp t sản và nhân dân lao
động trong xã hội châu Âu về cơ bản là thống nhất với nhau. Giai cấp t sản đã
lãnh đạo các tầng lớp nhân dân, tập hợp xung quanh mình lực lợng to lớn xóa bỏ
tình trạng cát cứ phong kiến, thành lập các quốc gia - dân tộc. T bản chủ nghĩa
Quan hệ dân tộc - giai cấp trong điều kiện lịch sử ấy là quan hệ giữa lợi ích của
Hồ Chí Minh trong quá trình hoạt động tìm đờng cứu nớc đã nhận thức bản
chất của thực tiễn về quan hệ ta - bạn - thù, Về QHGC-DT. Ngời thấy rằng: "ở
đâu CNTB cũng tàn ác vô nhân đạo, ở đâu giai cấp công nhân và nhân dân lao
động cũng bị áp bức, lóc lột rất dã man, các dân tộc thuộc địa đều có một kẻ thù
không đội trời chung là bọn đế quốc, thực dân [5-19]. Ngời nhận rõ "giai cấp
công nhân và nhân dân lao động các nớc đều là bạn, chủ nghĩa đế quốc ở đâu
cũng là thù"[5-19]. Đó là bản chất của QHGC-DT, quan hệ giữa thống trị và bị trị
trong thời đại đế quốc chủ nghĩa.
Ba mâu thuẫn cơ bản của thời đại:
Giai cấp t sản mâu thuẫn với giai cấp công nhân
Chủ nghĩa đế quốc mâu thuẫn với các dân tộc
Chủ nghĩa đế quốc mâu thuẫn với chủ nghĩa đế quốc
đợc biểu hiện về mặt xã hội bằng hiện tợng là đấu tranh giai cấp, đấu tranh
dân tộc, chiến tranh đế quốc. Ba trào lu đấu tranh ấy ngày càng xoắn xuýt lấy
nhau, làm tiền đề cho nhau, thúc đẩy nhau cùng phát triển. Chiến tranh đế quốc,
tạo điều kiện cho đấu tranh của giai cấp công nhân tại các nớc đế quốc tham chiến
có điều kiện phát triển. Đấu tranh giải phóng của các dân tộc thúc đấy sự suy yếu
của chủ nghĩa đế quốc và sự trởng thành lớn mạnh của giai cấp công nhân. Đỉnh
cao của ba phong trào đấu tranh ấy vào đầu thế kỷ XX là sự bùng nổ và giành
thắng lợi của Cách mạng tháng Mời Nga năm 1917. Đó là thắng lợi của giai cấp
công nhân và nhân dân lao động Nga nói riêng và thế giới nói chung; là sự khẳng
định vai trò đầu tầu lịch sử của giai cấp công nhân trong thời đại mới.
Xét trên một ý nghĩa khái quát, Cách mạng Nga trở thành Trung tâm truyền
tin(TTTT) những lý tởng cách mạng đi khắp thế giới. Nó đã đem những nguyên lý
cơ bản của CNMLN, kinh nghiệm Cách mạng Nga vào phong trào công nhân và
phong trào yêu nớc của các nớc; thúc đẩy nhân dân nơi đây nổi dậy chống đế
quốc, phong kiến mạnh mẽ hơn. Từ đó các tổ chức chính trị đầu tiên của giai cấp
công nhân ra đời, làm cơ sở tiến tới thành lập các Đảng Cộng sản. Những lý tởng
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
phóng dân tộc phát triển mạnh và thành công to lớn"[1-9-258].
Thứ hai là phong trào công nhân và cộng sản quốc tế:
Sau Cách mạng tháng Mời Nga, hàng loạt Đảng cộng sản và đảng của giai
cấp lao động trên thế giới đợc thành lập. Nếu nh năm 1918 trên thế giới có 10
8
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Đảng cộng sản thì cho đến năm 1921 con số đó đã lên tới 48. Sự lan rộng của
CNMLN và sự ra đời của nhiều đảng cộng sản nh vậy đã tạo cơ sở thực tiễn, tạo
địa bàn, tạo môi trờng cho sự ra đời của Quốc tế III, quốc tế cộng sản vào năm
1919. Trong thời gian tồn tại của mình (1919 - 1943), Quốc tế III đã cắm nhánh đ-
ợc ở rất nhiều nơi. Nhờ hệ thống chi nhánh này CNMLN và kinh nghiệm Cách
mạng Nga truyền đi các nớc ngày càng thuận lợi hơn, thờng xuyên hơn, sâu rộng
hơn. Nhờ đó mà Hồ Chí Minh ở ngay tại Pari thủ đô nớc Pháp, một nớc đế quốc đã
tìm đọc đợc luận cơng của Lê nin về vấn đề dân tộc và thuộc địa, tạo cơ sở hình
thành t tởng Hồ Chí Minh về quan hệ dân tộc - giai cấp.
