Luận văn Thạc sĩ Kinh tế
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: VAI TRÒ CỦA VỐN ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN NGÀNH TÀI
NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 5
1.1. Vị trí vai trò của ngành Tài nguyên và Môi trường trong nền kinh tế quốc
dân .............................................................................................................................. 5
1.1.1. Giới thiệu tổng quan về ngành Tài nguyên và Môi trường:......................... 5
1.1.2 Đặc điểm của ngành tài nguyên môi trường cấp Tỉnh :................................ 6
1.1.3 Vị trí vai trò của ngành Tài nguyên & Môi trường trong nền kinh tế thị
trường...................................................................................................................... 7
1.1.4 Sự cần thiết phải phát triển ngành Tài nguyên và Môi trường: .................... 8
1.2 Vốn với quá trình phát triển kinh tế nói chung ngành Tài nguyên và Môi
trường nói riêng :.................................................................................................... 10
1.2.1 Vốn trong họat động kinh doanh .............................................................. 10
1.2.1.1 Khái niệm về vốn đầu tư :..................................................................... 10
1.2.1.2. Nhu cầu vốn đầu tư: ............................................................................. 11
1.2.1.3 Nguồn hình thành vốn đầu tư:............................................................... 12
1.2.2.Vai trò của vốn đầu tư đối với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế nói
chung và ngành Tài nguyên và Môi trường nói riêng ....................................... 14
1.2.2.1 Vai trò của vốn đầu tư đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế.......... 14
1.2.2.2 Vai trò của vốn đầu tư đối với phát triển ngành Tài nguyên và Môi
trường : .............................................................................................................. 15
1.2.3 Các nguồn vốn đầu tư................................................................................. 16
1.2.3.1 Nguồn vốn trong nước .......................................................................... 16
1.2.3.1.1 Nguồn vốn từ Ngân sách nhà nước: ............................................... 16
2.1.3.3 Lĩnh vực Tài nguyên khoáng sản:......................................................... 32
2.1.3.4.Lĩnh vực môi trường: ............................................................................ 33
2.1.3.5 Lĩnh vực Tài nguyên nước và khí tượng thủy văn:............................... 33
2.2 Tình hình huy động vốn đầu tư phát triển tỉnh Bình thuận giai đọan 2001-
2004........................................................................................................................... 34
2.2.1. Huy động nguồn vốn từ Ngân sách Nhà nước .......................................... 35
2.2.2. Sử dụng vốn từ nguồn vốn tín dụng ngân hàng : .................................... 38
2.2.3. Huy động vốn từ các doanh nghiệp. ......................................................... 41
2.2.4. Huy động vốn nước ngoài:........................................................................ 42
2.2.5. Huy động từ thị trường vốn: ..................................................................... 45
2.3 Đánh giá chung những kết quả đạt được trong công tác huy động vốn đầu
tư phát triển ngành Tài nguyên và Môi trường Bình Thuận giai đoạn 2000-
2004: ......................................................................................................................... 45
CHƯƠNG 3: NHỮNG GIẢI PHÁP HUY ĐỘNG VỐN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN
NGÀNH TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG BÌNH THUẬN GIAI ĐOẠN 2005–2010.50
3.1 Quan điểm, mục tiệu, định hướng phát triển kinh tế xã hội Tỉnh Bình
Thuận giai đọan 2005 -2010................................................................................... 50
3.1.1 Quan điểm phát triển:................................................................................. 50
3.1.2 Mục tiêu....................................................................................................... 51
3.1.2.1 Mục tiêu tổng quát: ............................................................................... 51
3.1.2.2 Mục tiêu cụ thể đến 2010:..................................................................... 51
3.1.3 Mục tiêu và định hướng phát triển ngành Tài nguyên và Môi trường giai
đoạn 2005-2010:................................................................................................... 52
3.1.4 Nhu cầu vốn đầu tư cho phát triển ngành Tài nguyên và Môi trường giai
đoạn 2005 – 2010: ................................................................................................ 55
3.4. Các giải pháp huy động vốn cho đầu tư phát triển ngành Tài nguyên và
Môi trường Bình Thuận :...................................................................................... 57
3.4.1. Các giải pháp vĩ mô: .................................................................................. 57
3.4.1.1.Nhà nước cần nâng cao chất lượng công tác xây dựng chiến lược, lập
quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành Tài nguyên và Môi trường.................... 57
I Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Tài nguyên và môi trường có vị trí đặc biệt quan trọng đối với con người và phát
triển.Tạo hoá đã sinh ra chúng ta và hành tinh bé nhỏ để nuôi dưỡng chúng ta từ bao
đời nay. Hàng ngày chúng ta sử dụng không khí, nước, thực phẩm để tồn tại và sử
dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường để đáp ứng các nhu cầu thiết yếu
của mình.
Trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
thì vấn đề quản lý và sử dụng tài nguyên và môi trường ngày càng trở nên bức xúc hơn
bao giờ hết. Đảng ta tiến hành đường lối đổi mới đất nước hơn mười lăm năm qua đã
thành công trong việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách, trong đó đổi mới
về chính sách đất đai là đúng đắn và sáng tạo góp phần phát triển kinh tế và ổn định
chính trị - xã hội. Song thực tiễn trong quản lý tài nguyên và môi trường hơn mười
năm qua cho thấy, cùng với việc xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường dẫn đến
tình hình đô thị hoá, công nghiệp hoá, nông nghiệp phát triển với tốc độ nhanh, từ đó
nảy sinh nhiều vấn đề vốn đầu tư nhằm phát triển ngành tài nguyên và môi trường .Để
thực hiện chiến lược phát triển kinh tế xã hội giai đọan 2001-2010: “Phát triển nhanh,
hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã
hội và bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế xã hội gắn chặt với bảo vệ và cải thiện môi
trường, đảm bảo sự hài hòa giữa môi trường nhân tạo và môi trường thiên nhiên giữ
gìn đa dạng hóa sinh học, gắn chặt việc xây dựng với chủ động hội nhập kinh tế quốc
tế, độc lập tự chủ về kinh tế tạo cơ sở cho hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả”.
HVCH: Trần Thị Thu Vân Luận văn Thạc sĩ Kinh tế
Bình Thuận là một trong những Tỉnh nằm trong vùng khô hạn nhất nước, đất đai
HVCH: Trần Thị Thu Vân Luận văn Thạc sĩ Kinh tế
CHƯƠNG I: VAI TRÒ CỦA VỐN ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN
NGÀNH TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG TRONG NỀN
KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1.1. Vị trí vai trò của ngành Tài nguyên và Môi trường trong nền kinh tế quốc
dân
1.1.1. Giới thiệu tổng quan về ngành Tài nguyên và Môi trường:
Hệ thống tổ chức cơ quan quản lý tài nguyên và môi trường được thành lập thống
nhất từ Trung ương đến cơ sở cụ thể:
Bộ Tài nguyên và Môi trường là cơ quan của chính phủ thực hiện chức năng
quản lý nhà nước về: tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên khóang sản, môi
trường, khí tượng thủy văn, đo đạc bản đồ trong phạm vi cả nước, quản lý nhà nước về
các dịch vụ công và thực hiện đại diện chủ sở hữu phần vốn nhà nước tài chính doanh
nghiệp trong lĩnh vực tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên khóang sản, môi
trường, khí tượng thủy văn, đo đạc bản đồ theo quy định pháp luật.
Sở Tài nguyên & Môi trường là cơ quan chuyên môn thuộc UBND Tỉnh, giúp
UBND tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về: tài nguyên đất, tài nguyên
khoáng sản, tài nguyên nước và khí tượng thủy văn, môi trường, đo đạc và bản đồ trên
địa bàn Tỉnh theo quy đinh của pháp luật.
Phòng Tài nguyên & Môi trường là cơ quan chuyên môn thuộc UBND Huyện,
giúp UBND huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về: tài nguyên đất, tài
nguyên khoáng sản, tài nguyên nước và khí tượng thủy văn, môi trường, đo đạc và bản
phép khai thác, chế biến khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường, than bùn và
khai thác tận thu khoáng sản, chuyển nhượng quyền hoạt động khoáng sản thuộc thẩm
quyền của UBND tỉnh. Giúp UBND tình chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành có liên
quan để khoanh vùng cấm hoặc tạm thời cấm các hoạt động khoáng sản trình Chính
phủ xem xét quyết định.
- Về Tài nguyên nước và khí tượng thủy văn: Trình UBND tỉnh cấp, gia hạn hoặc
thu hồi giấy phép hoạt động điều tra, thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả
nước thải vào nguồn nước theo phân cấp; kiểm tra việc thực hiện. Trình UBND tỉnh
cấp, gia hạn, thu hồi giấy phép hoạt động của các công trình khí tượng thủy văn
chuyên dùng tại địa phương; chỉ đạo kiểm tra việc thực hiện sau khi được cấp phép.
Tổ chức điều tra cơ bản, kiểm kê, đánh giá tài nguyên nước theo hướng dẫn của Bộ
TN&MT. Tham gia xây dựng phương án phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai.
