LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS.TS Nguyễn Ngọc
Nông đã hướng dẫn, chỉ bảo tận tình cho tôi trong suốt quá trình thực hiện khóa
luận tốt nghiệp này.
Tôi xin chân thành cám ơn các thầy cô giáo trong khoa Tài Nguyên và
Môi Trường- Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã giảng dạy tận tình
cung cấp cho tôi những kiến thức bổ ích, cũng như sự quan tâm, giúp đỡ, tạo
điều kiện và đóng góp những ý kiến để tôi hoàn thành khóa luận này.
Tôi xin cảm ơn các bác trong Ban giám đốc, các cô, các chú, các anh chị
trong khoa Chống nhiễm khuẩn cũng như toàn thể cán bộ nhân viên trong
Bệnh viện C Thái Nguyên đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực
tập tại Bệnh viện.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè đã quan tâm
động viện trong suốt quá trình thực tập và thực hiện khóa luận.
Do còn hạn chế về trình độ và kinh nghiệm thực tế nên khóa luận của tôi
không tránh khỏi những sai sót. Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp
bổ xung của thầy cô và bạn bè để khóa luận tốt nghiệp của tôi được hoàn thiện hơn.
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2012
Sinh viên
Nguyễn Việt Dũng
1
DANH MỤC CÁC BẢNG
B ng 2.1. Th nh ph n ch t th i y tả à ầ ấ ả ế 16
B ng 2.2. c tính c a ch t th i y t nguy h iả Đặ ủ ấ ả ế ạ 17
B ng 2.3. Th nh ph n n c th i b nh vi nả à ầ ướ ả ệ ệ 18
B ng 2.4. Các vi khu n gây b nh phân l p c trong n c th i b nh vi nả ẩ ệ ậ đượ ướ ả ệ ệ 19
B ng 2.5. Các ch tiêu v sinh trong n c th i b nh vi n tr c v sau x lýả ỉ ệ ướ ả ệ ệ ướ à ử
b ng ph ng pháp sinh h cằ ươ ọ 19
B ng 2.6. Ch t th i y t theo gi ng bênh trên th gi iả ấ ả ế ườ ế ớ 24
B ng 2.7. Kh i l ng ch t th i r n y t nguy h i các b nh vi n c a m t sả ố ượ ấ ả ắ ế ạ ở ệ ệ ủ ộ ố
t nh th nh phỉ à ố 27
TDS Tổng chất rắn hòa ttan
TCCP Tiêu chuẩn cho phép
TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam
QCVN Qui chuẩn Việt Nam
BYT Bộ y tế
CTYT Chất thải y tế
UBND Ủy ban nhân dân
BV Bệnh viện
MỤC LỤC
Ph n 1ầ 6
3
M UỞĐẦ 6
1. Tính c p thi t c a t iấ ế ủ đề à 6
1.2. M c tiêu c a t iụ ủ đề à 9
1.3. Yêu c uầ 9
1.4. Ý ngh a t iĩ đề à 9
1.4.1.Ý ngh a trong h c t p v nghiên c u khoa h cĩ ọ ậ à ứ ọ 9
1.4.2.Ý ngh a th c ti nĩ ự ễ 10
Ph n 2ầ 11
T NG QUAN TÀI LI UỔ Ệ 11
2.1. C s pháp lýở ở 11
2.2. C s khoa h c c a t iơ ở ọ ủ đề à 11
2.2.1. Các khái ni m liên quanệ 11
2.2.2. Phân lo i ch t th i y tạ ấ ả ế 12
2.2.3. Ngu n g c phát sinh, th nh ph n v tính ch t c a ch t th i y tồ ố à ầ à ấ ủ ấ ả ế 13
2.2.3.1.Ngu n g c phát sinh[12]ồ ố 13
2.2.3.2.Th nh ph n ch t th i r n y t [20]à ầ ấ ả ắ ế 15
2.2.4. Th nh ph n n c th i b nh vi nà ầ ướ ả ệ ệ 17
2.2.5. nh h ng c a CTYT n môi tr ng v s c kh e c ng ngẢ ưở ủ đế ườ à ứ ỏ ộ đồ 19
2.3. Th c tr ng thu gom, x lý ch t th i y t trên th gi i v Vi t Namự ạ ử ấ ả ế ế ớ à ệ 23
Ph n 4ầ 44
K T QU NGHIÊN C UẾ Ả Ứ 44
4.1. T ng quan v B nh vi n C Thái Nguyênổ ề ệ ệ 44
