BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 NGUYỄN THỊ THƠM
NHÂN VẬT TRẺ THƠ TRONG TRUYỆN
CỔ TÍCH VÀ Ý NGHĨA GIÁO DỤC ĐỐI
VỚI HỌC SINH TIỂU HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục học Bậc Tiểu học
Mã số: 60 14 01 01 LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN THỊ NHÀN HÀ NỘI, 2013 LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tôi, chưa từng
được công bố ở bất cứ tài liệu nào khác. Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách
nhiệm. Hà Nội, ngày tháng năm 2013
Tác giả Nguyễn Thị Thơm
Chương 3. HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT TRẺ THƠ TRONG
TRUYỆN CỔ TÍCH Ở SÁCH TIẾNG VIỆT TIỂU HỌC VÀ Ý
NGHĨA GIÁO DỤC ĐỐI VỚI HỌC SINH
3.1. Truyện cổ tích về nhân vật trẻ thơ trong chương trình Tiểu học 59
3.1.1. Thống kê 59
3.1.2. Nhận xét 63
3.2. Ý nghĩa giáo dục đối với học sinh Tiểu học, thông qua việc dạy các
phân môn có truyện cổ tích về nhân vật trẻ thơ 66
3.2.1. Giáo dục nhận thức 67
3.2.2. Giáo dục, bồi dưỡng năng lực văn – Tiếng Việt 75
3.2.3. Giáo dục đạo đức 82
3.2.4. Giáo dục thẩm mỹ 85
KẾT LUẬN 89
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
1 MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1. Cùng các thể loại văn học dân gian khác, truyện cổ tích là di sản tinh
thần vô giá của cha ông để lại. Đằng sau những lời kể giản dị là những cuộc
đời, những số phận, những chuyện buồn vui của cuộc đời. Đến với cổ tích ta
còn gặp những ước mơ khát vọng của con người về một cuộc sống tốt đẹp
hơn. Gần gũi chân thực và cũng giàu chất thơ, cổ tích dắt ta đi giữa đôi bờ hư
thực. Con người được an ủi động viên vượt qua những trắc trở, khó khăn để
kiên trì vượt lên trong cuộc sống Những điều như thế khiến cổ tích là người
bạn đường của nhân dân xưa và nay.
Xuất phát từ thực tế ấy, sách Tiếng Việt Tiểu học đã bố trí “văn bản”
truyện cổ tích từ lớp 1 đến lớp 5 và được dạy học trong các phân môn: Tập
đọc và Kể chuyện. Điều đó chứng tỏ vị trí của mảng sáng tác này. Và dĩ
nhiên, trong các truyện cổ tích góp mặt trên trang sách Tiếng Việt có những
lời kể về nhân vật trẻ thơ.
Với những lý do như trên, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Nhân
vật trẻ thơ trong truyện cổ tích và ý nghĩa giáo dục đối với học sinh Tiểu
học”.
2. Lịch sử vấn đề
Với sự tiếp cận hạn hẹp của mình, trong phần Lịch sử vấn đề này,
chúng tôi xin trình bày một số ý kiến tiêu biểu của giới nghiên cứu xoay
quanh truyện cổ tích nói chung và truyện kể có nhân vật trẻ thơ.
Nhìn một cách khái quát, các nhà văn, nhà nghiên cứu phê bình văn học
thường đưa ra nhận định về giá trị của cổ tích. Chúng góp phần mang lại cho
3 người nghe / người đọc những món quà tinh thần vô giá. M. Gorki nhận xét:
“Truyện cổ tích luôn luôn chiếu rọi ánh sáng vào một thế giới khác”. Thế giới
trong truyện cổ tích dường như không thực với những gì đang có và đã có. Vì
vậy, đây chính là thế giới của ước mơ. Thế giới này hoàn toàn phù hợp với
tâm lý thiếu nhi – một lứa tuổi mà trí tưởng tuợng đang hình thành và phát
triển.