Sự ra đời của quốc tế cộng sản và nhiều đảng cộng sản trên thế giới, xét về
bản chất là phản ánh sự phát triển về số lợng của giai cấp công nhân và phong trào
công nhân.Đồng thời nó tạo điều kiện thúc đẩy cho giai cấp công nhân và phong
trào công nhân ngày càng phát triển sâu rộng trên toàn thế giới. Cao trào cách
mạng 1918 - 1923 ở châu Âu dẫn đến sự hình thành các Xô Viết công nông ở một
số nớc là hành động dũng cảm của giai cấp công nhân. Qua cao trào này, vai trò
đầu tàu lịch sử của giai cấp công nhân tiếp tục đợc khẳng định trên thế giới. Vấn
đề dân tộc kể từ đây thuộc về tay giai cấp công nhân.
Thứ ba là phong trào xây dựng CNXH ở Liên Xô.
Sau Cách mạng tháng Mời Nga và Chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, Liên Xô bắt
tay vào công cuộc xây dựng CNXH. Công cuộc này đã giành đợc nhiều thành tựu
nổi bật thể hiện bản chất nhân đậo, nhân văn và tính u việt của chế độ XHCN so
với các chế độ xã hội trớc đây.
Hồ Chí Minh trong thời gian ở Liên Xô đã Nghiên cứu chế độ Xô Viết Nga.
Ngời chú ý nhất đến chế độ xã hội của nớc này. ở đây mọi ngời ra sức học tập
Bản chất ấy của thời đại, với quan hệ dân tộc - giai cấp nh vậy là cơ sở để Hồ
Chí Minh xác đinh: giai cấp công nhân là ngời lãnh đạo cách mạng, làm t sản
dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản".
Nhng những lý tởng cách mạng của TTTT cũng chỉ có thể truyền đi và cộng
hởng có hiểu quả ngay sau đó đối với những nớc có điều kiện cơ cấu xã hội giai
cấp, quan hệ dân tộc - giai cấp cùng tần số với TTTT. Bởi vì trong cùng điều kiện
lịch sử nửa đầu thế kỷ XX, cùng thời với Hồ Chí Minh, mà các lãnh tụ Nê Ru (ấn
Độ); Xu Cac Nô (Inđônêxia) lại lựa chọn con đờng cách mạng t sản? Do giai cấp
t sản lãnh đạo? Họ không lựa chọn con đờng cách mạng vô sản do giai cấp công
nhân lãnh đạo nh Hồ Chí Minh? Sở dĩ nh vậy là vì t tởng Hồ Chí Minh về quan hệ
dân tộc - giai cấp đợc hình thành trong điều kiện cơ cấu xã hội giai cấp, quan hệ
dân tộc - giai cấp ở Việt Nam. Những điều kiện này có cùng tần số và do đó có thể
cộng hởng đợc với những lý tởng cách mạng củaTTTT.
1.1.2. Quan hệ giai cấp - dân tộc từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX ở
Việt Nam:
Cơ cấu xã hội giai cấp Việt Nam trớc khi thực dân Pháp xâm lợc là một xã
hội phong kiến đang suy tàn trong đó có hai giai cấp đối kháng chủ yếu. Một bên
là giai cấp địa chủ mà đại diện là vua quan nhà Nguyễn lạc hậu và cực kỳ phản
động. Một bên là giai cấp nông dân nghèo khổ, bị áp bức bóc lột thậm tệ.
