Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Mở Đầu
Sau hơn 15 năm đổi mới, kinh tế nớc ta đã đạt đợc những thành tựu to
lớn, thể hiện tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ tăng lên , còn tỷ trọng ngành nông
nghiệp giảm xuống, nhng về cơ bản chúng ta vẫn là một nớc nghèo và lạc
hậu, với đa số dân c sống tại khu vực nông thôn, thu nhập chủ yếu từ hoạt
động sản xuất nông nghiệp hoặc liên quan đến sản xuất nông nghiệp.
Đảng và Nhà nớc ta luôn có những chính sách u tiên cho phát triển
nông nghiệp, thông qua các nghị quyết của các kỳ họp Quốc hội, các chính
sách nông nghiệp... Đặc biệt là các chính sách cho phát triển nông nghiệp
miền núi.
Yên Bái là một tỉnh miền núi còn nghèo, ngời dân thuần nông chiếm
dân số phần lớn, kinh tế của tỉnh còn gặp nhiều khó khăn, đời sống đại bộ
phận ngời dân còn thu nhập thấp.
Nền nông nghiệp Yên Bái còn đang trong tình trạng kém phát triển, do
cha đủ vốn cung ứng phục vụ cho nhu cầu sản xuất, từ khâu nuôi, trồng và
đặc biệt là công nghệ sau thu hoạch.
Ngân hàng NNo&PTNT Yên Bái đang là một trong những NH thực
hiện tốt chức năng rót vốn vào nông nghiệp nông thôn, thực hiện mục tiêu
huy đông vốn nhàn rỗi để cho vay, bổ sung vào phần vốn thiếu hụt đáp ứng
ngay nhu cầu thiếu vốn của bà con nông dân, đảm bảo điều kiện kinh doanh
thuận lợi.
Trong quá trình thực tập tại NHNNo & PTNT Yên Bái em đã quyết
định chọn đề tài :
"Một số giải pháp huy động và cho vay tín dụng của Ngân hàng
NNo & PTNT nhằm đầu t phát triển nông nghiệp nông thôn Yên Bái"
Phơng pháp luận:
Kết hợp tính toán lô gíc cũng nh các con số thể hiện nội dung từng
phần, làm nổi bật nội dung của bài viết .
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Nội dung của luận văn gồm có:
mọi lúc mọi nơi, không chỉ đối đối với ngời bỏ vốn mà đối với cả nền kinh tế.
Những kết quả này không chỉ ngời đầu t mà cả nền kinh tế đợc thụ hởng.
Theo nghĩa hẹp, đầu t chỉ bao gồm những hoạt động sử dụng các nguồn
lực ở hiện tại nhằm đem lại cho nền kinh tế xã hội, những kết quả trong tơng
lai lớn hơn các nguồn lực đã sử dụng để đạt đợc các kết quả đó.
Nh vậy, nếu xét trong phạm vi quốc gia thì chỉ có hoạt động sử dụng
các nguồn lực ở hiện tại để trực tiếp làm tăng các tài sản vật chất, nguồn nhân
lực và tài sản trí tuệ, hoặc duy trì hoạt động của các tài sản và nguồn nhân lực
sẵn có thuộc phạm trù đầu t theo nghĩa hẹp hay phạm trù đầu t phát triển.
Định nghĩa về đầu t phát triển: Đầu t phát triển là hoạt động sử dụng
các nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất, nguồn lực lao động và trí tuệ để
xây dựng, sửa chữa nhà cửa vật kiến trúc, mua sắm trang thiết bị và lắp đặt
chúng trên nền bệ, bồi dỡng đào tạo nguồn nhân lực,thực hiện chi phí thờng
xuyên, gắn liền với sự hoạt động của các tài sản này nhằm duy trì tiềm lực
hoạt động của các cơ sở đang tồn tại và tạo tiềm lực cho mỗi nền kinh tế - xã
hội, tạo công ăn việc làm và nâng cao đời sống của mọi thành viên trong xã
hội.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
I.1.2 Phân loại hoạt động đầu t theo bản chất:
*> Đầu t tài chính : ( đầu t tài sản tài chính ) là loại đầu t trong đó ngời
đầu t có tiền bỏ tiền ra cho vay hoặc mua các chứng chỉ có giá để hởng lãi
suất định trớc( gửi tiết kiệm, mua trái phiếu chính phủ) hoặc lãi suất tuỳ thuộc
vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty phát hành. Đầu t tài
sản tài chính không tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế ( nếu không xét đến
quan hệ taì chính trong lĩnh vực này) mà chỉ làm gia tăng giá trị tài sản tài
chính của các tổ chức, cá nhân đầu t ( đánh bạc nhằm mục đính thu lời cũng
là một loại hình đầu t tài chính nhng bị cấm do gây nhiều tệ nạn xã hội. Công
ty mở sòng bạc để phục vụ nhu cầu giải trí của ngời đến chơi nhằm thu lợi
nhuận về cho công ty thì đây lại là đầu t phát triển.
