Chiến lược phát triển thị trường vốn của Việt Nam trong tương lai - Pdf 29

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Lời nói đầu.
Thị trờng vốn là yếu tố cơ bản nhất của nền kinh tế hiện đại, đóng vai
trò quan trọng sống còn đối với sự phát triển kinh tế của một quốc gia, giá cả
của thị trờng này phản ánh hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh. Khi
nền kinh tế thiếu vắng một thị trờng vốn đợc vận hành hiệu quả. Điều này
cản trở các luồng vốn đến đợc với những doanh nghiệp có khả năng sinh lời
làm trì trệ sự phát triển và tăng trởng của nền kinh tế. Không may mắn là thị
trờng vốn của các nền kinh tế chuyển đổi lại đang ở giai đoạn rất sơ khai của
tiến trình phát triển vì nhiều lý do khác nhau liên quan đến kinh tế, văn hoá
và chính sách. Việt Nam là một trong những quốc gia không nằm ngoài
những khó khăn và vấn đề do sự thất bại của thị trờng gây nên tơng tự nh các
thị trờng vốn đang phát triển khác.
So với các nớc khác, chúng ta đã chậm trễ rất nhiều trong việc định hình
và phát triển thị trờng vốn. Hơn nữa, cho tới nay những vấn đề cơ bản của thị
trờng này vẫn cha đợc giải quyết, trong khi đó, nhu cầu của nền kinh tế đòi
hỏi phải nhanh chóng thúc đẩy quá trình tạo lập và giao lu vốn, đặc biệt là
sớm định hình thị trờng vốn ở nớc ta. Là một yếu tố cấu thành đặc biệt quan
trọng của nền kinh tế thị trờng và nó cũng có đầy đủ các đặc trng của một thị
trờng, nó tồn tại là khách quan và ra đời tự phát trong nền kinh tế thị trờng.
Nhiệm vụ của chúng ta là phải kịp thời nắm bắt đợc nhu cầu khách quan,
nghiên cứu và nhanh chóng đề ra các biện pháp, chính sách kích thích nhanh
quá trình hình thành và điều chỉnh xu hớng hoạt động của thị trờng đặc biệt
này vào quĩ đạo hoạt động có tổ chức và sử dụng hết các u thế, tác dụng của
nó đối với phát triển kinh tế - xã hội với mục đích cung ứng kịp thời các
nguồn vốn cho các nhu cầu về vốn đầu t của nền kinh tế.
Trớc thực trạng trên, là sinh viên chuyên ngành thị trờng chứng khoán
em quyết định chọn đề tài: "Chiến lợc phát triển thị trờng vốncủa Việt
Nam trong tơng lai", với hy vọng qua đây sẽ đợc biết thêm về lý luận của thị
trờng vốn nói chung và thực tiễn hoạt động của thị trờng vốn ở Việt Nam nói
riêng.

khoán là biểu hiện bên ngoài, là hình thức giao dịch vốn cụ thể. Do đó, các
thị trờng này không thể phân biệt, tách rời nhau mà thống nhất và cùng phản
ánh các quan hệ bên trong và bên ngoài của thị trờng t bản.
Hoàng Thị Thanh Huyền - TTCK 42A 2
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Quan điểm thứ hai của đa số các nhà kinh tế cho rằng: Thị trờng
chứng khoán đợc đặc trng bởi thị trờng vốn chứ không phải đồng nhất là
một. Nh vậy theo quan điểm này, thị trờng chứng khoán và thị trờng vốn là
khác nhau, trong đó thị trờng chứng khoán chỉ giao dịch, mua bán các công
cụ tài chính trung và dài hạn nh trái phiếu chính phủ, cổ phiếu và trái phiếu
công ty. Các công cụ tài chính ngắn hạn đợc giao dịch trên thị trờng tiền tệ,
không thuộc phạm vi hoạt động của thị trờng chứng khoán.
Các quan điểm trên đều đợc khái quát dựa trên những cơ sở thực tiễn
và trong từng điều kiện lịch sử nhất định. Tuy nhiên, quan điểm đầy đủ và rõ
ràng, phù hợp với sự phát triển chung của thị trờng vốn hiện nay, đợc trình
bày trong giáo trình là: Thị trờng vốn là thị trờng trong đó diễn ra việc mua
bán các công cụ vay nợ dài hạn nh cổ phiếu, trái phiếu.
Nếu nhìn nhận từ bên ngoài thì thị trờng vốn không chỉ là các sự việc
mua đi bán lại hay chuyển đổi các giấy tờ có giá trị từ trong tay của một chủ
thể này sang tay của một chủ thể khác một cách đơn thuần. Về thực chất đây
là quá trình vận động t bản sở hữu sang t bản kinh doanh. Do đó, các quan hệ
mua, bán các chứng khoán trên thị trờng chứng khoán phản ánh sự thay đổi
các chủ thể sở hữu về chứng khoán. Vì vậy, thị trờng vốn, xét về mặt bản
chất, phản ánh các quan hệ trao đổi mua, bán không phải một số lợng nhất
định các t liệu sản xuất và vốn tiền mặt.
Nghiên cứu thị trờng vốn, chúng ta không thể không đề cập đến những
nội dung cơ bản gắn liền đến hoạt động của thị trờng chứng khoán.
1.2. Cơ cấu thị trờng vốn.
Có thể phân biệt hai dạng cơ cấu của thị trờng vốn căn cứ vào các bộ
phận cấu thành và vào tổ chức của thị trờng vốn