10
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Chính sách quốc gia dân tộc của triều đình nhà Nguyễn là một chính sách
cực kỳ bảo thủ, phản động. Về đối nội, triều Nguyễn tăng cờng bóc lột, vơ vét
nặng nề và đàn áp khốc liệt đối với nhân dân; cự tuyệt mọi đề án của cải cách. Còn
về đối ngoại thì thi hành chính sách bế quan toả cảng. Những thành quả và lợi ích
thu đợc từ các chủ trơng, chính sách của triều đình đều rơi vào trong giai cấp địa
chủ, đội ngũ quan lại, cờng hào. Càng về sau triều Nguyễn càng mất hết khả năng
mở mang kinh tế và phát huy tiềm lực nhân dân trong xây dựng đất nớc.
Do chính sách quốc gia dân tộc nh vậy, một chính sách hủy hoại sinh lực của
dân tộc và nhân dân, triều đình nhà Nguyễn, dựa trên nền tảng giai cấp địa chủ, c-
chủ kiêm công thơng. Họ tìm mọi cách chiếm đoạt ruộng đất của nông dân.
Ruộng đất ngày càng tập trung vào tay họ, ruộng công ngày càng ít đi. Đồng thời
do nắm các địa vị chủ chốt trong bộ máy thống trị của thôn xã, giai cấp địa chủ ở
khu vực này, mà đại diện là bọn tổng lý, kỳ hào đã tìm đủ mọi cách để chiếm đoạt
hoặc lũng đoạn ruộng công. Cho đến năm 1930, ruộng công trong cả nớc chỉ còn
lại 10% diện tích canh tác.
Tính chung trong cả nớc, giai cấp địa chủ chỉ chiếm 9% tổng số chủ ruộng,
nhng lại tập trung trong tay trên 50% diện tích canh tác. Đợc thực dân Pháp giúp
đỡ, ách áp bức bóc lột của địa chủ đối với nông dân không từ một thủ đoạn nào:
Địa tô (tô điền, tô hiện vật, tô lao dịch), cho vay nặng lãi. Mức độ của địa tô
chiếm từ 50 - 75%, thậm chí 80% hoa lợi thu đợc.
Sự cấu kết giữa đế quốc (thực dân Pháp) với phong kiến (địa chủ) là đặc trng
nổi bật của chế độ thuộc địa. Địa chủ phong kiến là tay sai của đế quốc, là kẻ thù
không đội trời chung của nông dân. Do đó mâu thuẫn giữa nông dân với địa chủ là
mẫu thuẫn vốn có từ trớc đến nay càng trở nên sâu sắc hơn, và là mẫu thuẫn cơ
bản của xã hội Việt Nam.
Mặt đối lập của giai cấp địa chủ là giai cấp nông dân.
ách áp bức bóc lột nặng nề của đế quốc và phong kiến đã đa đến sự phá sản
và bần cùng hóa của giai cấp nông dân Việt Nam. Kinh tế tiểu nông lạc hậu, kết
hợp với tiểu thủ công nghiệp có tính chất nghề phụ gia đình của nông dân là điều
kiện thuận lợi cho sự vơ vét su thuế, bóc lột nhân công của thực dân phong kiến.
Nó đa đến sự phân hóa không thế tránh khỏi ở nông thôn. Nông dân phân hóa theo
thời gian thành cố nông, bần nông, trung nông, phú nông.
Việc mở rộng đồn điền, hầm mỏ và xí nghiệp của t bản Pháp luôn luôn đi
kèm với việc cớp đoạt, lấn chiếm ruộng đất của nông dân. "Ruộng đất bình quân
của những hộ tiểu nông - cả bần nông và trung nông ở Việt Nam thuộc vào loại
thấp nhất của thế giới [37-2-179]. Bên cạnh đó chính sách độc quyền kinh tế, hệ
thống thuế khóa nặng nề, su cao của chế độ thực dân, chế độ bóc lột địa tô cao và
cho vay nặng lãi của giai cấp địa chủ đều trút tai họa lên vai, lên đầu, lên cổ nông
dân Việt Nam, chiếm hơn 90% dân số cả nớc. Ngoài thuế đinh và thuế điền, ngời
trọng.
Cùng với sự phát triển của đô thị, tầng lớp tiểu t sản cũng từng bớc hình
thành và ngày càng đông. Họ bao gồm: Trí thức (học sinh, sinh viên, công chức,
giáo viên ), tiểu thởng, tiểu chủ, thợ thủ công, dân nghèo thành thị, những ngời
làm các nghề tự do Họ không phải là giai cấp mà là một tầng lớp xã hội.