Bài viết của nhà nghiên cứu Tạ Phong Châu khi nhận xét về Kho tàng
truyện cổ tích Việt nam của Nguyễn Đổng Chi, đăng trên tạp chí Văn học số 2
– 1975, có nhận xét như sau: “Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam của Nguyễn
Đổng Chi đánh dấu một bước tiến quan trọng trong công tác sưu tầm, giới
thiệu nghiên cứu truyện cổ tích Việt Nam, nó đạt được những thành tựu vững
chắc hơn các truyện cổ tích đã xuất bản từ trước tới nay về cả nội dung và
hình thức” [14, tr.1005]. Bàn về nghệ thuật kể chuyện cổ tích của Nguyễn
cập đến những vấn đề đặc trưng cơ bản của thể loại truyện cổ tích: “Đó là tính
dân tộc và tính quốc tế, tính địa phương và tính toàn dân của truyện cổ tích, là
vấn đề hình thái biểu hiện của nội dung đấu tranh xã hội trong thể loại này, là
vấn đề phương pháp nghệ thuật trong truyện cổ tích, là vấn đề tâm lý của
nhân dân khi sáng tác và lưu truyền tác phẩm văn học dân gian”.
Trong bộ giáo trình Văn học dân gian Việt Nam, khi đưa ra định nghĩa
về truyện cổ tích, ông cũng nêu lên khá nhiều đặc điểm quan trọng của truyện
cổ tích cũng như những dấu hiệu nhận biết thể loại này. Trong đó tác giả nhận
định rằng: “Nhân vật chính trong truyện cổ tích là người, lấy nguyên mẫu
trong xã hội loài người. Nếu có một số nhân vật là thần linh hoặc được xây
dựng trên cơ sở nhân cách hóa các hiện tượng thiên nhiên thì đó cũng chỉ là
nhân vật phụ”.
5 Tác giả Nguyễn Thị Huế với bài viết: “Nhân vật xấu xí mà có tài trong
truyện cổ tích các dân tộc Việt Nam” – TCVH, số 5/1991 cho rằng: Yếu tố
thần kỳ nằm ngay trong bản thân nhân vật chính như: Sọ Dừa, con cóc, ếch,
Trong cuốn Những đặc điểm thi pháp của các thể loại văn học dân
gian, Đỗ Bình Trị đã rút ra những kết luận có ý nghĩa khái quát về nghệ thuật
trong truyện cổ tích thần kỳ và truyện cổ tích sinh hoạt nói chung. Ông cũng
có nhận xét về nhân vật, tác giả cho rằng: “Nếu nhân vật trong truyện cổ tích
thần kỳ thường đi qua những không gian rộng lớn, kỳ ảo, từ xứ sở này sang
xứ sở khác: đến nơi cuối đất cùng trời, xuống cõi âm, xuống thủy phủ, lên
tiên, thì “không gian và thời gian “cổ tích” trong truyện cổ tích sinh hoạt
của nhưng câu chuyện kể chẳng những không mấy xa lạ, cách biệt với người
nghe mà còn quen thuộc với họ: khung cảnh nông thôn và gia đình nông dân;
những truyện áp bức bóc lột và đời sống xã hội trong làng xã; kẻ buôn bán và
trong truyện lừa đảo; người học trò và truyện thi cử; chốn cửa quan và truyện
kiện tụng. Câu chuyện như xảy ra không xa, mà cũng chưa lâu trong cuộc đời
liên quan trực tiếp đến đề tài “ Nhân vật trẻ thơ trong truyện cổ tích (khảo sát
qua kho tàng truyện cổ tích Việt Nam của Nguyễn Đổng Chi và truyện cổ tích
Việt Nam của Nguyễn Cừ)” nhưng những công trình này đã gợi ý và làm nền
tảng cho những hiểu biết của chúng tôi trong việc nghiên cứu đề tài luận văn.
Đặc biệt là sự lưu tâm đến các nhân vật của cổ tích trong đó có nhân vật là
trẻ thơ. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng khẳng định chưa có một đề tài nào đi sâu
nghiên cứu vấn đề này. Đặc biệt những truyện cổ tích có những nhân vật trẻ
thơ trong sách Tiếng Việt Tiểu học cũng chưa được quan tâm. Vì thế chúng
tôi thấy còn có những mảng trống dành cho ý tưởng khoa học của mình,
khuyến khích chúng tôi thực hiện đề tài này.
7 3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
- Luận văn hướng tới khẳng định giá trị nội dung và nghệ thuật mảng
truyện cổ tích xuất hiện nhân vật trẻ thơ: đặc điểm nhân vật trẻ thơ, nghệ thuật
xây dựng nhân vật (thuộc diện khảo sát của đề tài).
- Tìm hiểu “văn bản” những truyện cổ tích có nhân vật trẻ thơ trong
sách Tiếng Việt Tiểu học và ý nghĩa giáo dục đối với học sinh thông qua các
phân môn cụ thể của Tiếng Việt.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Luận văn tìm hiểu những kiến thức lí luận chung có liên quan đến một
số khái niệm như: khái niệm truyện cổ tích, đặc điểm thể loại, quan niệm về
nhân vật, các biện pháp xây dựng nghệ thuật nhân vật…
- Luận văn khảo sát và chỉ ra những đặc điểm nhân vật trẻ thơ trong
những truyện cổ tích được khảo sát; những phương diện nghệ thuật cơ bản
xây dựng nhân vật trẻ thơ.