- Về môi trường: Trình UBND tỉnh cấp, gia hạn, thu hồi giấy chứng nhận đạt tiêu
chuẩn môi trường cho các cơ sở sản xuất, kinh doanh và dịch vụ trên địa bàn tỉnh theo
HVCH: Trần Thị Thu Vân Luận văn Thạc sĩ Kinh tế
phân cấp. Tổ chức lập báo cáo hiện trạng môi trường, xây dựng và tăng cường tiềm
lực trạm quan trắc và phân tích môi trường theo dõi diễn biến chất lượng môi trường
tại địa phương theo hướng dẫn của Bộ TN&MT.Thẩm định báo cáo đánh giá tác động
môi trường của các dự án, cơ sở theo phân cấp.Tổ chức thu phí bảo vệ môi trường theo
quy định.
- Về đo đạc và bản đồ: Thẩm định và đề nghị cơ quan có thẩm quyền cấp phép
hoặc ủy quyền cấp phép hoạt động đo đạc và bản đồ cho các tổ chức và cá nhân đăng
ký hoạt động đo đạc và bản đồ ở địa phương. Trình UBND tỉnh phê duyệt kết quả
kiểm tra, thẩm định chất lượng công trình, sản phẩm đo đạc và bản đồ địa chính, đo
nguồn thu ngân sách cho Nhà nước. Với việc ban hành các quy định về khung giá các
loại đất và việc thực hiện cơ chế thu tiền sử dụng đất, thu tiền thuê đất, tiền thuế sử
dụng đất, thuế chuyển quyền sử dụng đất, giao đất để tạo vốn hoặc góp vốn liên doanh
bằng gía trị quyền sử dụng đất với các tổ chức trong nước và ngoài nước để liên doanh
liên kết hợp tác phát triển kinh tế … đã tạo ra một nguồn thu ổn định cho ngân sách
Nhà nước.
Quản lý Nhà nước về tài nguyên và môi trường thông qua việc thiết lập các cơ sở
pháp lý vững chắc trong các quan hệ xã hội về tài nguyên và môi trường còn đảm bảo
sự điều hoà về lợi ích giữa mọi người trong xã hội, góp phần đảm bảo sự ổn định, bình
đẳng và công bằng xã hội .
Hiện nay, chúng ta đang thực hiện chính sách hội nhập quốc tế và khu vực với
phương châm “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trên thế giới”, nên đã có
nhiều nước thiết lập quan hệ ngoại giao với nước ta để các chủ thể nước ngoài thuê đất
thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ pháp lý trong các quan hệ pháp luật đất đai,
nhằm bảo vệ đất, hạn chế tới mức tối đa các hành vi vi phạm pháp luật đất đai, đảm
bảo khai thác đất đai có hiệu quả và tiết kiệm trong mối quan hệ mở cửa kinh tế, thu
hút đầu tư nước ngoài, góp phần vào việc mở rộng quan hệ ngoại giao, hợp tác quốc tế
và thu hút đầu tư giữa nước ta với các nước trên thế giới.
1.1.4 Sự cần thiết phải phát triển ngành Tài nguyên và Môi trường:
Tài nguyên môi trường luôn là những quan tâm hàng đầu cũa mỗi quốc gia. Việc
huy động nguồn lực tài nguyên một cách hợp lý, hiệu qủa sẽ phục vụ đắc lực cho công
nghiệp hóa đất nước. Phương pháp phát triển như hiện nay của chúng ta đã và đang
làm suy thoái tài nguyên và môi trường nghiêm trọng. Những con số thống kê gần đây
cho ta một bức tranh rất đáng lo ngại về tình trạng suy thoái tài nguyên và môi trường
trên phạm vi toàn cầu và ở nước ta
HVCH: Trần Thị Thu Vân Luận văn Thạc sĩ Kinh tế
mất.
Những con số thống kê cho thấy bức tranh ảm đảm về tình trạng suy thoái tài
nguyên và môi trường ở quy mô toàn cầu và ở nước ta khai thác khoáng sản quá mức,
xói mòn đất, ô nhiễm các nguồn nước ô nhiễm môi trường công nghiệp, đô thị và nông
thôn, cũng như thiên tai thường xuyên xảy ra với tần suất cao và diễn biến phức tạp, sự
suy giảm các nguồn tài nguyên đa dạng sinh học và vấn đề ô nhiễm xuyên biên giới.
