Hiện trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý nước thải của các mỏ than thuộc Tổng công ty Đông Bắc tại Quảng Ninh - Pdf 29

i
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN THỊ HUYỀN NGA
HIỆN TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO
HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NƯỚC
THẢI CỦA CÁC MỎ THAN THUỘC TỔNG
CÔNG TY ĐÔNG BẮC TẠI QUẢNG NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Thái Nguyên - 2014
ii
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN THỊ HUYỀN NGA
HIỆN TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO
HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NƯỚC
THẢI CỦA CÁC MỎ THAN THUỘC TỔNG
CÔNG TY ĐÔNG BẮC TẠI QUẢNG NINH
Chuyên ngành : KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Mã số ngành: 60 44 03 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ
KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. HOÀNG XUÂN CƠ
Thái Nguyên - 2014
iii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học do tôi trực tiếp

2.1. Mục tiêu tổng quát 2
2.2. Mục tiêu cụ thể 2
3. Yêu cầu của đề tài 3
4. Ý nghĩa của đề tài 3
4.1. Ý nghĩa trong nghiên cứu khoa học 3
4.2. Ý nghĩa trong thực tiễn 3
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài 5
1.1.1. Cơ sở lý luận 5
1.1.2.Cơ sở pháp lý 13
1.2.Tổng quan về tình hình bảo vệ tài nguyên nước và quản lý nước thải
trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh 18
1.2.1.Vấn đề bảo vệ tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh………… …18
1.2.2. Cơ cấu tổ chức thực hiện chức năng quản lý tài nguyên nước tại Quảng
Ninh……………………………………………………………………………………….20
1.2.3.Công tác quản lý, bảo vệ tài nguyên nước 21
1.2.4. Hiện trạng quản lý nước thải tại Quảng Ninh….…………… … … 23
1.2.5. Hiện trạng quản lý nước thải ngành than tại Quảng Ninh………… ……24
Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 27
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu 27
2.1.2. Phạm vi nghiên cứu 27
2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu 27
2.2.1. Địa điểm nghiên cứu 27
2.2.2. Thời gian nghiên cứu 28
2.3. Nội dung nghiên cứu 28
2.4. Phương pháp nghiên cứu 28
2.4.1. Phương pháp điều tra thu thập tài liệu 29
vi
2.4.2. Phương pháp phỏng vấn 29

: 5- day Biochemical Oxygen Demand (Nhu cầu oxy
sinh hoá 5 ngày)
COD
: Chemical Oxygen Demand (Nhu cầu oxy hoá học)
ĐTM
: Đánh giá tác động môi trường
Công ty TNHH MTV
: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên
MPN/100ml
: Mật độ khuẩn lạc trong 100ml
ng.đ
: Ngày đêm
PT
: Phân tích
PTN
: Phòng thí nghiệm
QCVN
: Quy chuẩn Việt Nam
SMEWW
: Phương pháp chuẩn để kiểm tra nước và nước thải,
Xuất bản lần thứ 19, 1995 APHA, AWWA, WEF, USA
(Standard method for examination of water and waste
water, 19
th
Editoin 1995, APHA, AWWA, WEF, USA)
TSS
: Total suspended solids (Tổng chất rắn lơ lửng)
TCCP
: Tiêu chuẩn cho phép
TCVN

hưởng bởi các hoạt động khai thác than
60
Bảng 3.8. Chương trình quan trắc nước thải sản xuất tại một số
mỏ than
69
Bảng 3.9. Tổng hợp các công trình môi trường
70
Bảng 3.10. Tổng số tiền ký quỹ môi trường
72
Bảng 3.11. Chất lượng nước thải sản xuất các mỏ than thuộc Công
ty TNHH MTV 35
73
Bảng 3.12. Chất lượng nước thải sinh hoạt các mỏ than thuộc
Công ty TNHH MTV 35
74
Bảng 3.13. Chất lượng nước mặt tại các nguồn tiếp nhận nước thải
của Công ty TNHH MTV 35
75
Bảng 3.14. Lưu lượng xả thải tại một số công ty than thuộc Tổng
Công ty Đông Bắc
78
Bảng 3.15. Danh sách các trạm xử lý nước thải đang hoạt động
79
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1. Tổng lượng (m
3
/ngày đêm) và cơ cấu (%) nước thải tỉnh
24
ix
Quảng Ninh

