Dạy thử nghiệm môn tiếng việt lớp 2 theo mô hình trường học mới - Pdf 29

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

LÊ THỊ HUYỀN DẠY THỬ NGHIỆM MÔN
TIẾNG VIỆT LỚP 2 THEO MÔ HÌNH TRƯỜNG HỌC MỚI LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC HÀ NỘI, 2013 HÀ NỘI, 2013 LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới PGS.TS. Đỗ Huy Quang
đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu để hoàn thiện luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm khoa Tiểu học, Phòng Sau
Đại học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, cùng các thầy, cô giáo đã tận
tình giảng dạy, quan tâm tạo điều kiện giúp tôi hoàn thành khóa học.
Tôi xin cảm ơn Ban lãnh đạo Phòng GD & ĐT huyện Đông Anh, Ban
giám hiệu, giáo viên và học sinh trường Tiểu học Uy Nỗ - Đông Anh - Hà
Nội, gia đình, bạn bè đã ủng hộ, động viên và tạo mọi điều kiện cho tôi trong
thời gian học tập, nghiên cứu để hoàn thành luận văn này.
Mặc dù đã cố gắng song có lẽ vẫn còn hạn chế, thiếu sót. Rất mong được
sự đóng góp của thầy, cô giáo và các bạn.
Xin trân trọng cảm ơn! Hà Nội, ngày 5 tháng 12 năm 2013

TÁC GIẢ

Lê Thị Huyền



MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2- Lịch sử vấn đề 5
3- Mục đích nghiên cứu 7
4- Đối tượng nghiên cứu 7
5- Phạm vi nghiên cứu 7
6- Nhiệm vụ nghiên cứu 7
7- Phương pháp nghiên cứu 8
8- Đóng góp của luận văn 8
9- Bố cục luận văn 9
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA MÔ HÌNH TRƯỜNG HỌC MỚI VÀ VIỆC TRIỂN
KHAI MÔ HÌNH TRƯỜNG HỌC MỚI VÀO VIỆT NAM 10
1.1. Mô hình trường học mới của Colombia 10
1.1.1. Escuela Nueva là gì? 10
1.1.2. Lịch sử mô hình trường học mới EN (Escuela Nueva) 10
1.1.3. Những thành tựu đạt được từ quá trình triển khai EN ở Colombia 11
1.1.4. Bài học kinh nghiệm từ quá trình triển khai EN ở Colombia 16
1.2. Chủ trương của Bộ GD&ĐT đưa mô hình trường học mới vào thử
nghiệm ở Việt Nam 17
1.2.1. Giáo dục Việt Nam phải tiến hành đổi mới căn bản, toàn diện 17
1.2.2. Dự án “Mô hình Trường học mới Việt Nam” (VNEN) 27
1.3- Những công việc để mô hình trường học mới triển khai vào Việt Nam. 30
1.3.1. Lập dự án Mô hình trường học mới Việt Nam (VNEN) 30
1.3.2. Tổ chức tập huấn và dạy thử nghiệm 30
1.4- Trường tiểu học Uy Nỗ huyện Đông Anh thành phố Hà Nội dạy thử
nghiệm môn Tiếng Việt 2 theo Mô hình trường học mới (VNEN) 31
CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC DẠY THỬ NGHIỆM MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 2 THEO MÔ
HÌNH TRƯỜNG HỌC MỚI 34
2.1. Công việc chuẩn bị để dạy thử nghiệm môn Tiếng Việt 2 theo mô hình VNEN 34

2.8.1.Tổ chức lớp học dạy thử nghiệm 74
2.8.2. Xây dựng chương trình học thử nghiệm môn Tiếng Việt lớp 2 75
2.8.3. Mô tả bài dạy theo 10 bước học của học sinh và 5 bước dạy của
giáo viên thông qua các bài 5A, 5B, 5C 76
2.9 - Tổ chức rút kinh nghiệm 89