4.1.1. a i m, quy mô B nh vi nĐị để ệ ệ 44
4.1.2. C c u t ch c ho t ng c a b nh vi n C Thái Nguyênơ ấ ổ ứ ạ độ ủ ệ ệ 45
4.1.2.1. C c u t ch c b nh vi n C Thái Nguyênơ ấ ổ ứ ệ ệ 45
4.1.2.2. Công tác khám ch a b nhữ ệ 46
4.2. ánh giá th c tr ng thu gom, x lý ch t th i y t t i B nh vi n C TháiĐ ự ạ ử ấ ả ế ạ ệ ệ
Nguyên 47
4.2.1. L ng rác th i v n c th i phát sinh c a B nh vi nượ ả à ướ ả ủ ệ ệ 47
4.2.1.1. Nguyên li u thô v hóa ch t s d ng trong quá trình ho t ngệ à ấ ử ụ ạ độ 48
4.2.1.2. Ngu n phát sinh ch t th i y t t i B nh vi nồ ấ ả ế ạ ệ ệ 48
4.2.1.3. Th ng kê ch t th i y t phát sinh t i B nh vi nố ấ ả ế ạ ệ ệ 51
4.2.2. ánh giá th c tr ng thu gom rác th i v n c th i y t t i B nh vi n CĐ ự ạ ả à ướ ả ế ạ ệ ệ
Thái Nguyên 53
4.2.2.1. Th c trang thu gom v x lý rác th i y t t i B nh vi nự à ử ả ế ạ ệ ệ 53
4.2.3. Th c tr ng thu gom v x lý n c th i y t t i B nh vi nự ạ à ử ướ ả ế ạ ệ ệ 55
4.2.3.1.Th c tr ng công tác thu gom v x lý n c th i B nh vi nự ạ à ử ướ ả ệ ệ 55
4.2.3.2. ánh giá ch t l ng n c th i c a B nh vi n sau quá trình x lýĐ ấ ượ ướ ả ủ ệ ệ ử 61
4.3. xu t gi i pháp trong ho t ng thu gom, x lý ch t th i y t t i B nhĐề ấ ả ạ độ ử ấ ả ế ạ ệ
vi n C Thái Nguyên.ệ 64
4.3.1.Gi i pháp trong ho t ng thu gom, l u tr v x lý rác th i y tả ạ độ ư ữ à ử ả ế 64
4.3.1.1. Gi m thi u, tái ch v s d ng rác th iả ể ế à ử ụ ả 64
4.3.1.2. Phân lo i bao gói v rác th i y tạ à ả ế 64
5
4.3.2. Gi i pháp i v i h th ng thu gom v x lý n c th i y tả đố ớ ệ ố à ử ướ ả ế 65
Ph n 5ầ 66
K T LU N VÀ NGHẾ Ậ ĐỀ Ị 66
5.1. K t lu nế ậ 66
5.2. Ki n nghế ị 67
trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Quán triệt tinh thần và nội dung của chỉ thị trên, các ngành, các cấp
trong cả nước đã và đang đẩy mảnh công tác bảo vệ môi trường, chống ô
nhiễm và suy thoái môi trường.
Việc bảo vệ môi trường bao gồm: việc giải quyết ô nhiễm do những
nguồn nước thải, ô nhiễm do các chất thải sinh hoạt, công nghiệp sinh học,
các chất thải trong y tế…Để xử lý các loại chất thải trên là một vấn đề thật sự
khó khăn và nan giải. Với mỗi loại chất thải, chúng ta cần có những biện pháp
xử lý khác nhau từ những khâu thu gom đến tiêu hủy cuối cùng. Một trong số
các chất thải cần phải đặc biệt quan tâm đó là các chất thải y tế vì tính đa dạng
và phức tạp của chúng.
Dân số Việt Nam ngày càng gia tăng, kinh tế cũng phát triển dẫn đến
nhu cầu khám và điều trị bệnh gia tăng, sè bệnh nh©n cũng tăng theo.Theo số
liệu thống kê của Bộ Y tế th× cho đến nay ngành y tế có 1.511 cơ sở khám
chữa bệnh với 200.000 giường bệnh [5] Từ năm 1997 các văn bản về quản lý
7
chất thải bệnh viện được ban hành, nhưng hầu hết các chất thải bệnh viện
chưa được quản lý theo đúng một quy chế chặt chẽ hoặc có xử lý nhưng
theo cách đối phó hoặc chưa đúng. Ô nhiễm môi trường do các hoạt động y
tế mà thực tế là tình trạng xử lý kém hiệu quả các chất thải bệnh viện.