- Khảo sát và thống kê những truyện cổ tích được trích học trong sách
Tiếng Việt Tiểu học, đặc biệt truyện cổ tích về nhân vật trẻ thơ, hình tượng
đạo đức, tình cảm nhân đạo…
7. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn được triển khai thành 3
chương:
Chương 1. Những vấn đề chung
Chương 2. Thế giới trẻ thơ trong truyện cổ tích của Nguyễn Đổng Chi
và Nguyễn Cừ
9 Chương 3. Truyện cổ tích về nhân vật trẻ thơ trong sách Tiếng Việt
Tiểu học và ý nghĩa giáo dục
10 NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1. Giới thuyết về truyện cổ tích
Trong kho tàng truyện dân gian, truyện cổ tích là bộ phận lớn nhất, có
lịch sử hình thành, phát triển phong phú, đa dạng. Đây cũng chính là loại
truyện khó minh bạch về khái niệm. Tuy vậy, chúng tôi cũng xin trình bày về
khái niệm của cổ tích, đặc điểm thể loại và sự phân loại cổ tích.
1.1.1. Khái niệm
Từ xưa đến nay, các nhà nghiên cứu về văn học dân gian trên thế giới,
cũng như trong nước đã đưa ra những quan niệm khác nhau về truyện cổ tích,
nhưng chưa có cách diễn đạt về khái niệm cổ tích chung nhất. Tuy nhiên, hiện
nay giới nghiên cứu về truyện dân gian cũng đã có những điểm gần gũi nhau
về quan niệm. Chúng ta có thể điểm qua một số quan niệm tiêu biểu như sau:
hội phong kiến)” [28, tr.61].
Tác giả Chu Xuân Diên trong cuốn Tuyển tập truyện cổ tích Việt Nam
cho rằng, trong hàng loạt định nghĩa đã có về truyện cổ tích, có thể nêu lên
mấy nội dung chung ít nhiều có sự thống nhất như sau:
“Truyện cổ tích nảy sinh từ xã hội nguyên thủy, do đó có những yếu tố
phản ánh quan niệm thần thoại của nhân dân về các hiện tượng tự nhiên và xã
hội có ý nghĩa ma thuật. Song, truyện cổ tích phát triển chủ yếu trong xã hội
có giai cấp nên chủ đề chủ yếu của nó là chủ đề xã hội, phản ánh nhận thức
của nhân dân về cuộc sống xã hội muôn màu muôn vẻ với những xung đột
đặc trưng cho các thời kỳ lịch sử khi đã có tư hữu tài sản, có gia đình riêng, có
mâu thuẫn giai cấp và đấu tranh giai cấp.
12 Truyện cổ tích biểu hiện cách nhìn hiện thực của nhân dân đối với thực
tại, đồng thời nói lên những quan niệm đạo đức, những quan niệm về công lý
xã hội và mơ ước về cuộc sống tốt đẹp hơn cuộc sống hiện tại.
Truyện cổ tích là sản phẩm của trí tưởng tượng phong phú của nhân
dân, và ở một bộ phận chủ yếu, yếu tố tưởng tượng thần kỳ tạo nên một đặc
trưng nổi bật trong phương thức phản ánh hiện thực và ước mơ” [3, tr.4].
Theo Nguyễn Đổng Chi trong Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, thì
“Truyện cổ tích là loại sáng tác văn nghệ của nhân dân. Nó có đặc trưng nghệ
thuật riêng biệt không giống với các loại truyện ngụ ngôn, khôi hài, tiếu lâm,
cũng như có phần khác với thần thoại, truyện tôn giáo và truyện thời sự. Do
tính chất truyền miệng, nó mang hình thức truyện kể chứ không mang hình
thức truyện tả, và do đó cũng không đồng nhất với tiểu thuyết. Nhưng với khả
năng hấp dẫn không kém gì tiểu thuyết, trong một thời kỳ mà tiểu thuyết chưa
phải là thứ nghệ thuật phổ cập, thì nó là một trong những loại hình nghệ thuật
quan trọng, làm nhiệm vụ giải trí cho dân chúng, đồng thời cũng thỏa mãn
nhu cầu cảm thụ thẩm mỹ, nhu cầu giáo dục và đấu tranh trong xã hội” [14,
- Trong truyện cổ tích, “yếu tố thần kỳ” không những mang ước mơ
mãnh liệt, mà còn lưu giữ dấu tích khắc họa lại những thời kỳ lịch sử trong
quá khứ xa xăm của dân tộ.