Đời sống của tiểu t sản trong những năm 20 của thế kỷ XX ngày một khó
khăn do su thuế chồng chất và giá cả đắt đỏ. Chính sách độc quyền kinh tế của
Pháp đã làm phá sản giới thợ thủ công. Chính sách đối xử phân biệt và văn hóa
giáo dục ngu dân đã làm cho tầng lớp trí thức thấy chua chát, bị miệt thị. Họ cảm
thấy nền văn hóa dân tộc bị bọn thống trị nớc ngoài coi rẻ và chà đạp. Cảnh phồn
hoa bề ngoài của đô thị không che lấp đợc nỗi khổ của họ, những ngời dân mất n-
13
Website: Email : Tel : 0918.775.368
ớc không có quyền tự do ngôn luận, báo chí, hội họp, học hành, đi lại và nhiều
quyền tự do sơ đẳng khác.
Trí thức có thể bị đuổi học, đuổi việc, giam cầm; tiểu thơng, tiểu chủ, thợ thủ
công có thể bị phá sản, bị thất nghiệp do thuế má nặng nề của đế quốc và sự cạnh
tranh của t sản. Bị áp bức về chính trị, chèn ép về chuyên môn, bóc lột về kinh tế
nên tiểu t sản có tinh thần yêu nớc, căm thù đế quốc khá cao. Xã hội Việt Nam
trong quan hệ với tiểu t sản có 2 mâu thuẫn:
Tiểu t sản mâu thuẫn với đế quốc
Tiểu t sản mâu thuẫn với địa chủ.
Những ngời tiểu t sản trí thức thờng đóng vai trò truyền bá những t tởng tiến
bộ vào nhân dân và là ngòi pháo nổ cho phong trào cách mạng ở các đô thị.
Nhng thành phần của tiểu t sản không thuần nhất, địa vị kinh tế - xã hội
không ổn định, đã làm cho họ có lập trờng chính trị không vững vàng. Họ thờng
hay dao động nghiêng ngả trớc sự đàn áp của thực dân Pháp. Họ hăng hái tham gia
cách mạng nhng không có can đảm. Họ dám nghĩ mà không dám làm.
Thành phần và địa vị kinh tế - xã hội của tiểu t sản cho thấy rằng, họ không
địa diện cho lực lợng sản xuất tiến bộ của xã hội, không có hệ t tởng chính trị
chủ), lại đợc thực dân Pháp mua chuộc dụ dỗ, nên họ thờng đi vào con đờng thỏa
hiệp với đế quốc và phong kiến để bảo vệ quyền lợi của họ. Kinh tế yếu nên tinh
thần của t sản dân tộc rất bạc nhợc, không tạo ra đợc hệ t tởng chính trị độc lập.
Chính vì vậy, trong điều kiện chèn ép nặng nề của thực dân Pháp, t sản dân tộc
Việt Nam phải khom lng mà đi nên họ không đủ sức chi phối các giai cấp tầng lớp
trong xã hội. Chủ nghĩa t bản do đó cũng không thể phát triển đợc ở Việt Nam. Do
đó t sản dân tộc không thể là ngời đi tiên phong trong phong trào dân tộc. Xã hội
Việt Nam trong quan hệ với t sản dân tộc có mâu thuẫn là:
Đế quốc mâu thuẫn với T sản dân tộc
Sự du nhập của phơng thức sản xuất t bản chủ nghĩa vào Việt Nam và sự phát
triển của công thơng nghiệp thuộc địa đã dẫn đến sự ra đời của giai cấp công nhân.
Là sản phẩm của quá trình xâm lợc và khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, giai
cấp công nhân Việt Nam ra đời trớc giai cấp t sản. Về thành phần, công nhân xuất
thân từ những ngời thợ thủ công, những ngời tiểu thủ công nghiệp phá sản, nhng
chủ yếu là từ những ngời nông dân bị bần cùng hóa. Song công nghiệp Việt Nam
cha phát triển cho nên công nhân cha thoát ly hoàn toàn khỏi nông dân. Họ là
những công nhân theo mùa vụ, theo hợp đồng với chủ xởng. Khi hết mùa vụ họ có
thể trở lại địa phơng, với gia đình và trở về số phận của nông dân. Điều đó làm cho
công nhân và nông dân Việt Nam dễ gần gũi và thông cảm sâu sắc về những nỗi
đau khổ cùng cực của nhau. Do đó công nhân là bạn đồng minh tự nhiên của nông
dân. Đó là điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng khối liên minh công nông.