HVCH: Trần Thị Thu Vân Luận văn Thạc sĩ Kinh tế
Trong những năm qua, phát triển kinh tế - xã hội nước ta chủ yếu vẫn còn dựa
vào việc khai thác tài nguyên thiên nhiên; năng suất lao động còn thấp công nghệ sản
xuất quy mô tiêu dùng còn sử dụng nhiều năng lượng nguyên liệu và thải ra nhiều chất
thải. Dân số tăng nhanh, tỷ lệ hộ nghèo còn cao; các dịch vụ cơ bản về giáo dục và y tế
hiện còn bất cập, các loại tệ nạn xã hội chưa được ngăn chặn triệt để đang là những
vấn đề bức xúc. Nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên bị khai thác cạn kiệt, sử dụng lãng
phí và kém hiệu quả. Môi trường thiên nhiên ở nhiều nơi bị tàn phá nghiêm trọng, ô
nhiễm và suy thoái đến mức báo động. Hệ thống chính sách và công cụ pháp luật chưa
đồng bộ để có thể kết hợp một cách có hiệu quả giữa ba mặt của sự phát triển kinh tế,
xã hội và bảo vệ môi trường. Trong các chiến lược, quy hoạch tổng thể và kế hoạch
phát triển kinh tế- xã hội của đất nước cũng như của các ngành và địa phương, ba mặt
quan trọng trên đây của sự phát triển cũng chưa thực sự được kết hợp và lồng ghép
chặt chẽ với nhau.
1.2 Vốn với quá trình phát triển kinh tế nói chung ngành Tài nguyên và Môi
trường nói riêng :
1.2.1 Vốn trong họat động kinh doanh
1.2.1.1 Khái niệm về vốn đầu tư :
cơ sở hạ tầng, nhưng bản thân các nước này lại đang trong tình trạng tích lũy thấp,
thiếu vốn, vì vậy nhu cầu thu hút nguồn vốn đầu tư từ bên ngoài là rất cấp bách.
Kinh nghiệm của các nước cho thấy việc tăng cường đầu tư cho cơ sở hạ tầng sẽ
có tác động mạnh mẽ trở lại đến việc thu hút vốn đầu tư cho phát triển kinh tế. Một
nước có cơ sở hạ tầng tốt cùng với các chính sách ưu đãi khác sẽ có lợi thế hơn các
nước khác trong việc thu hút dòng chảy của vốn đầu tư quốc tế. Vì vậy các nước rất
chú trọng và dành một phần lớn ngân sách và nguồn viện trợ phát triển chính thức
(ODA) để chi cho xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng. Bên cạnh đó, để giảm gánh
nặng cho ngân sách, chính phủ thường cho phép tư nhân tham gia đầu tư cơ sở hạ tầng,
phát hành trái phiếu công trình, thành lập quỹ đầu tư , quỹ phát triển hạ tầng…
- Đầu tư vốn vào các doanh nghiệp để sản xuất ra hàng hoá và dịch vụ:
Để đạt được các mục tiêu tăng trưởng và phát triển kinh tế, các nước rất coi trọng
việc thu hút vốn đầu tư cho các doanh nghiệp. Vốn đầu tư dùng để thành lập mới, đầu
tư đổi mới công nghệ, đầu tư mở rộng và cải tạo nhà xưởng, trang thiết bị. đầu tư cho
các doanh nghiệp sẽ góp phần quan trọng vào việc tạo ra công ăn việc làm, cung cấp
hàng hoá và dịch vụ cho xã hội, tạo nguồn thu cho ngân sách.
- Đầu tư cho giáo dục và đào tạo:
HVCH: Trần Thị Thu Vân Luận văn Thạc sĩ Kinh tế
Đầu tư cho giáo dục và đào tạo nhằm phát triển tiềm năng con người có ảnh
hưởng quan trọng đến sự phát triển của nền kinh tế. Vì vậy, những nước có thành công
nổi bật trong kinh tế thường là những nước chú trọng đầu tư lớn cho giáo dục đào tạo.
Nhận thức được tầm quan trọng của giáo dục đào tạo đối với sự phát triển kinh tế,
chính phủ các nước thường dành một phần đáng kể ngân sách để chi cho giáo dục đào
tạo. Cùng với sự đầu tư của chính phủ, các nước còn cho phép huy động thêm các
mang tính không hoàn lại (chủ yếu là các khoản thu thuế ) với tổng chi tiêu dùng của
ngân sách. Tổng thu ngân sách sau khi chi cho các khoản chi thường xuyên, còn lại
hình thành nguồn vốn đầu tư phát triển.