1.1.2. Đặc điểm thể loại của truyện cổ tích
Thuộc loại hình tự sự dân gian, cổ tích có những đặc điểm riêng so với
các thể loại tự sự khác. Xét trên đại thể, chúng tôi trình bày một số đặc điểm
cơ bản thuộc về đề tài, cốt truyện và nhân vật của cổ tích.
1.1.2.1. Đề tài
Phần lớn truyện cổ tích ra đời khi xã hội đã phân chia giai cấp. Điều đó
quyết định lớn tới vấn đề người kể chuyện quan tâm. Nếu thần thoại chủ yếu
14 phản ánh mối quan hệ con người – thiên nhiên, truyền thuyết phản ánh mối
quan hệ con người và cộng đồng, dân tộc, quốc gia thì cổ tích hướng tới mối
quan hệ giữa con người và con người trong xã hội. Sáng tạo cổ tích, người
nghệ sĩ dân gian nhìn sâu vào những quan hệ trong đời sống con người. Có
thể là quan hệ của những thành viên trong gia đình (anh chị và em út, cô và
cháu, dì ghẻ và con chồng ); quan hệ của những người trong xã hội (địa chủ
và nông dân, người giàu và người nghèo, vua quan và nhân dân ).
Từ những mối quan hệ như thế, con người bộc lộ những phẩm chất,
những “tính cách” khác nhau. Những số phận con người khác nhau trong xã
hội bị chìm nổi hay được hạnh phúc cũng được khắc họa rõ.
Truyện cổ tích khai thác những mảng đề tài khác nhau trong đời sống
nhân sinh.
Truyện cổ tích Việt Nam là những truyện truyền miệng dân gian kể lại
những câu chuyện tưởng tượng xoay quanh một số chủ đề như nhân vật tài
giỏi, nhân vật dũng sĩ, người mồ côi, người em út, người con riêng, người
nghèo khổ, người có hình dạng xấu xí, người thông minh, người ngốc nghếch
chức năng như bộc lộ tốt chủ đề và tư tưởng của tác phẩm.
Truyện cổ tích thường được xây dựng theo một sơ đồ chung nhất định
nào đó và số lượng sơ đồ này là rất ít. Mọi vấn đề nội dung, nghệ thuật của
truyện cổ tích thường tập trung làm nổi bật và bám sát những diễn biến số
phận của nhân vật chính. Kết cấu cốt truyện cổ tích góp phần bộc lộ số phận
của nhân vật chính, những chi tiết phụ không liên quan đến nhân vật chính
nếu có cũng rất ít hoặc bị cắt bỏ.
16 Nhìn một cách khái quát, các truyện cổ tích được Nguyễn Đổng Chi và
Nguyễn Cừ sưu tầm, biên soạn có dạng thức kết cấu của những truyện cổ tích
truyền thống.
Dựa trên kết cấu của những truyện cổ tích truyền thống giới nghiên cứu
phác họa những kiểu sơ đồ phổ biến. Trong cuốn Văn học tập II (Giáo trình
đào tạo giáo viên Tiểu học hệ cao đẳng sư phạm và sư phạm 12+2, NXB Giáo
dục, 1988), tác giả Đỗ Bình Trị đã giới thiệu những kiểu sơ đồ phổ biến làm
nên kết cấu của truyện cổ tích thần kỳ.
Ở dạng thức phổ biến nhất, cổ tích thần kỳ thường có mô hình kết cấu
truyện như sau:
Lai lịch nhân vật (Trung tâm) Hoàn cảnh thử thách
Gặp tai họa Được lực lượng thần kỳ giúp đỡ Kết thúc
có hậu.
Tuy vậy, ở biến thể cổ tích sinh hoạt hay cổ tích loài vật, dạng thức kết
cấu truyện thường diễn tả “đa dạng” hơn. Đặc biệt là phần kết của truyện
không phải lúc nào cũng “có hậu”, vui vẻ. Thậm chí còn là những câu chuyện
buồn. Ví như Làm theo lời vợ dặn, Sự tích chim quốc, Sự tích chim đa đa, Sự
tích chim Hít cô Ở đó, nhân vật trung tâm đều chết.