*>Đầu t thơng mại: là loại đàu t trong đó ngời có tiền bỏ tiền bỏ tiền ra
_ Thời gian cần hoạt động để có thể thu hồi đủ vốn bỏ ra, đối voí cơ sở vật
chất kỹ thuật phục vụ sản xuất kinh doanh thờng đòi hỏi nhiều năm tháng và
do đó không tránh khỏi sự tác động 2 mặt tích cực và tiêu cực của các yếu tố
không ổn định về tự nhiên, xã hội, chính trị.
_ Các thành quả của đầu t phát triển có giá trị sử dụng lâu dài nhiều năm.
Điều này nói lên giá trị lớn lao của các thành quả đầu t phát triển .
_ Các thành quả của hoạt động đầu t là các công trình xây dựng sẽ hoạt
động ở ngay nơi mà nó tạo dựng lên. Tạo điều kiện cho lao động địa phơng
có công ăn việc làm tăng thu nhập.
I.1.4- Vai trò của đầu t phát triển:
Lý thuyết của nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung và lý thuyết của nền
kinh tế thị trờng, đều coi đầu t phát triển là nhân tố quan trọng để phát triển
kinh tế, là chìa khoá của sự tăng trởng. Nó thể hiện ở những mặt sau:
Trên giác độ nền kinh tế:
- Đầu t vừa có tác động tổng cung và vừa có tác động tổng cầu, đầu t là
yếu tố chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cầu nền kinh tế.Đối với tổng cầu tác
động của đầu t là ngắn hạn khi tổng cung cha kịp thay đổi, sự tác động tăng
lên của đầu t làm cho tổng cầu tăng lên. Khi thành quả của đầu t phát huy tác
dụng các năng lực mới đi vào hoạt động thì tổng cung dài hạn tăng lên.
- Đầu t có tác động hai mặt đến là sự ổn định kinh tế: sự tác động không
đồng thời về mặt thời gian của tổng cung và tổng cầù, làm cho mỗi sự thay
đổi của đầu t, dù tăng hay giảm cung một lúc là yếu tố duy trì sự ổn định và
cũng là yếu tố phá vỡ sự ổn định nền kinh tế của một quốc gia.Chẳng hạn khi
đầu t tăng lên làm cho cầu tăng lên, khi cung cha kip tăng thì giá cả tăng lên
dẫn đến tình trạng lạm phát. Đến lợt mình lạm phát làm cho sản xuất đình trệ,
đời sống của ngời lao động gặp khó khăn... Mặt khác tăng đầu t, làm cho cầu
các yếu tố liên quan tăng lên, sản xuất làm cho các ngành khác phát triển,thu
hút thêm lao động làm cho đời sống của ngời lao động đợc nâng lên. Còn khi
giảm đầu t thì tác động ngợc lại với hai chiều hớng trên.
Đầu t tác động đến tăng trởng và phát triển kinh tế. Kết quả nghiên cứu
vật chất kỹ thuật vừa tạo ra.
I.2 - Một số vấn đề về nông nghiệp, nông thôn.
I.2.1 - Khái niệm nông nghiệp, nông thôn.
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất quan trọng trong nền kinh tế
quốc dân của mọi quốc gia- cả những nớc phát triển và những nớc đang phát
triển. Sản phẩm nông nghiệp sản xuất ra nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu về l-
ơng thực, thực phẩm cho cuộc sống con ngời; cung cấp nguyên liệu cho công
nghiệp, hàng hoá cho xuất khẩu để thu ngoại tệ. Theo nghĩa hẹp thông thờng
thì nông nghiệp đợc hiểu chỉ có 2 ngành là trồng trọt và chăn nuôi. Theo
nghĩa rộng nông nghiệp còn bao gồm cả ngành lâm nghiệp và ng nghiệp.
Nông thôn trớc hết ngời ta hiểu đó là một vùng, khu vực có phạm vi
không gian cụ thể nhất định, mà bao trùm ở đó là cuộc sống cộng đồng nông
dân với hoạt động sản xuất nông nghiệp là chủ yếu. Thờng ngời ta hay so
sánh nông thôn với đô thị trên một số tiêu chí về số lợng dân c, mật độ dân số,
trình độ dân trí thực trạng cơ sở hạ tầng và cả thu nhập bình quân một ngời
trong một năm. Nhng rõ ràng các tiêu chí trên thì cha hoàn toàn chính xác,
bởi có sự khác nhau ở từng quốc gia.