Như vậy, vốn đầu tư của Nhà nước là một phần tiết kiệm của ngân sách để chi
cho đầu tư phát triển. Nguồn vốn này phụ thuộc vào khả năng tập trung thu nhập quốc
dân vào ngân sách và quy mô chi tiêu dùng của nhà nước. Đây là nguồn vốn đầu tư
quan trọng, ổn định và có tính định hướng cao đối với các nguồn vốn đầu tư khác.
Tiết kiệm của các doanh nghiệp là một nguồn hình thành vốn đầu tư trong nước.
Tiết kiệm của các doanh nghiệp nhà nước cũng như tiết kiệm của các doanh nghiệp tư
nhân (gọi chung là tiết kiệm của công ty) được hình thành từ lợi nhuận đạt được trong
kinh doanh để lại cho doanh nghiệp để đầu tư ( không chia) và quỹ khấu hao tài sản cố
định của công ty. Tiết kiệm của công ty là một bộ phận quan trọng của vốn đầu tư
nhằm mở rộng quy mô kinh doanh, đổi mới trang thiết bị, đổi mới công nghệ và nâng
cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, góp phần phát triển kinh tế .
Tiết kiệm của dân cư là phần tiết kiệm của các hộ gia đình và các cá nhân, tổ
chức đoàn thể xã hội. Đây là phần còn lại của thu nhập sau khi đã đóng thuế và sử
dụng cho mục đích tiêu dùng.
Mức độ tiết kiệm của dân cư phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Mức thu nhập bình
quân đầu người, chính sách lãi suất, chính sách thuế và sự ổn định kinh tế vĩ mô.
Tiết kiệm của dân cư giữ vai trò quan trọng trong hệ thống tài chính, do khả năng
chuyển hoá nhanh chóng thành nguồn vốn cho đầu tư thông qua các hình thức gởi tiết
kiệm, mua chứng khoán, trực tiếp đầu tư... Tiết kiệm dân cư cũng dễ dàng chuyển
thành nguồn vốn đầu tư của Nhà nước bằng cách mua trái phiếu chính phủ, hoặc
chuyển thành nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp qua việc mua trái phiếu, cổ phiếu
của các công ty phát hành.
Nguồn hình thành vốn đầu tư nước ngoài: Tiết kiệm của nước ngoài hình
thành vốn đầu tư nước ngoài dưới các dạng đầu tư trực tiếp và gián tiếp.
HVCH: Trần Thị Thu Vân
cung cấp vốn đầu tư một cách hiệu quả sẽ góp phần quan trọng để đạt được những
mục tiêu phát triển kinh tế. Điều này thể hiện trước hết ở tác động của vốn đầu tư đến
việc phát triển cơ sở hạ tầng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Đầu tư vốn vào cơ sở hạ
tầng sẽ tạo nền tảng cho sự phát triển kinh tế một cách vững chắc. Việc kiến tạo cơ sở
HVCH: Trần Thị Thu Vân Luận văn Thạc sĩ Kinh tế
hạ tầng luôn phải đi trước một bước để mở đường cho nền kinh tế phát triển. Ngân
hàng Thế giới đã nhận định rằng sự gia tăng tổng sản phẩm quốc gia thường tương ứng
với sự gia tăng vốn đầu tư vào cơ sở hạ tầng. Vì vậy muốn phát triển kinh tế cần phải
có một lượng vốn lớn để đầu tư vào cơ sở hạ tầng. Mặt khác, để đạt được mục đích
phát triển kinh tế nhanh và bền vững, cần phải tạo cơ cấu kinh tế tối ưu phù hợp với
đặc điểm tình hình của mỗi nước. Một cơ cấu kinh tế tối ưu luôn bảo đảm sự phát triển
cân đối, hài hoà cả về cơ cấu ngành và cơ cấu vùng và lãnh thổ. Ở đây vốn đầu tư
đóng vai trò quan trọng trong việc khai thác hiệu quả các nguồn lực tiềm năng tạo ra
động lực đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu theo hướng tối ưu, từ đó tạo ra sự phát triển
nhanh và bền vững.