Việc tiếp xúc với chất thải y tế có thể gây nên bệnh tật hoặc tổn thương.
Các chất thải y tế có thể chứa đựng các yếu tố truyền nhiễm, là chất độc hại
có trong rác y tế, các loại hóa chất và dược phẩm nguy hiểm, các chất thải
phóng xạ và các vật sắc nhọn…Tất cả các nhân viên tiếp xúc với chất thải y tế
nguy hại là những người có nguy cơ nhiễm bệnh tiềm tàng, bao gồm những
người làm việc trong các cơ sở y tế, những người bên ngoài làm việc thu gom
chất thải y tế và những người trong cộng đồng bị phơi nhiễm với chất thải do
sự sai sót trong khâu quản lý chất thải.
Bệnh viện C Tỉnh Thái Nguyên tiền thân là Bệnh viện Công ty xây lắp
II thuộc Bộ Cơ khí luyện kim (nay là Bộ Công thương) quản lý, được chuyển
môi trường.
1.3. Yêu cầu
- Số liệu thu thập phải đảm bảo tính chính xác và khách quan.
- Đánh giá được thực trạng công tác thu gom, lý rác thải và nước thải
tại Bệnh viện C.
- Các giải pháp đưa ra phải có tính thực tiễn cao và phù hợp với điều
kiện của Bệnh viện.
1.4. Ý nghĩa đề tài
1.4.1.Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
+ Nâng cao kiến thức kỹ năng và rút ra nhưng kinh nghiệm thực tế
phục vụ công tác sau này.
+ Vận dụng và phát huy được các kiến thức đã học tập và nghiên
cứu.
9
1.4.2.Ý nghĩa thực tiễn
+ Đánh giá được lượng rác thải phát sinh, tình hình thu gom và xử lý
rác thải, nước thải y tế của Bệnh viện C Thái Nguyên.
+ Đề xuất những biện pháp khả thi cho công tác thu gom, xử lý rác thải
y tế một cách khoa học và phù hợp hơn với điều kiện của Bệnh viện.
10
Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cở sở pháp lý
- Luật Bảo vệ môi trường ngày 29 tháng 11 năm 2005
- Nghị định số 59/2007 NĐ-CP ngày 09 tháng 04 năm 2007 về Quản lý
chất thải rắn
- Thông tư số 12/2011/TT - Bộ TNMT ngày 14 tháng 4 năm 2011:
Hướng dẫn điều kiện hành nghề và thủ tục lập hồ sơ, đăng ký, cấp phép hành
nghề, mã số quản lý chất thải nguy hại.
- Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30 tháng 11 năm 2007: về việc
- Chất thải sắc nhọn (loại A): Là chất thải có thể gây ra các vết cắt hoặc
chọc thủng, có thể nhiễm khuẩn, bao gồm: bơm kim tiêm, đầu sắc nhọn của
dây truyền, lưỡi dao mổ, đinh mổ, cưa, các ống tiêm, mảnh thủy tinh vỡ và
các vật sắc nhọn khác sử dụng trong các hoạt động y tế.
- Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn (loại B): Là chất thải bị thấm
máu, thấm dịch sinh học của cơ thể và các chất thải phát sinh từ buồng bệnh
cách ly.
- Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao (loại C): Là chất thải phát sinh
trong các phòng xét nghiệm như: bệnh phẩm và dụng cụ đựng, dính
bệnh phẩm.
- Chất thải giải phẫu (loại D): Bao gồm các mô, cơ quan, bộ phận cơ
thể người: rau thai, bào thai và xác động vật thí nghiệm.
*Chất thải hóa học nguy hại:
- Dược phẩm quá hạn, kém phẩm chất không còn khả năng sử dụng.
- Chất hóa học nguy hại sử dụng trong y tế
- Chất gây độc tế bào, gồm: vỏ các chai thuốc, lọ thuốc, các dụng cụ
dính thuốc gây độc tế bào và các chất tiết từ người bệnh được điều trị bằng
hóa trị liệu.
12
- Chất thải chứa kim loại nặng: thủy ngân (từ nhiệt kế, huyết áp kế thủy
ngân bị vỡ, chất thải từ hoạt động nha khoa), cadimi (Cd) (từ pin, ắc quy), chì
(từ tấm gỗ bọc chì hoặc vật liệu tráng chì sử dụng trong ngăn tia xạ từ các
khoa chẩn đoán hình ảnh, xạ trị).
* Chất thải phóng xạ:
- Chất thải phóng xạ: Gồm các chất thải phóng xạ rắn, lỏng và khí phát
sinh từ các hoạt động chẩn đoán, điều trị, nghiên cứu và sản xuất.