CHƯƠNG 3: BÀI HỌC SƯ PHẠM SAU DẠY HỌC THỬ NGHIỆM THEO MÔ HÌNH
TRƯỜNG HỌC MỚI 92
3.1- Mô hình trường học mới có thể là hình mẫu cho trường phổ thông ở
Việt Nam trong tương lai 92
3.1.1 Mô hình trường học mới có thể đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản
toàn diện nền giáo dục Việt Nam 92
3.1.2. Tài liệu Hướng dẫn học đã hiện thực hóa được những quan điểm và
ý tưởng dạy học của Mô hình trường học mới 94
3.1.3. Về việc dạy và học theo Mô hình trường học mới 104
3.2. Một số vấn đề đặt ra từ thử nghiệm Mô hình trường học mới 106
3.2.1. Một số khó khăn khi dạy học theo Mô hình trường học mới 106
3.2.2. Hướng giải quyết khi tổ chức dạy học theo Mô hình trường học mới 106
KẾT LUẬN 110
TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………………………………… ……….114
PHỤ LỤC

BẢNG KÍ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT


niên hiệu Đại Bảo năm thứ 3” (1442) do Thân Nhân Trung soạn, có đoạn.
“Hiền tài là nguyên khí của quốc gia. Nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà
vươn cao; nguyên khí suy thì thế nước yếu mà xuống thấp. Bởi vậy các bậc
Thánh đế minh vương chẳng ai không lấy việc gây dựng người tài, kén chọn
kẻ sĩ bồi đắp nguyên khí làm việc đầu tiên. Kẻ sĩ đối với đất nước quan trọng
là thế cho nên quý trọng kẻ sĩ không biết thế nào là cùng”
Năm 1996, tiếp nối tư tưởng của ông cha, Ban chấp hành trung ương
Đảng khóa 8, họp hội nghị lần 2 đã ra nghị quyết về “Định hướng chiến lược
phát triển giáo dục đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa”
khẳng định “Giáo dục đào tạo là sự nghiệp của toàn Đảng, của Nhà nước và
của toàn dân”, “Giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu. Giáo dục và đào
tạo cùng với khoa học và công nghệ là nhân tố quyết định tăng trưởng kinh tế
và phát triển xã hội, đầu tư cho giáo dục đào tạo là đầu tư phát triển”
Năm 2013, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn
bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, tiếp tục khẳng định “Giáo dục và đào tạo
là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân.
Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các
chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội”.
Trên thế giới, từ những năm 70 của thế kỷ trước, khi xuất hiện lý luận về
nguồn lực con người (Human Capital Theory) do TW Schultze (Mỹ) khởi
xướng, vai trò của giáo dục càng được đề cao. Phát triển giáo dục trở thành

2

chủ đề quan trọng của các quốc gia tiến hành hiện đại hóa xã hội, bởi vì “Lý
luận về nguồn lực con người” coi giáo dục là một hoạt động đầu tư, giáo dục
có công năng nâng cao sức sản xuất và hiệu xuất lao động, đào tạo nhân tài
cung cấp cho tăng trưởng kinh tế. (dẫn theo Luận về cải cách giáo dục của
Viên Chấn Quốc, NXB Giáo dục 2001)
1.2- Đổi mới Giáo dục và Đào tạo cho phù hợp với yêu cầu của xã hội và

