ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
PHƯƠNG QUỐC HUY Tên đề tài:
“ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG THU GOM, XỬ LÝ RÁC THẢI VÀ
NƯỚC THẢI Y TẾ TẠI TRUNG TÂM Y TẾ HUYỆN VĂN LÃNG,
TỈNH LẠNG SƠN”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Khoa học Môi trường
Khoa : Môi trường
Khóa học : 2010 - 2014
Thái Nguyên, năm 2014
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khoá luận này trước tiên tôi xin trân trọng cảm ơn Ban
giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Môi trường, cảm ơn các thầy cô
giáo đã truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt quá trình học
tập và rèn luyện tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. Tôi xin trân
trọng cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của Ts. Phan Thị Thu Hằng đã giúp đỡ
tôi trong suốt thời gian thực tập để tôi hoàn thành khoá luận tốt nghiệp này.
Xuất phát từ nguyện vọng bản thân và được sự giúp đỡ của Ban giám hiệu
nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Môi trường tôi về thực tập tại Trung tâm Y
tế huyện Văn Lãng để hoàn thành đề tài: “Đánh giá thực trạng thu gom, xử lý
rác thải và nước thải y tế tại Trung tâm Y tế huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng
Sơn”. Tôi xin cảm ơn các bác trong Ban giám đốc, các cô, các chú, các anh
chị trong Trung tâm Y tế huyện Văn Lãng đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong
suốt quá trình thực tập tại Trung tâm Y tế.
Cuối cùng tôi bày tỏ sự biết ơn tới gia đình, bạn bè và người thân đã
giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập.
Trong quá trình nghiên cứu vì lí do chủ quan và khách quan nên khoá
luận không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý
kiến của các thầy, cô giáo và các bạn sinh viên.
Thái Nguyên, tháng 12 năm 2014
Sinh viên
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu 36
2
3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành 36
3.3. Nội dung nghiên cứu 36
3.3.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, vị trí địa lý của huyện Văn Lãng 36
3.3.2. Đánh giá thực trạng thu gom, xử lý chất thải y tế tại Trung tâm
Y tế huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn 36
3.3.3. Đề xuất các giải pháp kỹ thuật trong việc quản lý chất thải y
tế của Trung tâm Y tế huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn 36
3.4. Phương pháp nghiên cứu 37
3.4.1. Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 37
3.4.2. Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 37
3.4.3. Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 37
PHẦN 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 38
4.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Văn Lãng 38
4.1.1. Vị trí địa lý, địa hình, đất đai 38
4.1.2. Về xã hội 40
4.1.3. Kinh tế 41
4.2. Đánh giá thực trạng thu gom, xử lý chất thải y tế tại Trung tâm
Y tế huyện Văn Lãng 43
4.2.1. Lượng chất thải và nước thải phát sinh tại Trung tâm
Y tế huyện Văn Lãng 43
4.2.2. Đánh giá thực trạng thu gom rác thải và nước thải
y tế tại Trung tâm Y tế huyện Văn Lãng 47
4.2.3. Thực trạng xử lý rác thải và nước thải tại Trung tâm
Y tế huyện Văn Lãng 50
4.3. Đề xuất giải pháp trong hoạt động thu gom, xử lý rác thải y tế tại TTYT 54
4.3.1. Giải pháp đối với hệ thống thu gom, xử lý rác thải y tế 54
4.3.2. Giải pháp đối với hệ thống thu gom và xử lý nước thải y tế 55
3
Phương Quốc Huy
5
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Đặc tính của chất thải y tế nguy hại 8
Bảng 2.2: Thành phần nước thải bệnh viện 10
Bảng 2.3: Chất thải y tế theo giường bệnh trên thế giới 14
Bảng 2.4: Chất thải y tế phát sinh theo giường bệnh tại Việt Nam 15
Bảng 4.1 Lượng chất thải rắn y tế phát sinh của Trung tâm
Y tế huyện Văn Lãng 43
Bảng 4.2: Danh sách nguyên liệu thô, hóa chất sử dụng hàng tháng 44
Bảng 4.3: Thống kê nguồn phát sinh chất thải y tế tại Trung tâm
Y tế huyện Văn Lãng 45
Bảng 4.4: Lượng rác thải phát sinh trung bình theo tháng của
Trung tâm Y tế huyện Văn Lãng 46
Bảng 4.5: Thống kê lượng rác thải phát sinh hàng tháng theo thành phần 46
Bảng 4.6: Tỉ lệ khoa phân loại riêng chất thải rắn y tế nguy hại (n = 9) 48
Bảng 4.7: Kết quả khảo sát biện pháp xử lý chất thải rắn y tế nguy hại
843 bệnh viện tuyến huyện trở lên nhưng hầu hết chưa được quản lý theo một
quy chế chặt chẽ hoặc có xử lý nhưng theo cách đối phó hoặc chưa đúng. Ô
nhiễm môi trường do các hoạt động y tế mà thực tế là tình trạng xử lý kém
hiệu quả các chất thải Trung tâm Y tế.