Đế quốc, phong kiến và t sản ra sức bóc lột công nhân vô cùng thậm tệ theo 3
thủ đoạn: Chế độ lao động tự do, chế độ lao động theo giao kèo, chế độ lao động
cỡng bức. Bọn t sản thực dân thẳng tay đàn áp bóc lột công nhân, tớc đoạt mọi
quyền dân chủ, quyền làm ngời của họ. Chúng là kẻ thù cớp đoạt ruộng đất của
nông dân, thợ thủ công, rồi dồn họ vào đội quân công nghiệp để rút tỉa xơng thịt
của họ. Đế quốc vì vậy là kẻ thù của giai cấp công nhân đồng thời cũng là kẻ thù
15
Website: Email : Tel : 0918.775.368
của toàn thể nhân dân Việt Nam. Địa chủ phong kiến đồng lõa với đế quốc thi
chéo lên nhau:
Đế quốc mâu thuẫn với Nông dân
Phong kiến mâu thuẫn với Nông dân
T sản mâu thuẫn với Nông dân
16
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Đế quốc mâu thuẫn với Tiểu t sản
Phong kiến mâu thuẫn với Tiểu t sản
Đế quốc mâu thuẫn với T sản dân tộc
Đế quốc mâu thuẫn với Công nhân
Phong kiến mâu thuẫn với Công nhân
T sản mâu thuẫn với Công nhân
Chín mâu thuẫn bộ phận ấy có thể quy về thành 2 mâu thuẫn cơ bản:
- Mâu thuẫn dân tộc: Đế quốc mâu thuẫn với Công nhân, nông dân, tiểu t
sản, t sản dân tộc.
- Mâu thuẫn giai cấp: Địa chủ mâu thuẫn với Công nhân, nông dân.
Trong 2 mâu thuẫn ấy thì mâu thuẫn dân tộc là mâu thuẫn chủ yếu. Có áp bức thì
có đấu tranh, có mâu thuẫn thì sẽ có sự bùng nổ của mâu thuẫn. Nhng
trong 5 giai cấp tầng lớp ấy cha có giai cấp nào về mặt hiện thực, thực
tiễn đủ sức lãnh đạo, đi tiên phong trong phong trào dân tộc, dân chủ.
Còn giai cấp công nhân thì đang trong quá trình lớn lên, cha có hệ t tởng
riêng. Xã hội Việt Nam, dân tộc Việt Nam với một kết cấu giai cấp nh
vậy đang vận động xộc xệch. Nó nh một tổ ong bị chiếc gậy tàn bạo của
thực dân Pháp đập vỡ. Ong chúa bị đánh chết, đàn ong tản ra nhiều phía,
mất phơng hớng. Nhìn chung, dới ánh thống trị của thực dân pháp, xã hội
Việt Nam nổi lên 9 mẫu thuẫn, 5 giai cấp. Đó là một xã hội có kết cấu
lỏng lẻo, xộc xệch và mất hết sinh lực. Chính vì thế xã hội Việt Nam, dân
tộc Việt Nam mất phơng hớng vận động. Đó chính là sự khủng hoảng
trầm trọng của một kết cấu xã hội giai cấp trong thời kỳ cha xuất hiện vai
trò đầu tầu của giai cấp tiên phong, khủng hoảng trầm trọng của quan hệ
cấp biểu hiện thái độ của mình đối với tổ quốc thông qua những lợi ích riêng vốn
có của giai cấp đó.
Lịch sử Việt Nam từ thuở các vua Hùng dựng nớc cho đến cuối thế kỷ XIX
khi bị thực dân Pháp xâm lợc, về cơ bản là lịch sử chống ngoại xâm. Trong chiều
dài lịch sử ấy, cha bao giờ dân tộc Việt Nam sống nổi trong độc lập, hòa bình quá
300 năm. Thế nhng dân tộc Việt Nam vẫn trờng tồn!