Nh vậy với một vài tiêu chí đơn lẻ cha thể nói hết đợc một cách đầy đủ
về nông thôn khi mà ở nó có nhiều mối quan hệ chặt chẽ với nhau và từ đó ta
có thể khái niệm về nông thôn nh sau: Nông thôn là một vùng, một khu vực
trong đó một cộng đồng chủ yếu là nông dân mà cuộc sống của họ gắn bó với
nông nghiệp. Là nơi có mật độ dân số, trình độ dân số, cơ sở hạ tầng, trình độ
sản xuất hàng hoá và tiếp cận thị trờng thờng thấp hơn so với đô thị.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Quốc gia nào cũng có nông thôn và thành thị, vì thế trong nền kinh tế
quốc dân của mỗi nớc bao giờ cũng hình thành nên hai khu vực kinh tế là khu
vực kinh tế nông thôn, và khu vực kinh tế thành thị, nó bổ xung và hỗ trợ cho
nhau cùng phát triển. Trớc kia ta thờng hiểu kinh tế nông thôn chỉ đơn thuần
là hoạt động sản xuất nông nghiệp. Nhng thực tế cho thấy, với sự phát triển
của khoa học kỹ thuật, công nghệ và quản lý ngày một cao thì kinh tế nông
khâu ấy luôn phải gắn với sản phẩm cuối cùng.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
*> Hoạt động sản xuất nông nghiệp gắn liền với môi trờng, có tác
động tới môi trờng trong sạch.
Do đặc tính sinh học, do tính thời vụ trong sản xuất nông nghiệp thì muốn
nâng có hiệu quả sản xuất nông nghiệp, cần phải thực hiện chuyên môn hoá
đi đôi với phát triển tổng hợp, phải có sự thống nhất giữa đơn vị sản xuất và
đơn vị phân phối. Kinh tế hộ, kinh tế trang trại trở thành những hình thức tổ
chức sản xuất thích hợp thoả mãn yêu cầu đó.
I.2.3 - Vai trò của nông nghiệp, nông thôn trong nền kinh tế quốc dân:
Từ khi con ngời ra đời tồn tại và phát triển, loài ngời luôn gắn liền với
những hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Con ngời trớc khi hình
thành các hoạt động đó đều phải có sự tiêu tốn một lợng t liệu sinh hoạt nhất
định. Điều đó đòi hỏi ngời ta phải sản xuất, trong đó sản xuất nông nghiệp là
hết sức cần thiết và quan trọng.
Việt Nam là một đất nớc nông nghiệp, với hơn 80% dân số là nông dân,
giá trị sản phẩm nông nghiệp chiếm 40% tổng giá trị của ngành sản xuất vật
chất ... càng làm nổi bật lên vai trò, vị trí của nông nghiệp, nông thôn trong
nền kinh tế quốc dân. Vai trò đó là đặc biệt quan trọng, nó thể hiện:
Một là: Nông nghiệp, nông thôn là nơi tập trung các ngành kinh tế lớn
Nông, lâm, ng nghiệp, công nghiệp chế biến là các ngành sản xuất chủ
yếu trong nông nghiệp, nông thôn, chiếm tỷ trọng trên 27 % trong cơ cấu
kinh tế và giữ một vai trò quan trọng đối với sự tăng trởng và phát triển kinh
tế.
Kể từ năm 1997 về trớc, nông nghiệp đã tạo ra trên 40% thu nhập quốc
dân và hiện nay tạo ra gần 30% GDP và hơn 45% giá trị xuất khẩu trong cả n-
ớc và là nguồn thu ngoại tệ của đất nớc. Từ nông nghiệp, nhà nớc luôn có
nguồn thu ổn định trực tiếp thông qua thuế sử dụng đất nông nghiệp, tuy
không lớn nhng nó mang lại ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển kinh tế
trong bớc đờng đầu của sự nghiệp công nghiệp hoá đất nớc. Không những
Công nghiệp phát triển và nhất là công nghiệp chế biến các sản phẩm
từ nông nghiệp ngày càng phát triển thì nông nghiệp, nông thôn là nơi chủ
yếu cung cấp nguyên liệu cho quá trình phát triển công nghiệp đó. Vì thế quy
mô và tốc độ phát triển nông nghiệp, nông thôn có tính quyết định đến quy
mô và tốc độ tăng trởng của sản xuất công nghiệp nhất là công nghiệp chế
biến.
Năm là: Nông nghiệp, nông thôn góp phần bảo vệ môi trờng và cân
bằng sinh thái:
Diện tích đất sản xuất nông nghiệp và vùng nông thôn chiếm hầu hết
diện tích bề mặt của đất nớc. Việc phát triển nông nghiệp, nông thôn sẽ có vị
trí quan trọng trong duy trì, phát triển và bảo vệ môi trờng thiên nhiên trong
sạch, bảo đảm hệ cân bằng sinh thái. Nớc ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới
gió mùa quanh năm, điều đó có ảnh hởng thuận lợi đến sự phát triển toàn diện
và đa dạng nền nông nghiệp. Vấn đề đặt ra trong việc phát triển đó là phải xây
dựng một cơ cấu cây trồng hợp lý vừa có hiệu quả kinh tế vừa tránh đợc sự
huỷ hoại môi trờng, môi sinh.
Sáu là: Phát triển nông nghiệp là góp phần tạo ra nguồn ngoại tệ mạnh
để nhập khẩu máy móc thiết bị, công nghệ tiên tiến nhằm rút ngắn thời gian
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc.