Vai trò của vốn đối với phát triển kinh tế còn thể hiện qua việc vốn bảo đảm sự
kết hợp cân đối giữa tiết kiệm và đầu tư. Tiết kiệm chính là nguồn gốc của đầu tư,
nhưng việc tiết kiệm và đầu tư được thực hiện bởi các chủ thể khác nhau, do đó dễ dẫn
đến tình trạng nền kinh tế bị thừa hoặc thiếu vốn làm cho sự phát triển không ổn định,
tăng trưởng thấp,thất nghiệp gia tăng.Trong tình trạng thừa vốn, nhà nước phải khuyến
khích đầu tư và kích cầu tiêu dùng để tiêu hoá tốt lượng vốn từ tiết kiệm. Trong trường
hợp thiếu vốn, nhà nước phải có chính sách thu hút vốn từ bên ngoài, kiểm soát và
nâng cao hiệu quả hấp thụ vốn của nền kinh tế, đồng thời phải thực hành tiết kiệm để
nâng cao tỷ trọng nguồn vốn trong nước. Sự chu chuyển vốn sẽ tạo nên sự cân bằng vĩ
- Khoáng sản có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, đối với nhiều địa
phương đây là thế mạnh về kinh tế, việc khai thác chế biến khoáng sản kể cả khoáng
sản kim loại và khoáng sản phi kim loại đang đóng góp vào tăng trưởng kinh tế, giải
quyết việc làm tăng kim ngạch xuất khẩu. Tuy nhiên chúng ta đang đứng trước hai lựa
chọn một là: tiếp tục khai thác xuất khẩu thô hoặc mới qua tinh chế như hiện nay để
trước mắt thu một số lợi ích để không bao lâu nữa nguồn tài ngưyên sẽ cạn kiệt và thế
hệ sau sẽ không có cơ hội để nâng cao rất nhiều lần cái lợi mà chúng ta đã thu được,
hai là : giải quyết hài hoà lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài thông qua hạn chế xuất
khẩu dưới dạng thô và tinh, đi dôi với tăng cường huy động vốn đầu tư từ nhiều nguồn
nhằm nâng cao gía trị và hiệu qủa của nguồn tài nguyên không được tái tạo này.
- Đất đai đang là vấn đề nóng bỏng. Việc quản lý đất đai tốt hay không tốt có
ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đế phát triển kinh tế- xã hội. Luật Đất dai 2003 có ý
nghĩa rất quan trọng đối với công tác quản lý nhà nước về đất đai phát huy vai trò của
đất đai trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc: trong đó đổi mới được hệ thống
tài chính về đất đai là một nội dung rất quan trọng để huy động nguồn lực đất đai, lành
mạnh hoá và phát triển thị trường bất động sản. Vì vậy ngân sách nhà nước phải quan
tâm đến lĩnh vực đo đạc lập bản đồ, lập quản lý chỉnh lý hồ sơ địa chính gốc, đầu tư
trang thiết bị hệ thống thông tin, quy họach kế họach sử dụng đất mới cấp giấy
CNQSDĐ chính xác .
HVCH: Trần Thị Thu Vân Luận văn Thạc sĩ Kinh tế
Xét trên góc độ huy động vốn, tín dụng nhà nước là hoạt động đi vay do nhà
nước tiến hành nhằm cân đối ngân sách khi mà nguồn thu thuế và các nguồn khác
không đáp ứng đầy đủ các nhu cầu chi tiêu của ngân sách. Tín dụng nhà nước giúp nhà
nước huy động và tập trung được một nguồn thu lớn tạo điều kiện cho ổn định kinh tế
cư để cho vay. Các ngân hàng thương mại và các tổ chức trung gian tín dụng bằng việc
cho vay những nguồn tiền đã huy động được đã cung cấp cho nền kinh tế một khoản
vốn đầu tư cần thiết để phát triển. Bên cạnh việc thực hiện nghiệp vụ truyền thống là
vay và cho vay các ngân hàng còn thực hiện nghiệp vụ đầu tư vốn dưới các hình thức
đầu tư trực tiếp như hùn vốn liên doanh, liên kết, thành lập công ty, xí nghiệp bằng
vốn tự có của mình; hoặc đầu tư gián tiếp như sử dụng các nguồn vốn huy động có
thời hạn và vốn tự có để đầu tư vào cổ phiếu, trái phiếu và các chứng từ có giá khác và
Tín dụng nhà nước là một kênh huy động vốn cần thiết và quan trọng để bù đắp
bội chi ngân sách và tạo nguồn vốn đầu tư. Tuy nhiên việc vay nợ phải được kiểm
soát một cách chặt chẽ để tránh tình trạng vay quá giới hạn cho phép, dẫn đến áp lực
nặng nề của việc trả nợ, cũng như mất cân đối giữa đầu tư của ngân sách và đầu tư
của khu vực doanh nghiệp và dân cư làm gia tăng lãi suất huy động vốn, gây hạn chế
việc vay vốn đầu tư .
Tín dụng nhà nước cũng được thực hiện nhằm vay nợ nước ngoài bằng việc vay
từ nguồn viện trợ phát triển chính thức ODA, phát hành trái phiếu của nhà nước trên
thị trường quốc tế.