nhu cầu bứt phá để cạnh tranh quốc tế. Các nền giáo dục tiên tiến đều tiến
hành giải phẫu nền giáo dục của mình, chỉ ra những hạn chế và nhấn mạnh
hơn đến vai trò của giáo dục đối với phát triển xã hội và cạnh tranh quốc tế.
Cải cách giáo dục không chỉ giải quyết những vấn đề tự thân của giáo dục mà
là bộ phận cấu thành của việc giải quyết các vấn đề của cả xã hội, thậm chí là
tiền đề giải quyết các vấn đề xã hội. Một cách lập luận hiện nay đã trở thành
quen thuộc với mọi người là: cạnh tranh quốc tế là cạnh tranh về nhân tài,
cạnh tranh nhân tài chung quy lại gốc rễ là cạnh tranh giáo dục. Thậm chí có
người nói, thế kỷ 21 là thế kỷ của giáo dục.
Nền giáo dục Việt Nam từ năm 1981 đến 1996 cũng là nền giáo dục
chuyển từ giáo dục truyền thống, lấy thày giáo làm trung tâm sang giáo dục
hiện đại, lấy học sinh làm trung tâm. Từ năm 1996, khi có Nghị quyết Trung
ương Đảng lần 2 khóa 8, giáo dục Việt Nam được coi là quốc sách hàng đầu
Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển. Bước vào thế kỷ 21 cho đến nay,
giáo dục Việt Nam phát triển theo hướng hội nhập quốc tế, chú trọng đào tạo
nguồn nhân lực chất lượng cao Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã xác định
“Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại
hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế” và “Phát triển nhanh nguồn
nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao”. Giáo dục Việt Nam đang
tìm con đường để bứt phá. 4

1.3- “Mô hình trường học mới” là một lựa chọn của Giáo dục Việt Nam
để phát triển nền giáo dục theo hướng “chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội
hóa, dân chủ hóa, hội nhập quốc tế”
Mô hình trường học mới có xuất xứ từ Côlombia. Thành công nổi trội từ
mô hình này là đề xuất được giải pháp để học sinh tăng cường khả năng tự
học và đảm bảo chất lượng hiệu quả dạy học đạt được như mục tiêu một cách

tài cấp Nhà nước “Mô hình nhà trường mới nhằm phát triển tối ưu trẻ em Việt
Nam bằng giáo dục thực nghiệm”. Đề tài do giáo sư, tiến sĩ khoa học Hồ
Ngọc Đại chủ trì. Quan điểm lý luận về mô hình nhà trường, định hướng lý
luận về trẻ em được diễn đạt như sau: Nhà trường là nơi diễn ra cuộc sống
thực hàng ngày của trẻ em. Trẻ em là linh hồn và chủ thể của nhà trường hiện
đại. Nhà trường hiện đại phải xuất phát từ trẻ em và căn cứ vào trẻ em. Đi
học là hạnh phúc. Mỗi ngày đến trường náo nức một ngày vui. Đề tài nghiên
cứu này được triển khai tại Trung tâm thực nghiệm Giảng Võ, sau đổi thành
Trung tâm Công nghệ giáo dục Giảng Võ, viết tắt là CNGD. Giai đoạn đầu,
Trung tâm làm được rất nhiều việc, góp phần đổi mới giáo dục Việt Nam theo
hướng công nghệ, dạy học bằng quy trình. Hàng loạt thuật ngữ, khái niệm từ
Trung tâm đã đi vào đời sống giáo dục như: việc làm, thao tác, thiết kế, thi
công, từ trừu tượng đến cụ thể… Dạy học bằng kinh nghiệm dần được thay
bằng cách làm khoa học, công nghệ hóa quá trình giáo dụ . Năm 1985, cách
làm của Trung tâm được Bộ Giáo dục và đào tạo cho phép mở rộng phạm vi
thực nghiệm, chuyển giao công nghệ đến 12 tỉnh thành trong cả nước, mỗi
tỉnh chọn một trường. Năm 1995, đề tài được nghiệm thu một phần. Trong số
các môn học ở tiểu học, môn Tiếng Việt và nhất là Tiếng Việt lớp 1 của
Trung tâm được đánh giá là thành công hơn cả. Năm học 1988-1989, Trung
tâm được Bộ cho phát triển, mở rộng đào tạo lên cấp THCS và THPT và cho
một khu đất rất rộng để xây trường học mới với diện tích là 20.000 mét vuông
tại 50 phố Liễu Giai, Hà Nội. Theo Giáo sư Hồ Ngọc Đại, tác giả của “Mô
hình nhà trường mới theo sự phát triển tối ưu trẻ em Việt Nam bằng giáo dục