Là một nớc nông nghiệp lại có điểm xuất phát thấp, cho nên vấn đề
phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Nó
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
không những tạo ra nhiều mặt hàng xuất khẩu có giá trị kinh tế cao để tăng
thu nhập ngoại tệ mạnh tạo nguồn ngoại tệ đổi lấy những máy móc thiết bị và
kỹ thuật công nghệ mới từ nớc ngoài mà còn tạo ra những tiền đồ bên trong
để phát triển công nghiệp và dịch vụ ngay trên địa bàn nông thôn, làm thay
đổi phơng thức canh tác của ngời nông dân, nâng cao dân trí và nâng cao tay
nghề cho lao động nông nghiệp.
Tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam qua các năm 1995 đến 1998
là 5.449 triệu USD, 7256 triệu USD, 9.185 triệu USD và 9.360 triệu USD,
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
sách kinh tế vĩ mô của nhà nớc có tác động rất lớn đến phát triển nông
nghiệp, nông thôn nh: Chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần, chính
sách phát triển kinh tế nông thôn, chính sách khuyến khích xuất khẩu và đầu
t, chính sách ruộng đất, chính sách trợ giá đầu vào cho sản xuất nông nghiệp,
chính sách bảo hộ cho sản phẩm nông nghiệp, chính sách phân vùng kinh tế,
hình thành những vùng chuyên môn hoá có quy mô ngày càng lớn.
- Khoa học- kỹ thuật:
Khoa học kỹ thuật luôn là những nhân tố có tác dụng lớn đến việc tăng
năng suất, chất lợng và hạ giá thành sản phẩm. Việc ứng dụng các tiến bộ của
khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực lai tạo giống, sản xuất phân bón, thức ăn,
công nghệ sản xuất chế biến, chất lợng hạ tầng cơ sở vào quá trình sản xuất
đã làm cho sự phát triển nông nghiệp, nông thôn có những bớc tiến dài đem
lại hiệu quả kinh tế cao.
- Hợp tác và phân công lao động:
Mỗi một nớc khác nhau cũng nh mỗi vùng, mỗi khu vực trong phạm vị
một nớc thì nhu cầu về điều kiện sản xuất là đa dạng và phong phú, nó đòi hỏi
phải có sự trao đổi kết quả hoạt động ra bên ngoài ở mức độ, phạm vi khác
nhau. Thực tế đã chứng minh sự hợp tác trong sản xuất nông nghiệp đã đáp
ứng đợc kịp thời yêu cầu của tính thời vụ. Hơn nữa trong lợi thế so sánh yêu
cầu phải có quá trình tham gia vào phân công lao động dới nhiều hình thức để
nhằm tăng khả năng thích ứng và phù hợp với điều kiện, truyền thống, lợi thế
riêng có của nông nghiệp ở mỗi vùng, mỗi khu vực trong phạm vi một nớc
cũng nh khu vực và trên thế giới.
I.2.5 - Nhu cầu vốn cho phát triển nông nghiệp, nông thôn và các
nguồn vốn đầu t.
I.2.5.1 - Đặc điểm riêng biệt của nông nghiệp, nông thôn nớc ta:
*> Nông nghiệp Việt Nam là một nền nông nghiệp lạc hậu:
- Cơ sở vật chất kỹ thuật lạc hậu, lực lợng sản xuất còn non yếu, đại bộ
phận là lao động thủ công, trình độ khoa học kỹ thuật, trình độ quản lý còn
*> Các hợp tác xã ở nông thôn hoạt động kém hiệu quả không
vực dậy đợc kinh tế nông thôn.
*> T tởng trông chờ ỷ lại của một số ít cán bộ thôn bản làm tăng
lên sức ỳ cho kinh tế nông thôn.
I.2.5.2 - Nhu cầu vốn cho phát triển nông nghiệp, nông thôn
Trong quá trình phát triển của tất cả các nớc thì vốn luôn luôn là vấn đề
bức xúc, nổi cộm. Nớc ta, với điểm xuất phát thấp thì nhu cầu vốn cho thực
hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc và nhất là cho công nghiệp hoá,
hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn luôn đòi hỏi một lợng vốn đủ lớn. Nhng
thực tế ở nớc ta hiện nay vẫn còn sự chênh lệchgiữa nhu cầu và khả năng
cung ứng vốn. Thực trạng đói vốn trong trong nông nghiệp, nông thôn hiện
nay đã ảnh hởng không nhỏ đến sự phát triển các ngành nghề trong nông
nghiệp, đến việc áp dụng các tiến bộ khoa học vào sản xuất nông nghiệp, đến
việc xây dựng phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn ...
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Theo dự tính của nhiều nhà kinh tế đợc Bộ nông nghiệp và phát triển
nông thôn tổng hợp lại cho thấy, để thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá
nông nghiệp, nông thôn trong giai đoạn từ nay tới năm 2010 thì lợng vốn cần
đầu t hàng năm vào khoảng 2,5 tỷ USD. Với một lợng vốn cần lớn, nhiều nh
vậy thì rõ ràng vấn đề đặt ra là phải có những chính sách phù hợp, vừa phát
huy nội lực, vừa thu hút đầu t nớc ngoài ... để đáp ứng đợc cho yêu cầu phát
triển nông nghiệp, nông thôn.