quy mô và phạm vi hoạt động của nó cũng luôn luôn thay đổi. Thị trờng này
rất nhạy cảm với những biến động về kinh tế nh: lạm phát, khủng hoảng, thất
nghiệp, chiến tranh Lý do cơ bản nhất để giải thích ở đây, vì lãi suất cổ
phiếu phụ thuộc vào tình hình sản xuất, kinh doanh của các con nợ ngời
kinh doanh. Lợi nhuận kinh doanh càng cao, thì xí nghiệp càng có nhiều khả
năng trả lợi tức cổ phần cao. Do đó, già trị của xí nghiệp có ảnh hởng lớn
Hoàng Thị Thanh Huyền - TTCK 42A 4
Website: Email : Tel : 0918.775.368
đến giá trị cổ phận. Thị trờng cổ phiếu thờng có doanh số cao nhất về trao đổi
cổ phiếu so với các dạng thị trờng khác. Vì vậy, thị trờng này là bộ phận cấu
thành cơ bản của thị trờng chứng khoán. Nói thị trờng chứng khoán phát
triển, tức là nói đến thị trờng cổ phiếu phát triển, hoặc xây dựng thị trờng
chứng khoán, xét cho cùng là xây dựng và thiết lập thị trờng các cổ phiếu.
1.1.2. Cơ cấu tổ chức của thị trờng vốn.
Cơ cấu tổ chức của thị trờng vốn, trớc hết, gồm: hệ thống các ngân hàng,
các tổ chức tài chính khác và Sở giao dịnh chứng khoán. Thực chất, đây
chính là các tổ chức tài chính trung gian làm nghiệp vụ môi giới chứng
khoán. Nói đến thị trờng chứng khoán, nhiều ngời cho rằng đây là Sở giao
dịch chứng khoán. Thực ra các hoạt động giao dịch chủ yếu diến ra trên Sở
giao dịch. Nhng về mặt lý thuyết, ngời ta thờng phân ra làm hai nấc: thị trờng
sơ cấp và thị trờng thứ cấp.
+ Thị trờng sơ cấp hay thị trờng 1 ( Primary Market ) là thị trờng phát hành
các chứng khoán hay là nơi mua bán các chứng khoán lần đầu tiên. Tại thị tr-
ờng này, giá cả của chứng khoán là giá phát hành. Việc mua bán chứng
khoán trên thị trờng sơ cấp làm tăng vốn cho nhà phát hành. Thông qua việc
phát hành chứng khoán, Chính phủ có thêm nguồn thu để tài trợ cho các dự
án đầu t hoặc chi tiêu dùng của Chính phủ, các doanh nghiệp huy động vốn
trên thị trờng nhằm tài trợ cho các dự án đầu t.
+ Thị trờng thứ cấp hay thị trờng cấp 2 ( Secondary Market ) là thị trờng
giao dịch mua bán, trao đổi những chứng khoán đã đợc phát hành nhằm mục