Tỉnh Lạng Sơn có 11 cơ sở y tế cấp huyện nằm khắp nơi trên địa bàn
tỉnh. Việc phát triển và nâng cấp các cơ sở y tế là một nhu cầu thiết yếu và
cần thiết của xã hội song sự phát triển ồ ạt dẫn tới việc không đồng bộ của
hoạt động bộ máy, đặc biệt bảo vệ môi trường luôn là vấn đề được đặt ra sau
2
cùng trong quá trình phát triển này.
Việc tiếp xúc với chất thải y tế là trạng thái y tế có thể gây nên bệnh tật
hoặc tổn thương. Các chất thải y tế có thể chứa đựng các yếu tố truyền nhiễm,
là chất độc hại phóng xạ các vật sắc nhọn… tất cả các nhân viên tiếp xúc với
chất thải y tế nguy hại là những người có nguy cơ nhiễm bệnh tiềm tàng, bao
gồm những người làm việc trong các cơ sở y tế, những người bên ngoài làm
việc thu gom chất thải y tế và những người trong cộng đồng bị phơi nhiễm
với chất thải do sự sai sót trong khâu quản lý chất thải.
Trung tâm Y tế huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn được xây dựng nhằm
phục vụ yêu cầu về khám chữa bệnh và điều trị bệnh cho nhân dân trong địa
bàn huyện. Trải qua một thời gian dài, xây dựng và phát triển ngày nay TTYT
huyện Văn Lãng đã được xây dựng khang trang, được trang bị nhiều trang
thiết bị nhiều trang thiết bị hiện đại, quy mô giường bệnh cũng tăng hàng
năm, là tuyến cơ sở tiếp nhận bệnh nhân đến từ các trạm y tế xã đến để chăm
sóc và điều trị.
Lượng bệnh nhân đến khám chữa bệnh và điều trị tại TTYT ngày càng
tăng và hệ quả tất yếu là sẽ làm tăng lượng chất thải y tế tại đây. Phát sinh và
thải bỏ chất thải y tế nếu không được kiểm soát chặt chẽ sẽ gây ảnh hưởng lớn
đến môi trường xung quanh và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người dân.
Xuất phát từ tình hình thực tế và yêu cầu của công tác thu gom xử lý chất thải y
tế tại các cơ sở y tế. Được sự đồng ý của khoa Môi trường em tiến hành thực
2.1. Cơ sở pháp lý
- Luật bảo vệ môi trường ngày 29 tháng 11 năm 2005.
- Nghị định số 59/2007 NĐ - CP ngày 09 tháng 04 năm 2007 về quản
lý chất thải rắn.
- Quyết định 153/2006/QĐ - TTG ngày 30/06/2006 của Thủ tướng
chính phủ phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống y tế Việt Nam
giai đoạn đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020.