I.2.5.3 - Các nguồn vốn đầu t cho phát triển nông nghiệp, nông
thôn:
- Nguồn vốn đầu t từ ngân sách nhà nớc.
Nguồn vốn đầu t từ ngân sách nhà nớc thờng có vai trò quan trọng
nhất, nó đợc đầu t vào sản xuất nông nghiệp dới hai dạng trực tiếp và gián
tiếp.
Vừa đầu t thông qua các chơng trình hỗ trợ trực tiếp cho hộ nông dân,
vừa đầu t vào các hoạt động phục vụ lợi ích chung của nền nông nghiệp nh
thiết bị, công nghệ sản xuất nhằm nâng cao năng lực hiệu quả kinh doanh của
các doanh nghiệp. Đồng thời, doanh nghiệp thực hiện ứng vốn cho nông dân
thông qua hình thức ký kết các hợp đồng kinh tế, các giao kèo thoả thuận với
nông dân trong việc nông dân bán sản phẩm nông nghiệp cho doanh nghiệp.
Đây là một kênh chuyển vốn vào nông nghiệp, nông thôn, nó là cần thiết
trong điều kiện các nguồn vốn khác cha đáp ứng đợc đầy đủ.Công thức:
Sc = Dp +Pr
Trong đó: Sc là tiết kiệm của các doanh nghiệp.
Dp là quĩ khấu hao của doanh nghiệp.
Pr là lợi nhuận để lại doanh nghiệp.
- Nguồn vốn đầu t từ nớc ngoài:
Vốn đầu t trực tiếp từ nớc ngoài (FDI) và vốn hỗ trợ phát triển chính
thức (ODA) là nguồn vốn lớn rất cần đối với nớc ta trong giai đoạn hiện nay.
Nó trở thành một bộ phận đáng quan tâm của hoạt động đầu t toàn xã hội.
Thực tế hoạt động đầu t từ nớc ngoài vào nớc ta ngày càng đợc mở rộng
tới các vùng, các địa phơng nhờ có sự hợp lý của luật đầu t nớc ngoài. Nguồn
vốn này góp phần tăng lợng vật chất đáng kể trong nền kinh tế nớc ta, qua đó
thực hiện hoạt động đầu t phát triển kinh tế- xã hội.
Tuy nhiên, trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn thì số lợng dự án có
vốn đầu t nớc ngoài đa vào còn ít, số vốn lại thấp. Vì vậy việc tăng cờng gọi
vốn nớc ngoài vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn là hết sức cần thiết.
- Nguồn vốn tín dụng(hay đầu t vốn tại các tổ chức tín dụng):
Là nguồn vốn bổ xung cho nhu cầu vốn để phát triển nền kinh tế nói
chung và phát triển lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn nói riêng. Trong điều
kiện các nguồn vốn khác cha đảm bảo đáp ứng đủ cho hoạt động sản xuất
nông nghiệp, phát triển nông thôn thì nguồn vốn tín dụng càng chiếm giữ
một vai trò quan trọng.
Hiện nay, nhu cầu vốn cho phát triển nông nghiệp, nông thôn là rất lớn,
đòi hỏi các tổ chức tín dụng nh các ngân hàng thơng mại, các ngân hàng cổ
phần, các quỹ tín dụng nhân dân ... rất cần dành ra một tỷ lệ vốn thích đáng
pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội
dung nhận tiền gửi, và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch
vụ thanh toán.
I.3.1.2- Đặc trng kinh doanh của ngân hàng thơng mại (NHTM).
Hoạt động kinh doanh trên thị thờng tài chính bao gồm nhiều loại hình
tổ chức kinh doanh tiền tệ,chúng là những tổ chức môi giới tài chính, hoạt
động nh những chiếc cầu chuyển tải những khoản tiền nhàn rỗi tiết kiệm tích
luỹ đợc trong dân c, đến tay những ngời có nhu cầu chi tiêu cho đầu t. Nhng
giữa chúng lại có sự khác nhau về tính chất cũng nh đối tợng và phong pháp
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
kinh doanh. Sự khác nhau đó bắt nguồn từ những nguyên nhân lịch sử và chế
độ kinh tế, ngày nay chúng đều là những sản phẩm của thể chế mỗi nớc.
Lịch sử của NHTM là kinh doanh tiền gửi, từ chỗ làm dịch vụ nhận tiền
gửi, với t cách là ngời thủ quĩ bảo quản tiền cho chủ sở hữu để nhận những
khoản thù lao, trở thành chủ thể kinh doanh tiền gửi, nghĩa là huy động tiền
gửi không những miễn khoản thù lao mà còn trả lãi cho khách hàng gửi tiền,
để làm vốn cho vay với mục đích tối u hoá lợi nhuận thu đợc.
Trong khi thực hiện vai trò chung gian chuyển tiền từ ngời cho vay sang
ngời đi vay, các NHTM đã tự tạo ra những công cụ tài chính thay thế tiền làm
phơng tiện thanh toán.Trong đó quan trọng nhất là tài khoản tiền gửi thanh
toán bằng séc, một trong những công cụ chủ yếu để tiền vận động qua ngân
hàng.