6

thực nghiệm”, Trung tâm công nghệ đã kết thúc sứ mệnh trong tình huống
như sau: “Đến tháng 4 năm 2007, Bộ trưởng Giáo dục và Đào tạo Nguyễn
Thiện Nhân về thăm Trường Thực nghiệm và làm việc với cán bộ chủ chốt
của Trung tâm. Bộ trưởng hỏi: Thành tựu lớn nhất của 30 năm qua là gì? Tôi

trong đổi mới nhà trường Việt Nam. Cũng thông qua dạy học thực nghiệm,
giáo dục tiểu học huyện Đông Anh sẽ biết rõ hơn, cần phải chuẩn bị tích cực,
chủ động những gì để đón đầu những đổi mới sẽ diễn ra trong giáo dục phổ
thông sau 2015.
4- Đối tượng nghiên cứu
4.1 - Tìm hiểu mô hình trường học mới ở Colombia về cơ sở lý luận của
mô hình, những thành công của mô hình, cách dạy học, cách tổ chức lớp học,
cách tạo mối quan hệ gắn bó giữa trường học với phụ huynh học sinh và cộng đồng.
4.2- Tìm hiểu quá trình tổ chức thử nghiệm dạy học theo mô hình trường
học mới ở Việt Nam, thông qua các tài liệu hướng dẫn dạy học, tài liệu tập
huấn cho giáo viên và thực tiễn dạy học thử nghiệm đang diễn ra ở một số
trường tiểu học được Bộ Giáo dục và Đào tạo chọn làm thí điểm, trong đó có
trường tiểu học Uy Nỗ huyện Đông Anh.
5- Phạm vi nghiên cứu
- Về chương trình và đối tượng học sinh: Thử nghiệm theo sách Hướng
dẫn học Tiếng Việt 2 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Nhà xuất bản Giáo dục
Việt Nam 2012
- Về địa bàn nghiên cứu: Sử dụng kết quả dạy thử nghiệm của một số
trường ở Hà Nội, Bắc Giang, Lào Cai và kết quả triển khai dạy thử nghiệm
trên đối tượng học sinh trường tiểu học Uy Nỗ - huyện Đông Anh – thành phố
Hà Nội. 8

6- Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận văn phải thực hiện những nhiệm vụ cơ
bản sau:
- Tìm hiểu cơ sở lí luận của Mô hình trường học mới ở Colombia và
cách dạy môn Tiếng Việt tiểu học theo Mô hình trường học mới ở Việt Nam

Chương 2 : Dạy thử nghiệm môn Tiếng Việt lớp 2 theo Mô hình trường
học mới.
Chương 3 : Bài học sư phạm sau dạy học thử nghiệm theo Mô hình trường
học mới. 10

CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA MÔ HÌNH TRƯỜNG HỌC MỚI
VÀ VIỆC TRIỂN KHAI MÔ HÌNH TRƯỜNG HỌC MỚI VÀO VIỆT NAM


Có 35 nước đã tới Colombia, tìm hiểu EN để làm cơ sở, động lực cho
chương trình thay đổi nhà trường truyền thống và nâng cao chất lượng giáo
dục của đất nước mình, trong đó có Việt Nam.
Có thể mô tả các bước phát triển của EN thành 4 giai đoạn như sau:
Giai đoạn 1: “Chứng minh tính hiệu quả” (1975-1979)
- Tiến hành những đổi mới ở cấp địa phương/tỉnh
- Xây dựng các phương tiện/công cụ
- Phát triển với quy mô nhỏ
Giai đoạn 2: “Chứng minh tồn tại” (1979-1986)
- Dần mở rộng
- Truyền đạt ý tưởng
- Tác động tới các nhà quản lý
Giai đoạn 3: “Mở rộng”(1987-những năm 90)
- Tiến hành phổ cập ở vùng nông thôn Colombia
- Mở rộng trên phạm vi quốc tế
Giai đoạn 4: “Khôi phục và hồi sinh” (2000 - nay)
- Các hội nghị quốc tế
1.1.3. Những thành tựu đạt được từ quá trình triển khai EN ở
Colombia
1.1.3.1. EN nâng cao chất lượng dạy học ở các vùng miền khác nhau và
với các đối tượng học sinh khác nhau.
Năm 1998: Quỹ Escuela Nueva (ENF) triển khai mô hình trên 20 trường
học có mức thu nhập thấp ở Bogota, với đặc điểm là thành tích học tập yếu
kém nhất trong kỳ kiểm tra chuẩn hóa ở địa phương.