- Quyết định 155/1999/QĐ - TTG của Thủ tướng chính phủ về quy chế
quản lý chất thải nguy hại.
- Quyết định 21495/2009/QĐ - TTG ngày 17 tháng 12 năm 2009 của
Thủ tướng chính phủ phê duyệt chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất
thải rắn đến năm 2025 tầm nhìn đến năm 2050.
- Quyết định số 23/2006/QĐ - BTNMT 26 tháng 12 năm 2006 về việc
ban hành danh mục chất thải nguy hại.
- Quyết định số 2575/1999/QĐ - BTNMT ngày 27 tháng 08 năm 1999
về việc ban hành quy chế quản lý chất thải y tế.
- Quyết định số 43/2007/QĐ - BYT ngày 30 tháng 11 năm 2007 về việc
ban hành quy chế quản lý chất thải y tế.
- TCVN 7382/2004 về chất lượng nước thải bệnh viện tiêu chuẩn thải.
- Thông tư số 12/2006/TT-Bộ TNMT ngày 26 tháng 12 năm 2006: hướng
dẫn điều kiện hành nghề và thủ tục lập hồ sơ, đăng ký, cấp phép hành nghề, mã số
quản lý chất thải nguy hại.
5
2.2. Cơ sở lý luận
2.2.1. Các khái niệm liên quan
* Định nghĩa chất thải y tế
Theo quy chế quản lý CTYT của Bộ Y tế ban hành tại quyết định số
43/QĐ-BYT ngày 30/11/2007, quy định:
tia xạ từ các khoa chẩn đoán hình ảnh hoặc xạ trị).[1]
* Chất thải phóng xạ: Gồm các chất thải phóng xạ rắn, lỏng và khí phát
sinh từ các hoạt động chẩn đoán, điều trị, nghiên cứu và sản xuất.
Danh mục thuốc phóng xạ và hợp chất đánh dấu dùng trong chẩn đoán
và điều trị ban hành kèm theo Quyết Định số 33/2006/QĐ-BYT ngày
24/10/2006 của Bộ trưởng Bộ Y tế.
* Bình chứa áp suất: bao gồm bình đựng oxi, CO
2
, bình ga, bình khí
dung. Các bình này dễ gây cháy, nổ khi thiêu đốt.
* Chất thải thông thường: là chất thải không chứa các yếu tố lây nhiễm,
hóa học nguy hại, phóng xạ, dễ cháy , nổ, bao gồm:
- Chất thải sinh hoạt từ các buồng bệnh (trừ các buồng bệnh cách ly).
- Chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn y tế như các chai lọ
thủy tinh, chai huyết thanh, các vật liệu nhựa, các loại bột bó trong gẫy xương
kín. Những chất thải này không dính máu, dịch sinh học và các chất hóa học
nguy hại.
- Chất thải phát sinh từ các công việc hành chính: Giấy, báo, vật liệu
đóng gói, thùng các tông, túi nilon, túi đựng phim.
- Chất thải ngoại cảnh: Lá cây và rác từ các khu vực ngoại cảnh.[2]
7
2.2.2. Nguồn phát sinh, thành phần và tính chất của chất thải y tế
2.2.2.1. Nguồn gốc phát sinh
Chất thải y tế nguy hại là chất thải y tế chứa nhiều yếu tố nguy hại cho
sức khỏe con người và môi trường như dễ lây nhiễm, gây ngộ độc, phóng xạ,
dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn hoặc có đặc tính nguy hại khác nếu những chất thải
này không được tiêu hủy hoàn toàn.
Các chất thải rắn y tế nguy hại bao gồm: chất thải lây nhiễm sắc nhọn
(bơm kim tiêm, đầu sắc nhọn của dây chuyền dịch, lưỡi dao mổ, đinh mổ,
cưa, các ống tiêm, mảnh thủy tinh vỡ và các vật sắc nhọn khác), chất thải lây
kg/ngày, trong đó rác thải sinh hoạt là 756 kg. chiếm 80,16% thải y tế là 95
kg, chiếm 10,07%; Rác thải y tế nguy hại chiếm 2,97%, rác có thể tái chế
chiếm 5,02% và các loại rác thải khác chiếm 1,78%.