I.3.1.3. - Vai trò của ngân hàng thơng mại đối với sự phát triển
kinh tế.
*> Ngân hàng là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế:
Vốn đợc tạo ra từ quá trình tiết kiệm của mỗi cá nhân, doanh nghiệp,và
nhà nớc trong nền kinh tế.Vậy muốn có nhiều vốn phải tăng thu nhập quốc
dân và giảm tiêu dùng.Muốn tăng thu nhập quốc dân phải mở rộng qui mô
sản xuất, phát triển thị trờng... theo qui luật tăng trởng thì nguồn vốn thu đợc
nhiều hơn.
giới.
I.3.1.4- Những đặc điểm riêng biệt của NH Nno&PTNT Việt Nam.
Ngân hàng NNo&PTNT việt Nam có những đặc điểm riêng biệt sau:
*> Đó là NHTM quốc doanh kinh doanh tiền tệ bình thờng nh bao NHTM
khác trên thị trờng nông thôn.Việc tạo vốn và cho vay theo cơ chế thị trờng :
cũng bị cạnh tranh, bảo toàn vốn, và sinh lời sau qúa trình phục vụ nông
nghiệp, nông thôn trên cơ sở vay để cho vay.Vì vậy trong quá trình hoạt
động NH thực sự phải tôn trọng theo nguyên tắc của kinh tế thị trờng.
*> Ngân hàng NNo&PTNT đang thực hiện nhiều nhiệm vụ của một NH
chính sách, nó có trách nhiệm thực hiện mục tiêu của nhà nớc(chơng trình l-
ơng thực, chơng trình phát triển nhà ở của đồng bằng sông Cửu Long, chơng
trình khắc phục hậu quả thiên tai, xoá đói giảm nghèo, tài trợ vùng sâu vùng
xa...).
Trong việc thực hiện mục tiêu các chơng trình có tính chất xã hội, ngân
hàng NNo&PTNT phải dành u tiên về lãi suất, điều kiện và thời hạn cho vay
các đối tợng vay-khách hàng cốt yếu của mình là nông dân. Chính vì thế mà
không ít trờng hợp u đãi đó cần đợc xử lý cho bản thân NH nếu muốn tiếp tục
tồn tại và phát triển( chẳng hạn lãi suất cho vay thấp hơn lãi suất huy động
vốn bình thờng).
*> Với một vị trí là NHTM quốc doanh, NHNo đang và sẽ phải là một
NH đóng vai trò chủ đạo, chủ lực trên thị trờng tiền tệ nông thôn. Nó có trách
nhiệm hớng dẫn và chi phối thị trờng này, đáp ứng vốn và dịch vụ ngân hàng
cho sự nghiệp phát triển nông nghiệp nông thôn ở nớc ta. Bên cạnh nỗ lực của
bản thân NH, Nhà nớc cần có chính sách phát triển NHNNo cả về mặt chính
sách và vốn... để nó có thể vơn lên tạo thành chỗ dựa chủ yếu trong việc lo
vốn và phát triển dịch vụ NH cho nông nghiệp nông thôn-mặt trận hàng đầu
cho sự nghiệp phát triển kinh tế đất nớc.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
*>Xuất thân là một NHTM hoạt động ngắn hạn là chủ yếu,NHNO đã và
đang vơn lên thành một NH đa năng và ngày càng mang tính chất của một
hoá dịch vụ và các khoản phát sinh khác trong quá trình kinh doanh một cách
thờng xuyên, an toàn thuận lợi.
- Tiển gửi không kỳ hạn thuần tuý: là khoản tiền gửi với mục đích an
toàn, không mang mục đích thanh toán, khi cần khách hàng có thể rút tiền ra
chi tiêu.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
+ Tiển gửi có kỳ hạn: Tiền gửi có kỳ hạn giữ vị trí trung gian giữa tiền
gửi thanh toán và tiền gửi tiết kiệm, đây là nguồn tơng đối ổn định.khi đến
hạn khách hàng mới đựơc rút ra
*>-Tiền gửi tiết kiệm: xét về bản chất đây là một phần thu nhập của cá
nhân cha sử dụng cho tiêu đùng. Họ gửi vào NH với mục đích tích luỹ một
cách an toàn và hởng một phần lãi từ khoản tiền đó.Gồm có:
+ Tiển gửi tiết kiệm không kỳ hạn: là những khoản tiền gửi có thể rút ra
thanh toán bất cứ lúc nào, hoặc đợc sử dụng làm công cụ thanh toán để chi trả
cho ngời khác.
+ Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: là khoản tiền có sự thoả thuận về thời
gian gửi tiền và rút ra, có mức lãi suất cao hơn so với tiền gửi không kỳ hạn.
*> Phát hành giấy tờ có giá: NH thực hiện phát hành giấy tờ có giá đó là
chứng chỉ tiền gửi và trái phiếu.
Trong đó chứng chỉ tiền gửi là phiếu nợ ngắn hạn với mệnh giá qui
định, còn trái phiếu là loại phiếu nợ trung hạn và dài hạn. Hai loại phiếu nợ
trên đợc NH phát hành từng đợt, tuỳ theo mục và sự chấp thuận của NHTƯ và
hội đồng chứng khoán quốc gia.