- Danh mục thuốc phóng xạ và hợp chất đánh dấu dùng trong chẩn
đoán và điều trị ban hành kèm theo Quyết định số 33/2006/QĐ-BYT ngày 24
tháng 10 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Y tế.
* Bình chứa áp suất:
chất thải có nguy cơ lây nhiễm (bệnh phẩm và dụng cụ đựng dính bệnh
phẩm); chất thải giải phẫu (các mô, cơ quan, bộ phân cơ thể người, rau thai,
bào thai); chất thải hóa học nguy hại (dược phẩm quá hạn, kém phẩm chất
không còn khả năng sử dụng, chất hóa học ngy hại sử dụng trong y tế), chất
thải chứa kim loại nặng (thủy ngân từ nhiệt kế, huyết áp kế bị vỡ)
- Chất thải lỏng y tế nguy hại:
+ Được phát sinh từ các hoạt động chuyên môn (từ các phòng phẫu
thuật, thủ thuật, xét nghiệm, thí nghiệm ) và sinh hoạt của nhân viên bệnh viện,
bệnh nhân và người chăm nuôi (từ các nhà vệ sinh, giặt giũ, từ việc làm vệ sinh
phòng bệnh. Đối với nước thải bệnh viện ngoài những yếu tố ô nhiễm thông
thường như chất hữu cơ, dầu mỡ động thực vật, vi khuẩn thông thường còn có
những chất bẩn khoáng và hữu cơ đặc thù như các vi khuẩn gây bệnh, chế
phẩm thuốc, chất khử trùng, các dung môi hóa học, dư lượng thuốc kháng
sinh, các đồng vị phóng xạ được sử dụng trong quá trình chẩn đoán và điều trị.
- Chất thải thông thường (hay chất thải không nguy hại):
Là chất thải không chứa các yếu tố lây nhiễm, hóa học nguy hại,
phóng xạ, dễ cháy nổ, bao gồm:
+ Chất thải sinh hoạt phát sinh từ các buồng bệnh (trừ các buồng bệnh
cách ly)
+ Chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn y tế (chai, lọ thủy
tinh, chai lọ huyết thanh, các vật liệu nhựa, các loại bột bó trong gãy xương
kín. Những chất thải này không dính máu, dịch sinh học và các chất hóa học
14
nguy hại); chất thải phát sinh từ các công việc hành chính (giấy, báo, tài liệu,
túi nilon ); chất thải ngoại cảnh (lá cây, rác ở các khu vực ngoại cảnh).
2.2.3.2.Thành phần chất thải rắn y tế [20]
- Quy chế Quản lý chất thải Y tế do Bộ Y tế ban hành nêu chi tiết các
nhóm và các loại chất thải y tế phát sinh. Căn cứ vào các đặc điểm lý học, hóa
học, sinh học và tính chất nguy hại, chất thải trong các cơ sở y tế được phân
thành 5 nhóm : chất thải lây nhiễm, chất thải hóa học nguy hại, chất thải
pin, ắc quy), chì (từ tấm gỗ bọc chì hoặc vật liệu tráng chì sử dụng
trong ngăn tia xạ từ các khoa chẩn đoán hình ảnh, xạ trị).
Chất thải
phóng xạ
- Gồm các chất thải phóng xạ rắn, lỏng và khí phát sinh từ các hoạt
động chẩn đoán, điều trị, nghiên cứu và sản xuất.
Bình chứa
áp suất
- Bao gồm bình đựng oxy, CO
2
, bình ga, bình khí dung. Các bình
này dễ gây cháy, gây nổ khi thiêu đốt.
Chất thải
thông
thường
- Là chất thải không chứa các yếu tố lây nhiễm, hóa học nguy hại,
phóng xạ, dễ cháy, nổ, bao gồm:
- Chất thải sinh hoạt phát sinh từ các buồng bệnh (trừ các buồng
bệnh cách ly).
- Chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn y tế như các chai
lọ thủy tinh, chai huyết thanh, các vật liệu nhựa, các loại bột bó
trong gãy xương kín. Những chất thải này không dính máu, dịch
sinh học và các chất hóa học nguy hại.
- Chất thải phát sinh từ các công việc hành chính: giấy, báo, tài
liệu, vật liệu đóng gói, thùng các tông, túi nilon, túi đựng phim.
- Chất thải ngoại cảnh: lá cây và rác từ các khu vực ngoại cảnh
(Nguồn: Tổng hợp từ Quy chế Quản lý chất thải rắn y tế 2007- Bộ Y tế) [18.]
