Thức trạng giải quyết vấn đề sở hữu và thành phần kinh tế ở nước ta trong những năm gần đây - Pdf 29

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Lời mở đầu
Các-Mác khi nghiên cứu phơng thức sản xuất t bản chủ nghĩa, ông đã quan niệm:
Trong mỗi thời đại lịch sử, quyền sở hữu đã phát triển theo nhiều hớng khác nhau và
trong một loạt những quan hệ sản xuất khác nhau. Cho nên định nghĩa quyền sở hữu t
sản không phải là cái gì khác mà là trình bày tất cả những quan hệ xã hội của phơng
thức sản xuất t bản chủ nghĩa. Nh vậy sở hữu là một phạm trù kinh tế vừa xuất phát,
vừa là cái cơ bản của kinh tế chính trị. Nó là hình thức xã hội của sự chiếm hữu của cải.
Phạm trù sở hữu khi đợc luật hoá thành quyền sở hữu và quyền sở hữu đợc thực hiện
qua một cơ chế nhất định gọi là chế độ sở hữu. Chế độ sở hữu là vấn đề cơ bản nhất của
chế độ kinh tế -xã hội. Chỉ khi nào giải quyết đúng đắn vấn đề sở hữu mới có căn cứ để
giải quyết các vấn đề về động lực, lợi ích kinh tế, chính trị, pháp quyền và xã hội. Hình
thức, phạm vi, mức độ sở hữu phụ thuộc vào trình độ phát triển của lực lợng sản xuất
trong từng thời kì lịch sử nhất định. Sự thay đổi của các hình thức sở hữu trong lịch sử
không do ý chí của con ngời mà là quá trình phát triển của tự nhiên.
Đối với nớc ta, trên con đờng phát triển, chúng ta nhất định và tất yếu phải trải qua
thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội lâu dài với nhiều hình thức kinh tế-xã hội có
tính chất quá độ. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng đã xác định
còn tồn tại ba hình thức sở hữu cơ bản. Các hình thức này có thể đan xen, hỗn hợp.
Trên cơ sở các hình thức sở hữu cơ bản đó đã hình thành nên nhiều thành phần
kinh tế đa dạng. Dới đây, em xin trình bàymột vài vấn đề cơ bản về mối quan hệ
giữa sở hữu và các thành phần kinh tế ở nớc ta hiện nay, thực trạng giải quyết vấn
đề sở hữu và các thành phần kinh tế ở nớc ta trong những năm gần đây và các giải
pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy quá trình phát triển ở nớc ta trong thời gian tới.
Là một sinh viên,lần đầu tiên đợc làm quen với công việc nghiên cứu và thời
gian chuẩn bị không cho phép, do đó không thể tránh khỏi những sai sót. Em rất
mong nhận đợc sự giúp đỡ của thầy để có thể hoàn thiện thêm kiến thức của mình.
Em xin chân thành cảm ơn.
1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Phần I: Quan hệ sở hữu và các thành phần kinh tế