kinh tế khác, tạo động lực tăng trưởng kinh tế và ổn định xã hội.
Ngành than là một ngành công nghiệp chủ đạo của tỉnh Quảng Ninh. Hiện
nay, khai thác than đóng góp tới 1/3 GDP và hơn một nửa ngân sách tỉnh. Đây cũng
là một ngành quan trọng của đất nước, gắn liền với an ninh năng lượng quốc gia. Vì
vậy trong mô hình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Ninh nói riêng và toàn
quốc nói chung tất yếu phải tính đến sự phát triển của ngành than và sự phát triển
của ngành than cũng phải đặt trong tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của cả nước.
Tổng Công ty Đông Bắc là một trong 3 đơn vị sản xuất kinh doanh than lớn
của ngành than, được thành lập năm 1994 với 22 đơn vị thành viên, hàng năm sản
xuất ra trên 4,8 triệu tấn than.
Do tính chất của công nghệ khai thác, chế biến than, lượng nước thải phát sinh
từ ngành công nghiệp này là rất lớn. Theo thống kê năm 2012 của Sở Tài nguyên và
môi trường tỉnh Quảng Ninh, nước thải ngành than chiếm 52% tổng lượng nước
thải công nghiệp toàn tỉnh với các thông số điển hình tác động đến môi trường như
là độ pH, cặn lơ lửng, các kim loại nặng (sắt, mangan). Trong đó độ pH giao động
2
từ 3,1 đến 6,5; hàm lượng chất rắn lơ lửng cao hơn ngưỡng cho phép từ 1,7 đến 2,4
lần. Vì thế, nước thải từ mỏ gây ra nhiều ảnh hưởng đến hệ thống sông, suối, hồ
vùng ven biển - gây bồi lấp, làm mất nguồn thủy sinh, suy giảm chất lượng nước.
Do đó, cần phải có những biện pháp chặt chẽ quản lý lượng nước thải này, phải có
những biện pháp xử lý, giảm thiểu ô nhiễm trước khi thải ra ngoài môi trường.
Để giải quyết triệt để vấn đề xử lý nước thải, thoát nước và vệ sinh môi trường
nước của tỉnh Quảng Ninh trong đó có công tác quản lý nước thải đòi hỏi một quá
trình lâu dài, dựa trên quy hoạch chung có định hướng rõ ràng. Thực tế chỉ ra rằng
sẽ rất khó khăn và không hiệu quả nếu như các biện pháp thực thi không nằm trong
một kế hoạch tổng thể, phù hợp với định hướng phát triển thoát nước nói riêng và
với quy hoạch tổng thể xây dựng nói chung.
Xuất phát từ thực tế trên, được sự nhất trí của Nhà trường, dưới sự hướng dẫn
của PGS.TS. Hoàng Xuân Cơ, chúng tôi chọn tiến hành nghiên cứu đề tài: "Hiện
trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý nước thải các mỏ than thuộc