Tín dụng nhà nước được thực hiện nhằm vay nợ trong nước thông qua các công
cụ như công trái, tín phiếu ngắn hạn, trái phiếu dài hạn phát hành trong nước. Bằng
việc phát hành các chứng khoán này, nhà nước cung cấp cho thị trường tài chính một
khối lượng hàng hoá lớn, ít rủi ro làm phong phú thêm sản phẩm để phát triển thị
trường.
HVCH: Trần Thị Thu Vân Luận văn Thạc sĩ Kinh tế
khoản, tính rủi ro và tính sinh lợi. Với những tính chất này, chứng khoán trở thành
công cụ rất có hiệu quả để thu hút các khoản vốn nhàn rỗi trong dân cư, tập trung
Nguồn vốn đầu tư gián tiếp là những khoản đầu tư thực hiện thông qua các hoạt
1.2.3.2.2 Nguồn vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài:
Đối với các nước đang phát triển, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài mang ý nghiã
quan trọng trong việc tạo nên cú hích ban đầu cho sự tăng trưởng, bên cạnh nguồn vốn
ngoại tệ, FDI còn mang theo công nghệ, trình độ quản lý tiên tiến và khả năng tiếp cận
thị trường thế giới. Vì vậy, thu hút FDI đang trở thành hình thức huy động vốn phổ
biến, tạo nên sự cạnh tranh gay gắt giữa các nước đang phát triển.
Vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài hình thành từ tiết kiệm của tư nhân và các
công ty nước ngoài đầu tư vốn vào một nước khác nhằm khai thác lợi thế so sánh, tận
dụng các yếu tố lao động, tài nguyên của địa phương, tiết kiệm chi phí vận chuyển để
tăng lợi nhuận cho việc đầu tư .
Là nguồn vốn do các nhà đầu tư nước ngoài đưa vào để thực hiện các dự án sản
xuất, kinh doanh, góp vốn vào các công ty, xí nghiệp liên doanh hoặc thành lập các
doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài.
1.2.3.2.1. Nguồn vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI):
1.2.3.2. Nguồn vốn đầu tư nước ngoài:
Do tính hiệu quả trong việc huy động vốn, thị trường vốn được nhà nước và các
doanh nghiệp sử dụng để bù đắp phần vốn thiếu hụt trong đầu tư khi cần phải tập trung
một lượng vốn lớn để xây dựng cơ sở hạ tầng hoặc đầu tư các dự án lớn vượt quá khả
năng của nhà đầu tư.
HVCH: Trần Thị Thu Vân Luận văn Thạc sĩ Kinh tế
Viện trợ của các tổ chức phi chính phủ (NGO:Non – Government Organization)
Luận văn Thạc sĩ Kinh tế
Quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả chính là một cách tạo vốn và phát triển vốn
một cách chắc chắn nhất. Do vậy cùng với chiến lược huy động vốn cần có chiến lược
sử dụng vốn đúng đắn cho thời gian trước mắt và lâu dài một cách có hiệu quả và tiết
kiệm.
Huy động vốn phải gắn chặt yêu cầu sử dụng vốn có hiệu quả nguồn vốn vì nếu
không sẽ gây áp lực lạm phát và cũng không thể huy động tiếp được. Huy động vốn
không chỉ dừng lại ở mục đích góp phần kiềm chế lạm phát củng cố giá trị đồng tiền,
mà ý nghĩa quan trọng cũa nó còn ở chỗ đưa vốn vào sử dụng có hiệu quả.
- Hình thành và tạo lập sức mạnh nội sinh cho nền kinh tế hạn chế những tiêu cực
phát sinh về kinh tế xã hội do đầu tư nước ngoài mang lại tránh lệ thuộc vào kinh tế
nước ngoài.
- Nó tạo ra các điều kiện cần thiết để hấp thụ và khai thác có hiệu quả nguồn vốn
đầu tư nước ngoài.
Huy động vốn trong nước là quyết định, nguồn vốn nước ngoài là quan trọng.