Ở cổ tích loài vật, thường có lời kể ngắn, ít sự kiện nhưng phần kết khá
linh hoạt. Nhằm mục đích lý giải những đặc điểm, thói quen, tính tình của
thuật (miêu tả, so sánh, …). Điều đó giúp tác giả thể hiện tốt những nội dung
muốn chuyển tới độc giả.
1.1.2.3. Nhân vật
a) Quan niệm về nhân vật văn học
18 Có nhiều cách diễn đạt khác nhau về khái niệm nhân vật, chúng tôi
trích một vài ý kiến sau:
- Lại Nguyên Ân trong cuốn 150 thuật ngữ văn học cho rằng, đó là
“Hình tượng nghệ thuật về con người, một trong những biểu hiệm về sự tồn
tại toàn vẹn của con người trong nghệ thuật ngôn từ. Bên cạnh con người,
nhân vật văn học có khi còn là các con vật, các loài cây, các sinh thể hoang
đường được gắn cho những đặc điểm giống với con người” [tr 249]. Định
nghĩa này của tác giả Lại Nguyên Ân cũng được in trong mục từ “Nhân vật”
của Từ điển văn học (Bộ mới) [tr. 1254].
- Theo Từ điển Tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên): “Nhân vật là đối
tượng (thường là con người) được miêu tả thể hiện trong tác phẩm nghệ thuật
[tr. 711].
- Cuốn Lý luận văn học tập 2 (Trần Đình Sử chủ biên) quan niệm nhân
vật văn học “là nhân vật dùng để chỉ hình tượng các cá thể con người trong
tác phẩm văn học – cái đã được nhà văn nhận thức, tái tạo thể hiện bằng các
phương tiện riêng của nghệ thuật ngôn từ” [tr. 114].
Từ những ý kiến trên, chúng tôi hiểu về nhân vật văn học như sau:
Nhân vật văn học là đối tượng được miêu tả, thể hiện trong tác phẩm nghệ
thuật ngôn từ. Nhân vật văn học thường là con người, cũng có thể được thể
hiện bằng các con vật, các loài cỏ cây hoặc các nhân vật hoang đường khác.
b) Nhân vật truyện cổ tích
- Đối với truyện cổ tích, thế giới nhân vật thường được sáng tạo “phụ
thuộc” chủ yếu vào chủ quan người kể chuyện.
đời tốt đẹp.
20 Nhân vật cổ tích có thể thuộc các lứa tuổi: già, trẻ thơ và thiếu nữ,
chàng trai. Họ có mặt trong các lời kể tùy theo cốt truyện. Các nhân vật trẻ
thơ đề tài luận văn khảo sát là một loại nhân vật như thế.
Nhân vật cổ tích có thể không phải là con người mà là loài vật: con vật
hay hoa lá cỏ cây. Loại nhân vật này làm nên một biến thể sinh động của cổ
tích: Cổ tích loài vật.
Trong các truyện cổ tích, nhân vật trung tâm còn giúp nghệ sĩ dân gian
triển khai mạch kể và bộc lộ chủ đề truyện, thái độ tình cảm của người sáng
tác.
1.1.3. Phân loại truyện cổ tích
Lâu nay, việc phân loại các biến thể (các tiểu loại) truyện cổ tích là một
trong những vấn đề quan tâm của các nhà khoa học trên thế giới. Ở Việt Nam,
giới nghiên cứu đưa ra được một số cách phân loại.
Nguyễn Đổng Chi, trong Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, có đề cập:
“Phân loại truyện cổ tích, một vấn đề đặt ra từ lâu, nhưng vẫn còn mới mẻ”.
Ông cũng trao đổi thêm, khi nói đến mấy tiếng “truyện cổ tích” hay “truyện
đời xưa”, chúng ta sẵn có quan niệm rằng, đấy là một danh từ chung bao gồm
hết thảy các loại truyện do quần chúng vô danh sáng tác và lưu truyền qua các
thời đại. Chính vì đứng trước một kho tàng truyện cổ tích đồ sộ, nên việc xác
định đặc trưng từng loại truyện khác nhau để đi đến phân loại chúng là việc
làm hết sức khó khăn, nhưng lại vô cùng cần thiết, nhất là trong việc giảng
dạy thể loại này ở nhà trường. Trên cơ sở này, ông đã đưa ra cách phân loại
truyện cổ tích thành 3 loại:
1. Truyện cổ tích thần kỳ
2. Truyện cổ tích thế sự (sinh hoạt)
3. Truyện cổ tích lịch sử