Theo các nhà nghiên cứu thế giới (các nhà Việt Nam học), thì lịch sử Việt
Nam có 3 sự kiện nổi bật. Thứ nhất, nằm dới ách thống trị suốt hàng nghìn năm
của chế độ phong kiến phơng Bắc mà không bị đồng hóa. Thứ hai, nhà nớc phong
kiến Việt Nam vừa mới đợc củng cố đã 3 lần đánh thắng quân xâm lợc Nguyên -
Mông, một thế lực bành trớng mạnh nhất lúc bấy giờ. Thứ ba, một đất nớc vừa
mới giành đợc độc lập với điểm xuất phát ban đầu rất thấp (trên nhiều lĩnh vực),
đã làm một cuộc chiến tranh 30 năm (1945-1975), đánh bại 2 đế quốc thuộc vào
loại mạnh nhất thế giới trong thế kỷ XX.
Cái gì đã làm cho dân tộc Việt Nam có một sức sống trờng tồn và mãnh liệt
nh vậy? Trong khi đó đã có nhiều dân tộc bị đồng hóa, bị sáp nhập vào các nớc đế
quốc?
18
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội. Tồn tại xã hội nào thì quyết định ý
thức xã hội ấy. Trong các cuộc kháng chiến, chống ngoại xâm của dân tộc Việt
Nam trớc đây, lợi ích của giai cấp nông dân và giai cấp địa chủ; lợi ích của nhân
dân lao động và của triều đình; lợi ích của nhà Vua và của thờng dân về cơ bản
thống nhất với nhau trong lợi ích chung của cả dân tộc. Đất nớc mất độc lập thì
không có ai đợc tự do (trừ những kẻ làm tay sai cho giặc ngoại xâm).
Chính vì vậy dân tộc Việt Nam đất không rộng, ngời không đông, điều kiện
thiên nhiên khắc nghiệt, để chống lại các thế lực phơng Bắc mạnh hơn gấp nhiều
lần thì không có vũ khí nào khác hơn ngoài đoàn kết. Có đoàn kết mới làm nên sức
mạnh, đoàn kết trở thành nhu cầu tất yếu của dân tộc Việt Nam. Nó đi vào tâm
thức của mỗi một ngời dân mất nớc hình thành nên chủ nghĩa yêu nớc.
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời gây nền độc lập
Cùng Hán, Đờng, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phơng
Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau
Song hào kiệt đời nào cũng có
(Nguyễn Trái - Bình Ngô Đại Cáo)
- Yêu nớc là ý chí sắt đá, quyết tâm cao độ nhằm đánh đuổi ngoại xâm, giữ
gìn phong tục, khẳng định chủ quyền quốc gia dân tộc:
"Đánh cho để dài tóc
Đánh cho để đen răng
Đánh cho nó chích luân bất phản
Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn
Đánh cho sử tri nam quốc anh hùng chi hữu chủ"[37-1-353]
Chính chủ nghĩa yêu nớc truyền thống ấy là động lực tinh thần thôi thúc cả
dân tộc Việt Nam đứng lên chiến đấu bảo vệ giang sơn đất nớc. Nó đã hun đúc lên
các vị anh hùng dân tộc nổi tiếng. Nó đã tạo nên sức sống trờng tồn cho dân tộc
Việt Nam. Chính vì thế nó đã làm nên 3 sự kiện nổi bật nh các nhà nghiên cứu thế
giới đã nhận xét ở trên.
Song chủ nghĩa yêu nớc Việt Nam truyền thống (mà ngời đại diện là giai cấp
địa chủ và các triều đại phong kiến) mang tính giai cấp, tuy rất mờ nhạt. Yêu nớc
là trung quân (Sông núi nớc Nam Vua Nam ở); là sự khẳng định và thừa nhận thể
chế quân chủ (Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời gây nền độc lập;Cùng Hán, Đ-
ờng, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phơng)
Cho đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa yêu nớc truyền thống đã
tỏ ra bất lực trớc các nhiệm vụ lịch sử.