Xét về các thành phần chất thải dựa trên đặc tính lý hóa thì tỷ lệ các
thành phần có thể tái chế là khá cao, chiếm trên 25% tổng lượng CTR y tế,
chưa kể 52% CTR y tế là các chất hữu cơ. Trong thành phần CTR y tế có
lượng lớn chất hữu cơ và thường có độ ẩm tương đối cao, ngoài ra còn có
thành phần chất nhựa chiếm khoảng 10%, vì vậy khi lựa chọn công nghệ thiêu
đốt cần lưu ý đốt triệt để và không phát sinh khí độc hại.[4]
Bảng 2.1: Đặc tính của chất thải y tế nguy hại
Đặc tính Giá trị trung bình
Tỷ trọng (tấn /m
3
) 0,13
Độ ẩm (%) 50
Tỉ lệ tro(%) 10,3
Nhiệt trị (kcal/kg) 2153
(Nguồn: Ngô Kim Chi - report on building up the plan for healthcare waste
management and treatment, 2007)[12]
1
MỤC LỤC
PHẦN 1.MỞ ĐẦU 1
1.1. Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2. Mục tiêu đề tài 2
1.2.1. Mục tiêu tổng quát 2
1.2.2. Mục tiêu cụ thể 3
1.3. Yêu cầu 3
1.4. Ý nghĩa đề tài 3
PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
Nư
ớc thải sinh hoạt của
bệnh nhân, người nhà b
ệnh
nhân, khách vãng lai và c
ủa
cán bộ công nhân viên ch
ức
trong bệnh viện.
Chất tẩy rửa Muối của các axit béo bậc cao
Các bu
ồng giặt của bệnh
nhân.
Các lo
ại hóa
chất
Formaldehyde các ch
ất quang
hóa h
ọc, các dung môi gồm các
hợp chất halogen nh
ư
clorofrom, các thuốc mê sốc h
ơi
như halothan, các h
ợp chất khác
như xylen, axeton; các ch
ất hóa
học hỗn hợp: gồm các dịch l
ẩn: salmonalla, shigella,
vibrio, coliorm tụ cầu, liên c
ầu,
pseudomonas,
strreptococus,
virut đường tiết liệu, đường ti
êu
hóa, virut b
ại liệt, nhiễm cá loại
ký sinh trùng, amip và các lo
ại
nấm.
Có trong máu, d
ịch đờm,
phân của người mang bệnh.
(Nguồn: Quy chế quản lý chất thải y tế 2013 - Bộ Y tế)[1]
11
Việc sử dụng rộng rãi các chất tẩy rửa (chất hoạt động bề mặt) ở xưởng
giặt là của BV cũng có những tác động xấu đến công trình xử lý nước thải
(XLNT). Các chất hoạt động bề mặt có khả năng tạo huyền phù trong bể lắng
và đa số vi khuẩn tụ tập trong bọt.
Hiện nay, tại nhiều TTYT và cơ sở y tế, nước thải không được thu gom
nên chảy ra cống thoát nước hay tràn ra các ao, hồ, kênh mương xung quanh.
Vấn đề này đe dọa đến chất lượng môi trường, đặc biệt là ảnh hưởng nghiêm
trọng đến sức khỏe của bệnh nhân đến khám chữa bệnh cũng như cộng đồng
dân cư trong khu vực.