4.1. Ý nghĩa trong nghiên cứu khoa học
- Vận dụng những kiến thức đã học vào giải quyết một vấn đề thực tế.
- Kết quả của đề tài là nền móng cho các nghiên cứu tiếp theo về vấn đề quản
lý nước thải nói chung, nước thải ngành sản xuất chế biến than nói riêng tại Quảng
Ninh và các khu vực khác.
4.2. Ý nghĩa trong thực tiễn
- Đánh giá được thực trạng vấn đề xả nước thải vào nguồn nước của các mỏ
than thuộc Tổng Công ty Đông Bắc, lưu lượng nước thải, tính chất và tải lượng ô
nhiễm của nước thải, công tác xử lý nước thải và thực trạng vấn đề quản lý nước
4
thải. Từ đó giúp các mỏ than có giải pháp thích hợp giảm tác động của nước thải tới
môi trường.
- Kết quả đánh giá hiệu quả của việc xử lý nước thải của đề tài sẽ chỉ ra những
mặt đạt được và những thiếu sót của công tác quản lý nước thải hiện tại. Từ đó đề
xuất ra được một số giải pháp về công nghệ và quản lý nhằm nâng cao hiệu quả của
công tác quản lý nước thải.
- Đề tài có ý nghĩa trong việc đánh giá hiện trạng, quy mô, tính chất của vấn
đề quản lý nước thải của ngành công nghiệp khai thác và chế biến than.
5
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1. Cơ sở lí luận
 Khái niệm môi trường
Theo khoản 1 điều 3 Luật Bảo Vệ Môi Trường Việt Nam năm 2005 môi
trường được định nghĩa như sau: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật
chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống sản xuất, sự tồn tại,
phát triển của con người và sinh vật”.
 Khái niêm tài nguyên nước
Tài nguyên thiên nhiên là các dạng vật chất, năng lượng, thông tin có giá trị tự

- Trực tiếp duy trì sự sống của con người và sinh vật.
- Là nguồn cung cấp loại vật chất cần thiết chưa thể thay thế trong nhiều quá
trình sản xuất, kinh tế, xã hội.
- Là nơi nhận, chứa, xử lý chất thải làm sạch môi trường. Là đường giao
thông và nguồn cung cấp năng lượng.
- Là một thành tố tự nhiên không thể thiếu của cảnh quan, tạo nên tính
hệ thống, hoàn chỉnh, nhất thể của nó và các quá trình diễn ra trong nó, từ đó tạo ra
các giá trị khoa học, văn hoá, thẩm mỹ, phong thuỷ…
Các giá trị sử dụng trên của nước không hoàn toàn song hành, mà có thể có
những đối nghịch, triệt tiêu nhau và việc khai thác một chức năng nào đó có thể
dẫn đến làm giảm hoặc mất hẳn những chức năng còn lại. Do vậy giá trị tổng hợp
của tài nguyên không phải là phép cộng số học các giá trị trên và việc sử dụng hợp
lý, hiệu quả tài nguyên nước là một bài toán vô cùng phức tạp. Nhiều cộng đồng
đã và đang có xu thế khai thác quá mức một vài chức năng nào đó của tài nguyên
nước địa phương, gây tổn thương toàn hệ thống, suy giảm, thậm chí triệt tiêu các
chức năng còn lại của nó. Nhiều hoạt động nhân tạo đang làm tổn thương điều
kiện hình thành thời tiết, khí hậu, thuỷ văn tự nhiên ở tầm vĩ mô và toàn cầu, làm
thay đổi các quy luật hình thành, biến đổi tài nguyên nước vốn tương đối ổn định,
gây bất lợi cho các đối tượng sử dụng.
Thực tiễn dùng nước của một địa phương phụ thuộc:
7
1- Đặc điểm, tính chất của tài nguyên (như số lượng, chất lượng, phân bố
theo thời gian và không gian, khả năng tự phục hồi…).
2- Đặc điểm của đối tượng dùng nước (nhu cầu, thói quen, nhận thức, năng
lực, khả năng tài chính, công nghệ…). Việc người dân dùng loại nước nào, dùng
như thế nào phụ thuộc trước tiên vào khả năng của họ có thể đầu tư ban đầu và
chi trả thường kì ở mức nào. Ngoài ra, nó cũng phụ thuộc đáng kể vào thói quen
cộng đồng và văn hoá truyền thống. Có những nhóm cư dân chỉ chấp nhận sử dụng
một số loại nước nào đó cho sinh hoạt theo thói quen, ví dụ như pha chè bằng nước
giếng làng, ăn bằng nước mưa, uống bằng nước mưa không đun sôi… Có lẽ câu ca