quan hệ sở hữu này đợc thể hiện trên tất cả ở bốn khâu của quá trình tái sản xuất
xã hội: sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng. Quan hệ sở hữu về t liệu sản xuất
là cơ sở, nội dung quan trọng nhất, là căn bản nhất của một kiểu quan hệ sản xuất
nhất định, nó quyết định bản chất của kiểu quan hệ sản xuất, cơ cấu giai cấp xã
hội,mục đích phát triển kinh tế xã hội...Sở hữu là một mặt cơ bản của quan hệ sản
xuất, nó vận động cùng với sự vận động của hệ thống quan hệ sản xuất mà trớc hết
là gắn liền với quan hệ lợi ích kinh tế và những hình thức kinh tế nhất định. Cho
nên khi nghiên cứu sở hữu không thể tách rời những mặt khác của quan hệ sản
xuất, quan hệ kinh tế-xã hội. Vậy sở hữu là một hình thức nhất định đợc hình
thành trong lịch sử về chiếm hữu của cải vật chất xã hội. Sở hữu là mối quan hệ cơ
bản nhất của con ngời với con ngời về sự chiếm hữu của cải xã hội. Sở hữu là hình
thức xã hội của hành vi chiếm hữu trong các loại hình kinh tế xã hội nhất định. Sở
hữu là một phạm trù lịch sử, biến đổi cùng với sự biến đổi của hình thái xã hội
trong lịch sử. Do vậy hình thức, mức độ và phạm vi sở hữu phụ thuộc vào trình độ
phát triển của lực lợng sản xuất trong từng thời kì lịch sử nhất định. Sự thay đổi
các hình thức sở hữu trong lịch sử không do ý chí của con ngời quyết định mà do
quá trình phát triển của tự nhiên.
Sở hữu t liệu sản xuất là hình thái xã hội của sự chiếm hữu về t liệu sản xuất-
một nội dung chủ yếu trong hệ thống sản xuất.Những hình thức, mức độ, phạm vi
của sở hữu t liệu sản xuất cũng giống nh sở hữu là không phải do con ngời quyết
định mà là do quá trình của tự nhiên. Điều đó có nghĩa là sự xuất hiện, tồn tại,phát
triển và chuyển hoá các hình thức sở hữu về t liệu sản xuất là do tính chất và sự
phát triển của một lực lợng sản xuất tơng ứng quyết định. Hay nói cách khác,sự
biến đổi của các hình thức sở hữu đợc quyết định bởi quy luật quan hệ sản xuất
phải phù hợp với tính chất và trình độ của lợng sản xuất.
Trên cơ sở xác định quan hệ sở hữu phụ thuộc vào trình độ phát triển của lực l-
ợng sản xuất, Các-Mác đã cho rằng các thể chế, thiết chế chính trị, pháp luật
chẳng qua chỉ phản ánh và bảo vệ quan hệ sở hữu và nó thay đổi cùng với sự thay
3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

quan trọng là phải biết nắm đối tợng sở hữu chủ yếu để tác động, điều chỉnh quan
hệ kinh tế theo định hớng xã hội nhất định.
Nội dung chính của sở hữu là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định
đoạt.
- Quyền chiếm hữu là yếu tố đầu tiên bao trùm của sở hữu-tức là chủ sở hữu tự
mình nắm giữ và quản lí t kiệu sản xuất theo ý của mình. Quyến chiếm hữu tơng
đối ổn định, tĩnh tại, nhng đôi khi chỉ là quyền danh nghĩa.
- Quyền sử dụng là quyền sử dung đối tợng sở hữu theo mục đích và nguyện vọng
của ngời sử dụng. Sở hữu với t cách là ngời chủ sở hữu và ngời sử dụng đối tợng sở
hữu, có thể thống nhất ở một ngời hoặc có thể phân chia ra giữa nhiều ngời. Điều
này có nghĩa là ngời sử dụng đối tợng sở hữu có thể không phải là ngời chủ sở
hữu, hoặc ngợc lại ngời chủ sở hữu có thể không phải là ngời sử dụng đối tợng sở
hữu. Ví dụ nh trờng hợp ngời công nhân làm thuê có thể sử dụng t liệu sản xuất
mặc dù anh ta không phải là ngời chủ sở hữu nó, hoặc ngợc lại, ngờichủ khách sạn
có thể không sử dụng khách sạn của mình mặc dù anh ta là ngời sở hữu nó. Nếu
ngời sử dụng đối tợng sở hữu không phải là ngời chủ sở hữu thì anh ta chỉ có thể
thực hiện quyền sử dụng nó trong thời gian và do ngời chủ sở hữu đặt ra.
- Quyền định đoạt là quyền thực hiện toàn diện đối với đối tợng sở hữu. Nó đem
lại cho chủ thể quyền và khả năng sử dụng đối tợng sở hữu theo bất cứ cách nào,
kể cả việc chuyển nó cho ngời khác, thay đổi nó một cách sâu sắc, cải tạo nó
thành một đối tợng sở hữu khác thạm chí có thể huỷ bỏ nó. Chủ thể của quyền
định đoạt cũng có khả năng thực hiện những thẩm quyền cơ bản của ngời chủ sở
hữu: xác định các phơng thức sử dụng đối tợng sở hữu, kí kết các hợp đồng kiên
quan tới đối tợng sở hữu. Trên thực tế, ngời chủ sở hữu chỉ thực sự là ngời chủ sở
hữu khi anh ta có quyền và có khả năng hiện thực định đoạt đối tợng sở hữu. Do
vậy ngời sử dụng đói tợng sở hữu cũng có thể là ngời chủ sở hữu nếu anh ta có
quyền chiếm hữu và quyền định đoạt. Về thực chất, khi trao hoặc chuyển quyền
định đoạt cho ngời khác, cũng có nghĩa là chuyển các thẩm quyền sở hữu cho ngời
khác.
5