2.2.3. Ảnh hưởng của chất thải y tế đến môi trường và sức khỏe cộng đồng
* Tác hại, nguy cơ của chất thải y tế đối với môi trường và sức khỏe
cộng đồng.
quản lý CTYT tại một số bệnh viện ngoại thành Hà Nội cho thấy: Các chỉ tiêu
trong nước thải như COD, BOD
5
, NH
4
, coliform và FeCAl coliform ở mức độ
ô nhiễm nặng so với tiêu chuẩn cho phép.
b) Ảnh hưởng của chất thải y tế đến sức khỏe cộng đồng: Các nghiên
cứu ở Việt Nam một số nghiên cứu đã đề cập đến những ảnh hưởng của
CTYT đối với cộng đồng xung quanh bệnh viện nhưng chưa có nghiên cứu
nào đi sâu đánh giá thực trạng tác động của CTYT đối với sức khỏe ở những
người tiếp xúc với chất thải y tế.
Đào Ngọc Phong và cộng sự (1996) nghiên cứu về ô nhiễm môi trường
và khả năng lây truyền bệnh do nước thải y tế gây ra ở Hà Nội, cho thấy có
hiện tượng tăng trội nhiều bệnh ở các khu dân cư tiếp xúc với nước thải y tế
nhất là các bệnh đường tiêu hóa.[6]
Đối với sức khỏe: Việc tiếp xúc với các CTYT có thể gây nên bệnh tật
13
hoặc tổn thương cho cơ thể do các vật sắc nhọn (như kim tiêm). Các vật sắc
nhọn này không chỉ gây nên những vết cắt, đâm mà còn gây nhiễm trùng các
vết thương nếu vật sắc nhọn đó bị nhiễm tác nhân gây bệnh. Như vậy những
vật sắc nhọn ở đây được coi là loại chất thải rất nguy hiểm bởi nó gây nên tổn
thương kép (vừa gây tổn thương, vừa gây bệnh truyền nhiễm). Hơn nữa, trong
CTYT lại chứa đựng các tác nhân gây bệnh truyền nhiễm như tụ cầu, HIV,
viêm gan B. các tác nhân này có thể thâm nhập vào cơ thể qua các vết chầy
xước, vết đâm xuyên, qua viêm mạc, qua đường hô hấp (do hít phải), qua
đường tiêu hóa (do nuốt hoặc ăn phải). Nước thải y tế còn là nơi cung cấp các
vi khuẩn gây bệnh nhất là nước thải từ các TTYT chuyên về các bệnh truyền
nhiễm cũng như trong các khoa lây nhiễm của các TTYT. Những nguồn nước
thải này là một trong những nhân tố cơ bản có khả năng làm lây lan các bệnh
4.1.2. Về xã hội 40
4.1.3. Kinh tế 41
4.2. Đánh giá thực trạng thu gom, xử lý chất thải y tế tại Trung tâm
Y tế huyện Văn Lãng 43
4.2.1. Lượng chất thải và nước thải phát sinh tại Trung tâm
Y tế huyện Văn Lãng 43
4.2.2. Đánh giá thực trạng thu gom rác thải và nước thải
y tế tại Trung tâm Y tế huyện Văn Lãng 47
4.2.3. Thực trạng xử lý rác thải và nước thải tại Trung tâm
Y tế huyện Văn Lãng 50
4.3. Đề xuất giải pháp trong hoạt động thu gom, xử lý rác thải y tế tại TTYT 54
4.3.1. Giải pháp đối với hệ thống thu gom, xử lý rác thải y tế 54
4.3.2. Giải pháp đối với hệ thống thu gom và xử lý nước thải y tế 55
15
dụng ở các nước đang phát triển, vì vậy các nhà khoa học ở châu Á đã tìm ra
một số phương pháp xử lý chất thải khác dể thay thế như Philipin đã áp dụng
biện pháp đã xử lý rác bằng thùng rác có nắp đậy; Nhật Bản đã khắc phục vấn
đề khí thải độc hại thoát ra từ các thùng đựng rác có nắp đậy kín bằng cách
gắn vào các thùng bộ phận bico rửa. Sau 2 năm nghiên cứu, công ty Cerocon
SA của Argentina vừa đưa ra một phương pháp xử lý chất thải nguy hại được
cho là có hiệu quả nhất từ trước tới nay trên thế giới: biến chúng thành thủy
tinh không nguy hại sử dụng cho các mục đích khác nhau. Indonexia chủ
trương nâng cao nhận thức trước hết cho các bệnh viện về mối nguy hại của
CTYT gây ra để bệnh viện có thể lựa chọn công nghệ một cách phù hợp.[1]
2.2.5. Thực trạng thu gom, xử lý chất thải y tế tại Việt Nam
Theo kết quả khảo sát của vụ điều trị_Bộ Y tế tại 24 bệnh viện năm 1998, cho
thấy tỉ lệ phát sinh chất thải y tế theo từng tuyến, loại bệnh viện, cơ sở y tế rất khác
nhau. Trong cùng một bệnh viện các khoa khác nhau sẽ có lượng chất thải y tế phát
sinh khác nhau, trong một bệnh viện đa khoa, khoa hồi sức cấp cứu, khoa sản, khoa
ngoại có lượng chất thải y tế phát sinh lớn nhất.