đổi phức tạp và có ý nghĩa lớn đối với nền kinh tế, tăng trưởng và phân bổ lợi ích.
Thậm chí có những quốc gia sẽ sẵn sàng sử dụng vũ lực để xâm chiếm và khai thác
các nguồn nước hoặc vùng sinh thủy.
Quản lý tổng hợp nguồn nước là giải pháp tích cực do Liên Hợp Quốc đưa
ra để quản lý và sử dụng hợp lý, hiệu quả tài nguyên nước. Quản lý tổng hợp
nguồn nước được định nghĩa là quá trình đẩy mạnh sự hợp tác phát triển và quản lý
nước, đất cùng các nguồn tài nguyên khác có liên quan, nhằm tối đa hoá phúc lợi
xã hội - kinh tế một cách công bằng mà không phải hy sinh tính bền vững của
các hệ sinh thái. Nó có thể bao gồm cả việc giảm một số lợi ích kinh tế nào đó để
bảo vệ tự nhiên cho thế hệ tương lai, hoặc duy trì và phát triển giá trị của nước đối
với xã hội. Quản lý tổng hợp nguồn nước dựa trên quan điểm cho rằng nước là một
phần nội tại của hệ sinh thái, một nguồn tài nguyên thiên nhiên và một hàng hoá
kinh tế xã hội mà số lượng cũng như chất lượng của nó quyết định bản chất của
việc sử dụng. Như vậy nguồn nước phải được bảo vệ, có tính đến chức năng của hệ
sinh thái nước và mức độ sẵn có của nguồn lực, nhằm thoả mãn những nhu cầu về
nước cho các hoạt động của con người.
Nước là một trong những yếu tố sống còn cho sự sống, tăng trưởng và phát
triển. Việc quản lý một cách bền vững nguồn lực có hạn này cần phải tính đến một
diện rộng các yếu tố xã hội, kinh tế và môi trường sinh thái. Quản lý tổng hợp
9
nguồn nước là một quá trình thông qua đó các yếu tố này được kết hợp lại với nhau,
cho phép ra quyết định ở tất cả các cấp trong khuôn khổ của việc lập kế hoạch tổng
thể và điều phối chung giữa tất cả các ngành, các lĩnh vực trong xã hội.
Nguyên tắc Dublin - Rio quản lý tổng hợp nguồn nước:
Nguyên tắc sinh thái: Nước sạch là nguồn tài nguyên hữu hạn, dễ bị tổn
thương, cần cho sự sống, phát triển và môi trường. Do đó tiếp cận sử dụng tổng hợp
phải tính đến các thành phần cán cân nước, hoạt động phát triển và tác động tại mỗi
vùng thượng hạ lưu, sử dụng đa mục đích, liên kết đa ngành, gắn kết xã hội loài
người và thiên nhiên. Tỷ lệ dòng chảy tự nhiên không bị khai thác phản ánh điều
kiện cư trú dưới nước: 10% của dòng chảy trung bình năm sẽ tạo nên điều kiện cư