20
Website: Email : Tel : 0918.775.368
ý thức xã hội có tính độc lập tơng đối so với tồn tại xã hội. Trên một khía
cạnh nhất định, sự độc lập tơng đối ấy thể hiện sự bảo thủ lạc hậu của ý thức xã
hội đối với tồn tại xã hội. Tồn tại xã hội ở Việt Nam vào thời kỳ này với một kết
cấu xã hội giai cấp, quan hệ dân tộc - giai cấp nh vậy (xem mục 1.1.2) thì chủ
xã hội có giai cấp đối kháng.
21
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Lê-nin trên cơ sở tổng kết những t tởng của Mác và Ăng-ghen về những đặc
trng căn bản phân chia các giai cấp trong xã hội đã đa ra định nghĩa nổi tiếng về
giai cấp.
Ngời ta gọi là giai cấp những tập đoàn to lớn gồm những ngời khác nhau
về địa vị của họ trong một hệ thống sản xuất nhất định trong lịch sử, khác nhau
về quan hệ của họ (thờng thòng thì những quan hệ này đợc pháp luật quy định
và thừa nhận) đối với t liệu sản xuất, về vai trò của họ trong tổ chức, lao động
xã hội và nh vậy là khác nhau về cách thức hởng thụ và về phần của cải xã hội ít
hoặc nhiều mà họ đợc hởng. Giai cấp là những tập đoàn ngời mà tập đoàn này
thì có thể chiêm đoạt lao động của tập đoàn khác, do chỗ các tập đoàn đó có
địa vị khác nhau trong một chế độ kinh tế - xã hội nhất định[3-39-17,18]. Nh
vậy chủ nghĩa Mác Lênin xác định các giai cấp trên các phơng thức sản xuất nhất
định trong một hệ thống sản xuất xã hội nhất định trong lịch sử . Trong các ph-
ơng thức ấy các giai cấp khác nhau về quan hệ sở hữu, về tổ chức quản lý sản xuất,
về cách thức và số lợng sản phẩm đợc hởng thụ.
Phơng thức sản xuất thay đổi đã dẫn đến sự thay đổi của các hình thức cộng
đồng ngời trong lịch sử. Từ thị tộc, bộ lạc, bộ tộc, xã hội loại ngời chuyển lên
thành các dân tộc. Tùy theo đặc điểm không gian, thời gian mà sự hình thành dân
tộc ở mỗi nơi gắn với một phơng thức sản xuất, một chế độ xã hội nhất định, khác
nhau.
Dân tộc ở châu Âu ra đời gắn với phơng thức sản xuất t bản chủ nghĩa. Mác
và Ăng-ghen đã chỉ rõ, sự hình thành dân tộc, nhìn chung, gắn với thắng lợi của
phơng thức sản xuất t bản chủ nghĩa đối với phơng thức sản xuất phong kiến.
Giai cấp t sản ngày càng xóa bỏ tình trạng phân tán của t liệu sản xuất,
của tài sản & của dân c. Nó tụ tập dân c, tập trung các t liệu sản xuất và tích tụ
tài sản vào trong tay một số ít ngời.
Kết quả tất nhiên của những thay đổi ấy là sự tập trung về Chính trị.
thù địch giữa các dân tộc cũng mất [2-1-565].
Đồng thời chủ nghĩa Mác Lênin hoàn toàn xa lạ với quan điểm tuyệt đối hóa
nhân tố giai cấp, coi nhẹ vai trò của nhân tố dân tộc. Bởi vì kể từ khi có dân tộc thì
cộng đồng xã hội dân tộc là địa bàn trực tiếp của các quá trình kinh tế xã hội, các
cuộc đấu tranh giai cấp, các biến cố chính trị, các cuộc cách mạng xã hội. Không
có một nớc nào mà giai cấp t sản có thể nắm quyền thống trị mà lại không có
độc lập dân tộc không khôi phục lại độc lập thống nhất cho từng dân tộc thì về
phơng diện quốc tế, không thể thực hiện đợc sự đoàn kết giai cấp vô sản và sự
hợp tác hòa bình và tự giác giữa các dân tộc đó để đạt tới những mục đích
chung [2-1-534]
Dân tộc là địa bàn trực tiếp của cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp công
nhân. Sự nghiệp cách mạng của giai cấp này trong mỗi nớc là sự nghiệp có tính
chất dân tộc sâu sắc: Cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống lại giai cấp t
sản, dù về mặt nội dung, không phải là một cuộc đấu tranh dân tộc, nhng lúc
đầu lại mang hình thức đấu tranh dân tộc. Đơng nhiên là trớc hết, giai cấp vô
sản mỗi nớc phải thanh toán xong giai cấp t sản nớc mình đã [2-1-555].