trên 1 năm. Chúng có giao động giá rộng hơn nhiều so với công cụ trên thị tr-
ờng tiền tệ và đợc coi là những đầu t thực sự có rủi ro. Về mặt lịch sử, các
công cụ của thị trờng vốn có tên chung là các chứng khoán dài hạn. Chứng
khoán dài hạn cũng có rất nhiều loại, để thuận tiện cho việc nghiên cứu, cần
thiết phải phân biệt chúng theo những đặc điểm nhất định.
Trớc hết, chứng khoán là các giấy tờ có giá và có khả năng chuyển nh-
ợng, xác định số vốn đầu t ( t bản đầu t ); chứng khoán xác nhận quyền sở
hữu hoặc quyền đòi nợ hợp pháp, bao gồm các điều kiện về thu nhập và tài
sản trong một thời hạn nào đó. Tuỳ theo cách chọn tiêu thức, ngời ta có thể
Hoàng Thị Thanh Huyền - TTCK 42A 6
Website: Email : Tel : 0918.775.368
phân loại chứng khoán thành nhiều loại khác nhau. Tuy nhiên cách phân chia
dựa vạo khả năng thu nhập là chủ yếu và thờng gặp. Căn cứ vào từng loại thu
nhập, chứng khoán đợc chia làm các loại sau:
+ Chứng khoán có thu nhập cố định
+ Chứng khoán có thu nhập biến đổi
+ Chứng khoán hỗn hợp
1.3.1. Chứng khoán có thu nhập cố định
Là loại chứng khoán có quyền yêu cầu thu nhập cố định, đây là loại
giấy ghi nợ có xác định tỉ lệ tiền lãi hàng năm phải trả cho ngời sở hữu. Thu
nhập của loại chứng khoán này không phụ thuộc vào kết quả hoạt động của
nhà phát hành. Nó có thể là chứng khoán vô danh hoặc là chứng khoán đích
danh, có thể là tín phiếu, trái phiếu hoặc cổ phiếu u đãi. Đối với chứng khoán
có thu nhập cố định, lợi tức thờng đợc trả theo quý, theo kỳ hạn nửa năm
hoặc 1 năm. Mỗi loại chứng khoán có quy định thời hạn trả lợi tức khác
nhau. Nếu trong khoảng thời gian trả lợi tức có sự thay đổi quyền sở hữu đối
với các chứng khoán này thì phần lợi tức sẽ đợc thanh toán cho ngời thụ hởng
tuỳ thuộc thời điểm mua bán và thời điểm trả lợi tức theo quy định của pháp
luật.
Theo đối tợng phát hành, chứng khoán có thu nhập cố định bao gồm

nguyên tắc trái phiếu công nghiệp đợc phát hành với lãi suất cao hơn so với
những chứng khoán có thu nhập cố định trên trong cùng một thời điểm. Các
công ty muốn phát hành trái phiếu phải đợc Nhà nớc cấp giấy phép ( thông
qua uỷ ban chứng khoán Quốc gia ).
Việc phát hành trái phiếu ngân hàng và tín phiếu quỹ tiết kiệm nhằm tạo ra
nguồn vốn tín dụng cho chính các tổ chức này hoặc cho các tổ chức tín dụng
có liên quan. Trái phiếu tín dụng và tín phiếu quỹ tiết kiệm đợc chia ra theo
các thời hạn khác nhau với lãi suất khác nhau.Những tín phiếu quỹ tiết kiệm
thờng bị khống chê bởi giới hạn trả lãi. Mua trái phiếu ngân hàng và tín phiếu
quỹ tiết kiệm có lợi là không phải trả lệ phí và đợc bảo hiểm.
Hoàng Thị Thanh Huyền - TTCK 42A 8
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Tín phiếu kho bạc: là loại giấy ghi nợ của kho bạc khi huy động vốn để bổ
sung quỹ ngân sách, có thu nhập cố định có thời hạn từ 6 tháng đến 1 năm do
hệ thống kho bạc Nhà nớc phát hành.Do có rủi ro thấp, tỷ lệ lợi tức của tín
phiếu kho bạc thấp hơn tỷ lệ lợi tức trên thị trờng vốn trong cùng thời điểm.
Tin phiếu kho bạc đợc hệ thống kho bạc Nhà nớc mua vào và bán ra khuôn
khổ của hoạt động thị trờng mở nhằm mục đích điều chỉnh thị trờng tiền tệ.
1.3.2. Chứng khoán có thu nhập thay đổi:
Cổ phiếu thờng đại diện cho loại chứng khoán có thu nhập biến đổi. Thu
nhập do việc sở hữu cổ phiếu mạng lại gọi là cổ tức ( hay lợi tức cổ phần), nó
biến động theo kết quả kinh doanh của công ty. Hình thức khác của loại
chứng khoán này là phiếu tham gia hay chứng chỉ đầu t. Loại này khác với cổ
phiếu thông thờng ở chỗ, nó không đợc quyền tham gia giám sát hoạt động
của công ty. Khi phát hành chứng chỉ đầu t, công ty có thể huy động đợc vốn
vô thời hạn, không chịu rủi ro về chi trả lợi tức cố định nh cổ phiếu u đãi hay
trái phiếu, song không bị pha loãng quyền kiểm soát của cổ đông.
1.3.3. Chứng khoán hỗn hợp:
Loại chứng khoán này vừa mang tính chất của chứng khoán có thu nhập cố
định vừa mang tính chất cuả chứng khoán có thu nhập biến đổi. Việc phát


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status