+ Về xử lý chất thải rắn y tế:
Hình thức xử lý chất thải rắn trong bệnh viện ở nước ta rất đa dạng, phụ
thuộc vào quy mô, điều kiện của từng bệnh viện.
Theo báo cáo diễn biến môi trường Việt Nam năm 2001, Việt Nam đã
xây dựng được 83 lò đốt CTYT hiện đại, nâng công suất xử lý lên 48,840
kg/ngày. Công suất thiết kế của lò đốt khoảng 40kg - 50kg/h. Tuy nhiên đại
đa số các lò đốt chưa dùng hết công suất, khi so sánh tổng công suất của các
lò đốt với lượng CTYT phát sinh, đã cho thấy, các lò đốt được lắp đặt đã đáp
ứng đủ khối lượng phát sinh tại thời điểm. Qua đó đã chứng tỏ rằng vẫn còn
một khối lượng lớn CTYT phát sinh chưa được thu gom và xử lý đúng cách.
Các biện pháp, thực trạng như sau:
+ Thiêu đốt CTYT bằng lò đốt thủ công hoặc đốt ngoài trời: Hiện nay
vẫn còn rất nhiều bệnh viện nhất là bệnh viện tỉnh, huyện thiêu đốt CTYT
17
bằng các lò đốt thủ công không có hệ thống xử lý khí thải hoặc đốt ngoài trời.
+ Giải pháp hấp: Hấp được sử dụng rộng rãi nhất trong ngành y tế để
tiết trùng các thiệt bị y tế và xử lý rác thải y tế lây nhiễm trở thành rác thải
thông thường. Giải pháp này sử dụng sự kết hợp giữa xử lý ở nhiệt độ cao,
hấp hơi và tạo áp lực lớn để khử vi trùng, vi rút gây bệnh và các mầm sinh
học để biến rác thải y tế độc hại trở thành rác thải thông thường có thể được
xử lý theo quy trình bình thường như chôn xuống đất. Giải pháp hấp có mức
độ tiêu diệt Virus và tác nhân gây bệnh cao nhất so với các loại hình công
nghệ khác. Vì những ưu điểm trên, đây là giải pháp được lựa chọn phổ biến
sử dụng trong các bệnh viện để thay thế dần cho phương án đốt.
+ Giải pháp sử dụng hóa chất: Xử lý rác thải y tế bằng hóa chất tức là
sử dụng hóa chất để loại bỏ sự độc hại của rác thải y tế, biến chúng thành rác
thải thông thường. Hóa chất được kết hợp với nước nóng để khử trùng. Các
loại hóa chất hay sử dụng là Chlorine, khí Ozone, Formaldehyde, Ethylene,
khí oxit, khí propylene oxide và axít periacetic. Công nghệ này cho phép xử
lý triệt để một số loại rác thải, tuy nhiên nó vẫn tạo ra những hiệu ứng phụ đối