*> Các hình thức huy động khác:
+ Nhận vốn từ Trung Ương để thực hiện các chơng trình dự án của nhà
nớc về phát triển kinh tế- xã hội của địa phơng.
+ Nhận vốn tài trợ từ các tổ chức nớc ngoài( tổ chức thuộc chính phủ,
phi chính phủ..).
+ Vay từ NHNN để làm vốn kinh doanh, thực hiện kinh doanh có hiệu
quả lại trả lãi cho NHNN.
hạn một cách hợp lý.
*> Chỉ tiêu khác:
- Thời gian, mệnh gía huy động vốn hợp lý.
- Mức độ thuận tiện cho khách hàng: đánh gía qua các thủ tục nhận tiền,
làm các dịc vụ kèm theo.
- Thời gian hoàn thành vốn so với qui định.
I.3.2.5- Các nhân tố ảnh hởng đến khả năng huy động vốn.
*> Nhân tố chủ quan:
- Các hình thức huy động vốn: đây là một trong những nhân tố quan
trọng, ảnh hởng đến tình hình vốn tại NH. Hình thức huy động vốn càng
phong phú thì khả năng đáp ứng nhu cầu tiền gửi của dân c sẽ tăng lên và vốn
huy động nhiều hơn.
- Chính sách lãĩ suất: Lãi suất là nhân tố quan trọng khiến ngời gửi tiền
vào NH hay không?
- Chính sách khách hàng: NH có chính sách khách hàng tốt thì khách
hàng sẽ gửi tiền vào NH ngày càng nhiều hơn.
- Công tác cân đối giữa huy động và cho vay: Chiến lợc huy động vốn
tốt còn phụ thuộc vào vào khả năng có cho vay tốt đợc hay không, nếu sử
dụng vốn không hiệu quả thì ảnh hởng đến chính sách huy động vốn của NH.
- Công nghệ NH: Trong cạnh tranh NH không ngừng cải tiến công nghệ
của mình, vì công nghệ Nh càng tiên tiến thì khả năng đáp ứng yêu cầu của
khách hàng càng tốt thì hiệu quả kinh doanh của NH càng cao.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
*> Nhân tố khách quan:
- Tiết kiệm của nền kinh tế: Nguồn vốn huy động của NH chủ yếu là
nguồn vốn của dân c, các tổ chức kinh tế... các đơn vị này tiết kiệm cao thì
nguồn vốn huy động cao.
- Tâm lý tiêu dùng: Tiết kiệm và tiêu dùng là 2 nhân tố đối lập nhau nên
tiêu dùng tăng thì tiết kiệm giảm và ngợc lại.
-Môi trờng pháp lý: Môi trờng pháp lý ổn định, cụ thể là cơ sở pháp lý
doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
-Cho vay trung hạn: Là các khoản cho vay có thời hạn cho vay trên 1
năm đến 5 năm.
- Cho vay dài hạn: Là các khoản cho vay có thời hạn trên 5 năm nhng
không quá 15 năm, dùng để đầu t vào các chơng trình, dự án có quy mô lớn,
thời hạn thu hồi vốn lâu.
Việc phân chia mức cho vay ngân hàng theo tiêu thức thời gian nh trên
sẽ giúp cho các ngân hàng tính toán các luồng vốn đầu t và mức vốn đầu t
trong một khoảng thời gian nhất định. Thời hạn cho vay trung, dài hạn đợc
xác định phù hợp với thời gian thu hồi vốn của dự án đầu t, phù hợp với khả
năng trả nợ của khách hàng và khả năng nguồn vốn dùng để cho vay trung,
dài hạn của tổ chức tín dụng.
*> Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng:
- Cho vay không có bảo đảm bằng tài sản: Là các khoản cho vay mà
khách hàng vay đợc ngân hàng tín nhiệm nên không cần có tài sản thế chấp,
cầm cố hoặc bảo lãnh của ngời thứ ba làm bảo đảm tiền vay.
- Cho vay có đảm bảo bằng tài sản: Là các khoản ngân hàng cho vay ra
đòi hỏi khách hàng vay phải có tài sản thế chấp, hoặc cầm cố, hoặc có sự bảo
lãnh của ngời thứ ba. Theo đó giá trị của tài sản thế chấp, cầm cố, hoặc bảo
lãnh phải lớn hơn số tiền ngân hàng cho vay ra.
* Căn cứ vào thao tác thừa hành cho vay:
- Cho vay trực tiếp: Ngân hàng cho vay vốn trực tiếp tới ngời có nhu
cầu vay và khách hàng vay phải trực tiếp hoàn trả nợ gốc, lãi vay cho ngân
hàng.
- Cho vay gián tiếp: Là các khoản cho vay đợc thực hiện thông qua việc
mua lại các khế ớc nợ hoặc các chứng từ nợ đã phát sinh và còn thời hạn
thanh toán.