kết cũng như nhận thức rộng rãi hơn của xã hội đối với nhu cầu về an ninh nước
và quản lý bền vững nguồn nước. Để đạt được quản lý tổng hợp nguồn nước cần
phải có những chính sách nhất quán cấp quốc gia, vùng để vượt qua được tình trạng
phân lẻ, manh mún, có được thể chế tổ chức minh bạch, có trách nhiệm cao tại tất
cả các cấp.
Phạm vi quản lý tổng hợp nguồn nước và các yếu tố môi trường liên quan
đến nước bao gồm:
- Quản lý tổng hợp tất cả các nguồn nước.
- Quản lý tổng hợp tất cả các ngành dùng nước.
- Quản lý cả lượng và chất, kiểm soát và hạn chế ô nhiễm. Quản lý cả cung
và cầu một cách tiết kiệm, hiệu quả.
- Quản lý sử dụng nước trong mối liên quan đến sử dụng đất và hệ sinh thái
lưu vực.
- Quản lý tổng hợp việc khai thác và sử dụng nước ở cả thượng và hạ lưu,
hạn chế mâu thuẫn sử dụng nước giữa các vùng này.
Những thành tố cơ bản của quản lý tổng hợp nguồn nước là:
- Những chính sách tốt về nước (dựa trên các mục tiêu phát triển tổng thể,
đóng góp đầu vào của các bên có liên quan và các nhà tài trợ ).
- Khuôn khổ pháp lý, thể chế, điều tiết thích hợp.
11
- Sự tham gia của các bên có liên quan, nhất là phụ nữ. Quan điểm truyền
thống về nước (văn hoá, tôn giáo ). Giá trị của nước (kinh tế, xã hội và môi
trường).
- Phân bổ công bằng nguồn nước. Ra quyết định ở cấp thấp nhất có thể.
Phân
cấp trách nhiệm quản lý và phân phối nước cũng như các dịch vụ khác về hệ sinh
thái. Phương thức tiếp cận khoa học kỹ thuật công nghệ tốt. Hệ thống dữ liệu thông
tin và cơ sở tri thức.
- Công cụ phân tích đánh giá giá trị kinh tế của nước. Khuôn khổ giám sát và
thực thi.

Giám sát chất lượng nước là các hoạt động nhằm mục tiêu đánh giá chất
lượng nước nền và theo dõi biến động chất lượng nước trong quá trình khai thác sử
dụng. Giám sát chất lượng nước được triển khai tuỳ theo mục đích, nhu cầu và khả
năng về nhân lực, kỹ thuật, tài chính.
Việc đo đạc các chỉ tiêu chất lượng nước và tiêu chuẩn chất lượng môi
trường nước được quy ước đưa vào nội dung môn học về ô nhiễm môi trường, do
đó giáo trình này không đề cập sâu. Tuy nhiên, cần lưu ý là việc nghiên cứu, ghi
chép kỹ lưỡng các đặc điểm hình thái, động lực của thuỷ vực, cũng như điều kiện
khí hậu, đặc điểm lưu vực, nguồn cấp nước, nguồn thải, vùng và phương thức tiêu
nước giúp chúng ta định ra được số điểm đo ít nhất và lý giải được những bất
thường của kết quả phân tích.[12]
 Công cụ kinh tế trong quản lý nguồn nước
Nguyên tắc Dublin coi nước có giá trị kinh tế trong tất cả những cách thức
sử dụng cạnh tranh nhau, vì thế nó cần phải được phân bổ có tính đến những
nguyên tắc kinh tế về tính hiệu quả, công bằng. Các công cụ kinh tế được sử dụng
trong quản lý nguồn nước để phân phối công bằng hợp lý nguồn nước, đảm bảo
phục vụ phát triển và bảo tồn trữ lượng nước, bảo vệ chất lượng nước, làm giảm
thiểu các tác động bất lợi tới nguồn nước.
Các công cụ kinh tế đa mục tiêu theo định hướng thị trường trong quản lý
nguồn nước gồm: Cấp giấy phép, thu phí và tiền phạt, định giá nước và thu
tiền dùng nước. Cấp giấy phép, là công cụ đơn giản, ít tốn chi phí quản lý, nhưng
13
thường gặp khó khăn trong việc giám sát thực thi, không có tác động hiệu quả
đối với việc khuyến khích một hành vi cụ thể và không mang lại nguồn thu. Phí
và tiền phạt, là công cụ đơn giản, có thể dễ định hướng để khuyến khích những
thay đổi hành vi cụ thể, nhưng tốn nhiều chi phí hơn, khó giám sát thực thi và
không mang lại nhiều nguồn thu.
Định giá nước là một công cụ dễ định hướng để khuyến khích thay đổi hành
vi, mang lại nguồn thu lớn, nhưng phức tạp và có thể gây mâu thuẫn xã hội.
Trong định giá nước, bên cạnh những chi phí/giá trị xã hội và cá nhân đối với