23
Website: Email : Tel : 0918.775.368
áp bức giai cấp sinh ra áp bức dân tộc. Công nhân trong điều kiện ấy không
có quyền dân tộc nh Mác đã nói: Công nhân không có tổ quốc. Ngời ta không
thể cớp đi của họ cái mà họ không có. Vì giai cấp vô sản mỗi nớc trớc hết phải
dành lấy chính quyền, phải tự xây dựng thành một giai cấp dân tộc, phải tự mình
trở thành dân tộc [2-1-565]
Là đại biểu chân chính của lợi ích và truyền thống dân tộc, giai cấp công
nhân có khả năng đoàn kết mọi lực lợng yêu nớc và cách mạng xây dựng mặt trận
dân tộc trong cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, đấu tranh giải phóng dân tộc ở thuộc địa và đấu
tranh giai cấp ở chính quốc có quan hệ, tác động lẫn nhau hết sức mật
thiết. Đấu tranh dân tộc chứa đựng những nội dung giai cấp sâu sắc. Nó
không chỉ là kết quả mà còn là nguyên nhân làm cho đấu tranh giai cấp
"Không có sự cố gắng tự nguyện tiến tới sự liên minh và sự thống
nhất của giai cấp vô sản, rồi sau nữa của toàn thể quần chúng cần lao
thuộc tất cả các nớc và các dân tộc trên toàn thế giới, thì không thể
chiến thắng hoàn toàn chủ nghĩa t bản đợc". [3-41-206].
Những quan điểm nêu trên chủ Lênin chính là sự phát triển và cụ thể
hoá khẩu hiệu "Vô sản toàn thế giới đoàn kết lại" từ thời kỳ CNTB sang
thời kỳ chủ nghĩa đế quốc. Cốt lõi của các quan điểm nêu trên đợc đúc
kết trong khẩu hiệu nổi tiếng của Lênin : "Vô sản tất cả các nớc và các
dân tộc bị áp bức đoàn kết lại".
Những vấn đề dân tộc trong LCLN là vấn đề dân tộc thuộc địa. Nội
dung vấn đề dân tộc thuộc địa là :
-Thủ tiêu sự thống trị của nớc ngoài, các nớc đế quốc.
-Giành độc lập cho dân tộc.
-Thành lập Nhà nớc dân tộc độc lập, thực hiện quyền dân tộc tự
quyết.
Còn vấn đề giai cấp ở trong LCLN là : Việc giải quyết vấn đề dân tộc
thuộc địa sẽ do giai cấp nào đảm nhiệm.
Chính vì thế nội dung của QHGC-DT trong LCLN là quan hệ giữa
giai cấp tiên phong, giai cấp lãnh đạo của dân tộc với toàn thể dân tộc đó.
Tóm lại, Chủ nghĩa Mác Mác Lênin khẳng định rằng, vấn đề dân tộc và vấn
đề giai cấp quan hệ biện chứng với nhau không thể tách rời. Việc giải quyết vấn đề
giai cấp có ý nghĩa quyết định đối với việc giải quyết vấn đề dân tộc. Ngợc lại bất
cứ ở đâu và khi nào thì sự hình thành và phát triển của dân tộc, việc giải quyết vấn
đề dân tộc đều gắn liền với lợi ích giai cấp, đợc chỉ đạo bởi quan điểm của giai cấp
nhất định. Tùy thuộc vào những điều kiện lịch sử cụ thể mà việc giải quyết vấn đề
dân tộc hay vấn đề giai cấp trở thành nhiệm vụ chủ yếu trong từng giai đoạn cách
mạng. Và mối QGGC-DT theo CNMLN nh là quan hệ giữa cái bộ phận với cái
toàn thể. Nh là quan hệ giữa phần tử chính, chủ yếu của hệ thống với hệ thống đó.
Khi mà phần tử này giữ vai trò chỉ đạo, chi phối các phần tử khác, và phù hợp ở
một mức độ nhất định đối với toàn hệ thống thì phần tử này sẽ giữ vai trò thống trị.