Nguồn vốn trong nước đóng vai trò quyết định thể hiện ở chổ :
Quan điểm có tinh đinh hướng cho việc huy động vốn trong các tổ chức kinh tế,
trong dân cư nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế sự nghiệp công nghiệp hoá hiện
đại hoá đất nước đến năm 2010:
1.3.1 Những quan điểm của Đảng và nhà nước về huy động các nguồn vốn
đầu tư:
1.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả về sử dụng vốn trong họat động kinh
doanh
Nguồn vốn đầu tư gián tiếp được sử dụng có hiệu quả sẽ có tác dụng thúc đẩy,
khuyến khích và tạo điều kiện thu hút đầu tư trực tiếp. Đối với các nước đang phát
triển, nguồn vốn đầu tư gián tiếp của nước ngoài là nguồn vốn rất quý giá, cần phải
tranh của một nền kinh tế. Nhưng tăng trưởng kinh tế và khả năng cạnh tranh của một
quốc gia không chỉ dựa vào lượng vốn đầu tư nhiều hay ít, mà quan trọng hơn là hiệu
quả sử dụng lượng vốn này như thế nào. Phản ánh hiệu quả sử dụng vốn đầu tư có
nhiều chỉ tiêu và phương pháp tính toán khác nhau, nhưng chỉ tiêu tổng hợp hơn cả là
hệ số ICOR (Incremental Capital Output Ratio) là Hệ số tăng trưởng vốn - đầu ra, biểu
thị hiệu quả của việc sử dụng vốn đầu tư.
1.3.2 Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu qủa về sử dụng vốn
HVCH: Trần Thị Thu Vân Luận văn Thạc sĩ Kinh tế
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN ĐẦU TƯ PHÁT
TRIỂN KINH TẾ NGÀNH TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
BÌNH THUẬN GIAI ĐỌAN 2000-2004:
2.1 Vị trí của tỉnh Bình Thuận đối với phát triển chung cả nước.
2.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên, KT- XH tỉnh Bình thuận
2.1.1 1.Vị trí địa lý và đặc điểm tự nhiên:
Tỉnh Bình Thuận nằm ở miền duyên hải cực Nam Trung Bộ cách thành phố Hồ
Chí Minh 198 Km về phía Đông Bắc.
Phía Đông Bắc giáp tỉnh Ninh Thuận.
•
Phía Bắc và Tây Bắc giáp tỉnh Lâm Đồng.
•
Phía Tây giáp tỉnh Đồng Nai, Tây Nam giáp tỉnh Bà Rịa Vũng tàu.
•
Phía Đông và Đông Nam giáp Biển Đông.
•
cao, tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) tăng bình quân hàng năm 10,16%; trong đó, nông
lâm thủy sản 8,08%, công nghiệp xây dựng 12,6%, dịch vụ 11,95%, đạt và vượt mục
tiêu điều chỉnh. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, giảm dần tỷ trọng nông lâm
thủy sản từ 49,9% xuống còn 34,2%, tăng tỷ trọng công nghiệp xây dựng từ 20,5%
lên 27,8%; dịch vụ tăng từ 29,6% lên 38%. Tăng thu nhập bình quân đầu người một
năm từ 180 USD năm 1995 lên 300 USD năm 2004.
-Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế:
của đời sống KT-XH. Trình độ dân trí từng bước được nâng lên, nhu cầu của người
dân trong xã hội về vật chất cũng như tinh thần ngày càng tăng, đặc biệt trong những
năm gần đây, khi nhà nước chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế tập trung, bao cấp sang
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Cùng với việc mở cửa khuyến
khích các thành phần kinh tế trong và ngoài nước, bỏ vốn đầu tư sản xuất kinh doanh,
khai thác các nguồn tiềm năng của đất nước thì nền kinh tế thực sự có những bước
nhảy vọt mạnh mẽ. Điều đó, thể hiện bằng sự tăng trưởng kinh tế, cơ cấu các ngành
thay đổi theo hướng tích cực, mọi nguồn lực của đất nước đã và đang được tập trung
khai thác triệt để. Hàng hóa phong phú đa dạng, chất lượng ngày càng cao, năng suất
cây trồng vật nuôi ngày càng tăng, đời sống nhân dân được cải thiện một bước rõ rệt.
Bên cạnh những mặt được, còn những mặt chưa được khiến các nhà quản lý phải suy
nghĩ, đó là việc đầu tư sản xuất tràn lan, cạnh tranh thiếu lành mạnh, tạo ra những cơn
sốt giả tạo kể cả trong lĩnh vực đất đai, việc khai thác bừa bãi các nguồn tài nguyên
của đất nước, làn sóng người di cư tự do tăng cao, kèm theo là nạn chặt phá rừng, đốt
rừng làm rẫy, bao chiếm, mua bán đất đai trái phép, khai thác đất đai theo hướng tiêu
cực bóc lột đất đai, dẫn đến đất đai bị hủy hoại thoái hóa nhanh chóng.
Trong những năm vừa qua, cùng với sự gia tăng dân số là sự phát triển nhiều mặt
2.1.2 Về kinh tế - xã hội:
HVCH: Trần Thị Thu Vân