12

Sau 2 năm triển khai, một bản đánh giá được tiến hành bởi Đại học Quốc
gia Colombia đã khẳng định sự tiến bộ về khả năng ngôn ngữ của học sinh lên
tới 40,36% và về toán học là 69%. Những trường học này, vốn có mức xếp

chủ khác.
1.1.3.3. EN chú ý xây dựng phương pháp học tập hợp tác, cộng tác.
EN cho thấy học tập hợp tác có thể tạo những thay đổi tích cực về tính
dân chủ. Nhà trường cũng là nơi hình thành các kỹ năng, giá trị, thái độ về
giao tiếp xã hội thân ái. “Định hướng phương pháp sư phạm hướng tới làm
việc theo nhóm, cùng tham gia, tự học sẽ tạo cơ hội tốt cho việc hình thành
tinh thần dân chủ hơn là đơn thuần thuyết giảng trực tiếp” và “Trường học có
ảnh hưởng tới sự phát triển tinh thần dân chủ và kỹ năng tương tác xã hội thân
thiện ở trẻ em.” Hệ thống trường học có hướng tác động trực tiếp quan trọng
đối với thực tiễn trong các gia đình của trẻ, và đó là điểm khác biệt giữa
trường học thông thường với các trường EN
1.1.3.4. EN biết xây dựng và khai thác tốt mối quan hệ gắn bó giữa nhà
trường, gia đình và cộng đồng xã hội.
Escuela Nueva mang đến cho học sinh một môi trường học tập thân
thiện, tích cực, chú trọng sự tham gia và hợp tác của học sinh với nội dung
học tập, phù hợp hoàn cảnh sống của các em. Điểm đặc biệt là Escuela Nueva
luôn duy trì mối quan hệ tích cực giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng.
Mối quan hệ mật thiết giữa nhà trường và cộng đồng đã tạo ra giao lưu
thường xuyên giữa giáo viên, phụ huynh và học sinh. Phụ huynh được gắn kết
và có trách nhiệm với quá trình học tập của con em mình. Học sinh ở vị trí
trung tâm của quá trình học tập, học tập là sự tham gia, tự định tiến độ, linh
hoạt và có liên hệ với đời sống học sinh. EN đồng thời chú trọng vào tất cả
các nhân tố giáo dục và các biến đổi của toàn hệ thống. Phương pháp đơn
giản, hiệu quả và chi phí hợp lý, nhanh chóng đạt được những kết quả có ý
nghĩa thể hiện qua nhiều mặt (kỹ năng học tập và học thuật, tinh thần dân chủ,
tự tin và lòng tự trọng). EN thể hiện khả năng có thể nâng cao phạm vi giáo
dục, chất lượng, công bằng trong giáo dục phổ thông ở những trường học nơi