liên ngành và phối hợp. Trên cơ sở đó Việt Nam đã thành lập Hội đồng quốc gia về
tài nguyên nước và các ban quản lý, quy hoạch lưu vực ở cấp địa phương (hiện đã
thành lập được 3 ban quản lý lưu vực sông Cửu Long, Đồng Nai và sông Hồng -
Thái Bình). Đây là các đơn vị trực thuộc Chính phủ, có nhiệm vụ tư vấn giúp
Chính phủ điều phối và quy hoạch phát triển và tiêu thụ nước.
Trách nhiệm quản lý tài nguyên nước được chia sẻ cho 9 bộ và cơ quan
ngang bộ chịu trách nhiệm trong từng nội dung công việc cụ thể. Uỷ ban nhân dân
các tỉnh chịu trách nhiệm thực thi các chức năng quản lý ở cấp tỉnh và huyện.
Chi phí cho quản lý tài nguyên nước từ ngân sách không được phân bổ thành
mục riêng. Ước tính đầu tư của nhà nước cho ngành nước chiếm 33% ngân sách
giai đoạn 1996 - 1998 và 21% năm 2001 (8,559 tỷ đồng), bao gồm 64% từ nguồn
ODA và 36% từ đầu tư trực tiếp trong nước, chủ yếu tập trung vào thủy lợi và cấp
thoát nước.[12]
15
Bảng 1.1. Chức năng của các cơ quan nhà nước Việt Nam trong quản lý
nguồn nước
STT
Tên Bộ
Chức năng, trách nhiệm
1
Bộ Tài nguyên và
Môi trường
Quản lý chung về tài nguyên nước. Cục Quản lý
tài nguyên nước quản lý nhà nước, kiểm kê, xây
dựng và quản lý cơ sở dữ liệu về tài nguyên nước.
Vụ khí tượng thủy văn quản lý nhà nước về xây
dựng chính sách tiêu chuẩn, quy trình khảo sát các
thông số nền và quản lý dữ liệu. Cục Địa chất
khoáng sản quản lý nước khoáng.
2

nước
b. Hệ thống quan trắc tài nguyên nước
Mạng lưới quan trắc thủy văn hiện có 232 trạm phân bố trên toàn bộ các hệ
16
thống sông, đo đạc các yếu tố thủy văn theo quy phạm thống nhất, liên tục.
Trách nhiệm xử lý và phân tích dữ liệu được giao cho 9 trung tâm khí tượng thủy
văn cấp vùng.
Mạng quan trắc môi trường năm 2002 có 21 trạm, quan trắc tại 250 điểm
thuộc 45 tỉnh thành, bao gồm cả những điểm nóng như khu công nghiệp, thành
phố lớn và các vùng sinh thái nhạy cảm. Tần suất quan trắc 6 lần/năm. Kết quả
quan trắc được giao cho phòng dữ liệu và thông tin cục bảo vệ môi trường.
Mạng quan trắc nước dưới đất có 310 trạm với trên 600 điểm phủ rộng trên
toàn quốc, do Cục địa chất khoáng sản quản lý.
Bộ Thủy sản tiến hành quan trắc chất lượng nước ở các khu vực có hoạt
động nuôi trồng thủy sản.
Bộ Y tế chịu trách nhiệm giám sát chất lượng nước uống.[12]
c. Các căn cứ pháp lý về quản lý Tài nguyên nước
1. Luật bảo vệ môi trường được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam thông qua ngày 29/11/2005 và có hiệu lực thi hành ngày 01/7/2006.
2. Nghị định số: 80/2006/NĐ-CP ngày 09/8/2006 của Chính phủ về việc quy
định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ Môi trường.
3. Nghị định 21/2008/NĐ-CP ngày 28 tháng 02 năm 2008 về sửa đổi bổ sung
một số điều của nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 08 năm 2006 của
Chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo
vệ Môi trường.
4. Luật Tài nguyên nước 17/2012/QH13 đã được Quốc hội nước
CHXHCNVN khóa XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 21/6/2012 ;
5. Nghị định 201/2013/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của
Luật tài nguyên nước;


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status