6
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
là sở hữu về đất đai, hầm mỏ... mà còn có những sở hữu về trí tuệ, sở hữu về công
nghệ, sở hữu vô hình (uy tín) của doanh nghiệp- một tài sản vô giá trong nền kinh
tế thị trờng. Qua đó ta thấy rằng dơng nh vai trò của các yếu tố vật chất (t liệu sản
xuất) có phần giảm đi, còn vai trò của các yếu tố phi vật chất (tổ chức sản xuất,
phơng thức kinh doanh, thông tin quản lí...) có phần tăng lên. Tuy nhiên điều đó
không có nghĩa là trong các đối tợng sở hữu, t liệu sản xuất đã rơi xuống hàng thứ
yếu mà chỉ có nghĩa là nó không còn là đối tợng sở hữu duy nhất.
3. cơ cấu sở hữu của nớc ta trong giai đoạn hiện nay
ở nớc ta nhiều năm trớc đây đã ồ ạt xoá bỏ chế độ t hữu, sác lập chế độ công hữu
về t liệu sản suất dới hai hình thức sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể. Đại hội lần
th IV của đảng đã phát hiện và kiên quyết thông qua đổi mới và khắc phục sai lầm
đó, băng cách thừa nhận vai trò và sự tồn tại của hình thức t hữu trong tính đa dạng
của các hình thức sở hữu.
Đây là một bớc ngoặt mang tầm vóc chiến lợc mới thể hiện sự đổi mới của Đảng
ta. Cần có cách tiếp cận khoa học, không giáo điều, không cực đoan hoặc phiến
diện khi đổi mới và xác lập chế độ sở hữu. Cách tiếp cận đó là:
- Với t cách là nền tảng kinh tế của một chế độ xã hội vì vậy việc xác lập chế
độ sở hữu phải dựa trên cơ sở định hớng XHCN.
- Phải xuất phát từ trình độ phát triển của lực lơng sản xuất để đổi mới và xác
lập các hình thức sở hữu về t liệu sản xuất trong cơ cấu của nó.
- Phải lấy hiệu quả kinh tế_xã hội làm thớc đo việc đổi mới và xác lập chế độ
sở hữu trong từng thời kỳ.
- Để tránh tình trạng sở hữu hình thức, làm chủ hình thức nh trớc đây, cần
gắn sở hữu với lợi ích kinh tế, vì lợi ích kinh tế là bản chất kinh tế của sở
hữu.
- Phải đặt nó trong mối quan hệ với trình độ xã hội hoá lực lợng sản xuất:
trong mối quan hệ với quan hệ quản lý và quan hệ phân phối: trong mối
quan hệ với tính đặc thù của từng lĩnh vực, từng ngành nghề sản xuất kinh

- trớc đây ở nớc ta, hình thức sở hữu tập thể chủ yếu tồn tại dới hình thức hợp
tác xã ( gồm cả hợp tác xã nông ngiệp và tiểu thủ công ngiệp), với nội dung
8


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status