14



sinh, giáo viên và cộng đồng là những chủ thể của quá trình đổi mới. Thực
hiện đánh giá thường xuyên kết quả đổi mới nhà trường sẽ giúp duy trì mối
quan tâm và sự công nhận chương trình EN ở quốc gia và quốc tế. Có thể thấy
rõ những thay đổi tích cực của một số yếu tố trong quá trình giáo dục theo mô
hình EN như sau:
Với trẻ em: EN Nâng cao kỹ năng học tập, sự tự tin, lòng tự trọng, kỹ
năng xã hội và tinh thần dân chủ cho mỗi trẻ em.
Với giáo viên: EN nâng cao kỹ năng thực hành giảng dạy, giúp lên kế
hoạch bài giảng, bảo đảm sự hài lòng với công việc, thái độ tích cực, cơ hội
lãnh đạo, và tạo mạng lưới hỗ trợ đồng nghiệp hiệu quả cho mỗi giáo viên.
Phương pháp bối dưỡng giáo viên được thực hiện tương tự như phương pháp
giáo viên sử dụng cho học sinh trên lớp, giúp giáo viên cải tiến kỹ năng giảng
dạy thực hành thành công.
Với gia đình, cộng đồng: EN kết nối, tạo mối liên hệ thường xuyên, chặt
chẽ để phụ huynh học sinh và cộng đồng xã hội tham gia tích cực vào quá
trình giáo dục học sinh.
Với các nhà quản lý giáo dục: EN nâng cao hiệu quả của hệ thống giáo
dục, có nhiều biện pháp để học sinh tự quản, phát huy dân chủ, kết quả học
tập được cải thiện, góp phần làm tăng tỷ lệ học sinh đi học và giảm tỷ lệ học
sinh lưu ban, bỏ học.
1.1.3.7. EN có khung chương trình linh hoạt cho phép thích nghi ở các
quốc gia đa dạng văn hóa-xã hội
EN có khung chương trình linh hoạt, thể hiện được mối quan tâm về
khác biệt văn hóa-xã hội. EN cho phép thích nghi ở các quốc gia đa dạng như:
Brazil – Escola Activa, Guatemala – Escuela Nueva Unitaria, Panama –
Escuela Activa, Chile – Mece Rural, El Salvador – Aulas Alternativas,
Nicaragua – Escuela Modelo, Honduras - Escuela Activa Participativa /
Escuela Nueva, Cộng hòa Dominican - Escuela Multigrado Innovada,
Paraguay – Mita Iru, Mexico – Interactiva Comunitaria, Peru - Aprendes,

thường. Ở những vùng triển khai EN, khả năng nhận thức của phụ huynh học

17

sinh về trách nhiệm cộng tác giáo dục và tác động của nhà trường đối với đời
sống thực tiễn của gia đình học sinh đã tăng lên. EN có nhiều sáng kiến và
việc làm tích cực, tạo mối quan hệ gắn kết giữa lớp học với phụ huynh và
cộng đồng.
1.1.4.4. Xây dựng được bộ Tài liệu hướng dẫn học tập có tính tương tác
cao, học sinh tự học theo quy trình
Tài liệu hướng dẫn học tập của học sinh được xây dựng trên quan điểm
học sinh tự học, tự kiến tạo kiến thức, kỹ năng cho mình và đòi hỏi sự tương
tác liên tục giữa học sinh, giáo viên, phụ huynh, và các thành viên khác trong
cộng đồng. Rất nhiều ý tưởng mới cho dạy học hiện đại, hiệu quả được hiện
thực hóa trong quy trình hướng dẫn học sinh học tập. Học sinh là chủ thể, học
sinh làm chủ các hoạt động của lớp. Trong lớp học có chính phủ học sinh (ban
cán sự) để khuyến khích học sinh tham gia trực tiếp vào công việc quản lý
lớp. Phụ huynh và cộng đồng cùng tham gia vào các hoạt động của lớp, của
trường. Trong tài liệu hướng dẫn học, mỗi hoạt động học của của học sinh
đều có phần công việc về nhà, đẻ hoặc bổ sung kiến thức, hoặc vận dụng kiến
thức vào môi trường sống của các em. Quá trình bồi dưỡng giáo viên đặt ra
yêu cầu người giáo viên phải biết gắn kết lớp học với địa phương, biết vận
động phụ huynh và cộng đồng tham gia vào các hoạt động giáo dục. Giáo
viên còn phải thường xuyên trao đổi giữa các giáo viên để điều chỉnh hoặc
xây dựng một số nội dung tài liệu học tập thể hiện đặc điểm địa phương.
Thành công của EN càng rực rỡ hơn ở những khu vực cộng đồng có mối liên
hệ chặt chẽ với sự nghiệp giáo dục.
1.2- Chủ trương của Bộ GD&ĐT đưa Mô hình trường học mới vào thử
nghiệm ở Việt Nam
1.2.1. Giáo dục Việt Nam phải tiến hành đổi mới căn bản, toàn diện


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status