* Căn cứ vào mục đích sử dụng tiền vay:
- Tín dụng cho phát triển sản xuất kinh doanh: Là các khoản cho vay
vay vốn thờng xuyên, sản xuất kinh doanh ổn định, có uy tín trong quan hệ
tín dụng với ngân hàng. Ngân hàng nơi cho vay cùng khách hàng vay xác
định và thoả thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong thơì gian nhất định
hoặc theo một chu kỳ sản xuất kinh doanh nhng tối đa không quá 12 tháng.
- Cho vay theo dự án đầu t:
Ngân hàng cho khách hàng vay vốn để thực hiện các dự án đầu t phát
triển sản xuất kinh doanh, dịch vụ và các dự án phục vụ đời sống, các dự án
xây dựng cơ sở hạ tầng. Ngân hàng sẽ thực hiện giải ngân theo tiến độ thực
hiện dự án.
- Cho vay hợp vốn:
Một nhóm tổ chức tín dụng cùng cho vay vốn đối với một dự án vay
vốn hoặc phơng án vay vốn của khách hàng. Trong đó một tổ chức tín dụng
đứng ra làm đầu mối dàn xếp.
- Cho vay trả góp:
Khi vay vốn, ngân hàng nơi cho vay và khách hàng xác định và thoả
thuận số lãi tiền vay phải trả cộng với số nợ gốc đợc chi ra để trả nợ theo
nhiều kỳ hạn trong thời hạn vay vốn.
- Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng:
Căn cứ vào nhu cầu vay của khách hàng, ngân hàng nơi cho vay và
khách hàng thoả thuận trong hợp đồng tín dụng về hạn mức tín dụng dự
phòng, thời hạn hiệu lực của tín dụng dự phòng. Nếu khách hàng không sử
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
dụng hoặc sử dụng không hết hạn mức tín dụng dự phòng thì khách hàng vẫn
phải bỏ phí cam kết tính cho hạn mức tín dụng dự phòng đó.
- Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng:
Ngân hàng nơi cho vay chấp thuận cho khách hàng sử dụng số vốn vay
trong phạm vi hạn mức tín dụng để thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ và
rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động hoặc điểm ứng tiền mặt là các đại lý của
tổ chức tín dụng đó.
I.3.4- Vai trò của cho vay tín dụng NH nhằm đầu t phát triển nông
hội... vì thế công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn là tất yếu.
Để thực hiện đa nền sản xuất nông nghiệp lên trình độ cao thì vấn đề đặt ra là
phải tiếp tục tạo lập và phát triển đồng bộ các yếu tố thị trờng trong đó có thị
trờng vốn và tiền tệ, nhất là thị trờng vốn trung và dài hạn ở nông thôn để tạo
ra động lực cho sự phát triển sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn.
Trong đó cho vay tín dụng của ngân hàng có phần đóng góp rất quan trọng.
Thứ hai: cho vay tín dụng ngân hàng thúc đẩy nền nông nghiệp lên sản
xuất hàng hoá.
Sản suất hàng hoá là tất yếu khách quan, là cần thiết và có ý nghĩa quan
trọng đối với sự phát triển kinh tế ở tất cả các nớc, nhất là ở các nớc có nền
kinh tế lạc hậu, mang tính tự cấp, tự túc nh nớc ta, đồng thời nông nghiệp,
nông thôn nớc ta đang giữ vị trí là một khu vực sản xuất vật chất rất lớn. Nhu
cầu vốn cho phát triển sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp, nông thôn là rất
lớn. Và điều đó, chỉ có khối lợng vốn ngân hàng mới có khả năng đáp ứng đ-
ợc.
Cho vay tín dụng ngân hàng đáp ứng bổ xung phần vốn thiếu cho ngời
sản xuất nông nghiệp để họ có điều kiện thâm canh tăng năng suất cây trồng,
phát triển chăn nuôi và mở mang ngành nghề cũng nh tăng cờng mua sắm
những trang thiết bị, máy móc, chi phí cho việc mở rộng quy mô sản xuất,
tăng năng suất lao động nhằm tạo ra khối lợng sản phẩm hàng hoá lớn, đợc
thị trờng tiêu thụ.
Vốn đầu t của ngân hàng với mức lãi suất hợp lý đợc cung ứng thờng
xuyên cho nhu cầu của ngời sản xuất nông nghiệp, đã là điều kiện và động lực
thúc đẩy nhanh quá trình phát triển nền sản xuất hàng hoá nh: Quy mô sản
xuất ngày càng lớn, năng suất ngày càng tăng, tức là sản lợng tăng và tỷ trọng
hàng hoá nhiều lên, sẽ làm nhanh quá trình tích tụ, tập trung vốn và để trở lại
là điều kiện cho phát triển mở rộng quy mô sản xuất. Quá trình đó, đa đến
một kết quả tất yếu là sản lợng hàng hoá nông sản ngày càng tăng, đáp ứng
ngày càng nhiều nhu cầu lơng thực, thực phẩm cho tiêu dùng, nguyên liệu cho
công nghiệp chế biến và những mặt hàng có giá trị xuất khẩu.