- Trong báo cáo về quản lý và xử lý chất thải y tế nằm trong khuôn khổ
dự án chăm sóc sức khỏe cho khu vực nghèo 7 tỉnh miền núi phía Bắc do Bộ
16
có thể nhiễm những hóa chất phát sinh trong quá trình chuẩn đoán và điều trị
bệnh như các chế phẩm thuốc, các chất khử trùng, các đồng vị phóng xạ, các
khu xét nghiệm, phòng mổ. Bên cạnh đó, nước thải bệnh viện nguy hiểm về
phương diện vệ sinh dịch tễ bởi trong nước thải bệnh viện có chứa các loại vi
trùng, động vật nguyên sinh gây bệnh, trứng giun, virut….từ máu, dịch, đờm,
phân của người mang bệnh.
17
Bảng 2.3. Thành phần nước thải bệnh viện
Nhóm Thành phần Nguồn phát sinh
Các chất ô
nhiễm hữu cơ,
các chất vô cơ
Cacsbonhydrat, protein, chất béo
nguồn gốc động vật và thực vật,
các hợp chất nitơ, phốtpho
Nước thải sinh hoạt cyar
bệnh nhân, người nhà
bệnh nhân, khách vãng
lai và cán bộ công nhân
viên trong bệnh viện
Các chất tẩy rửa Muối của các axit béo bậc cao Xưởng giặt của bệnh viên
Các loại hóa
chất
- Formaldehyde
- Các chất quang hóa học
- Các dung môi gồm các hợp chất
Halogen như cloroform, các thuốc
mê sốc hơi như Halothan, các hợp
chất khác như xylen, axeton
- Các chất hóa học hỗn hợp: gồm
khi thải vào hệ thống cống thải chung. Nước thải bệnh viện chưa qua xử lý xả
vào các nguồn nước sẽ gây ô nhiễm và làm lan truyền dịch bệnh. Phần lớn các
18
bệnh viện tuyến tØnh tập trung ở khu vực dân cư đông, do vậy dịch bệnh dễ
dàng phát tán nhanh chóng.
Bảng 2.4. Các vi khuẩn gây bệnh phân lập được trong
nước thải bệnh viện
TT Vi khuẩn gây bệnh Tỉ lệ phát hiện được (%)
1 Staphylococus aureus 82,54
2 Pseudomonas aeruginosa 14,20
3 E.coli 51,61
4 Enterobacter 19,36
5 K.pneumoniae 12,91
6 Citrobacer 1,93
7 Các vi khuẩn khác 10,96
(Nguồn: Phùng Thị Thanh Tú, 2009) [17].
Bảng 2.5. Các chỉ tiêu vệ sinh trong nước thải bệnh
viện trước và sau xử lý bằng phương pháp sinh học
TT Chỉ tiêu
Trước
xử lý
Sau xử lý
Hiệu suất
(%)
1 Cl.perfringgen(KL/10ml) 1,7 x 10
3
10
3
37,29
2 Tổng coliform (MPN/100ml) 5,9 x10
da), các niêm mạc (màng nhầy), đường hô hấp (do xông, hít phải), đường tiêu
hóa, tác động gián tiếp do ô nhiễm môi trường, hoặc tiếp xúc với các tác nhân
trung gian như ruồi, muỗi, chuột… Tất cả những người tiếp xúc với CTYT
nguy hại đều là đối tượng có nguy cơ bị tác động bởi chất thải y tế, bao gồm:
bác sĩ, y tá, hộ lý; bệnh nhân điều trị nội trú hoặc ngoại trú; khách tới thăm
hoặc người nhà bệnh nhân; những người trực tiếp làm công việc xử lý rác thải
tại các bãi đổ rác thải hay các lò đốt rác. Những người thu gom, bới rác .
- Các nguy cơ gây bệnh của CTYT là các bệnh về đường tiêu hóa do
các vi khuẩn tả lỵ, thương hàn, trứng giun; nhiễm khuẩn đường hô hấp do lao,
do phế khuẩn cầu; tổn thương nghề nghiệp; nhiễm khuẩn da; bệnh than;
HIV/AIDS; nhiễm khuẩn huyết; viêm gan các loại, các bệnh thần kinh; gây
ngộ độc, ăn mòn, cháy nổ. [1].
- Theo báo cáo của tổ chức Bảo vệ môi trường Mỹ có khoảng 162 - 321
trường hợp nhiễm virus viêm gan B có tiếp xúc với CTYT so với tổng số
30.000 trường hợp nhiễm virus viêm gan B mỗi năm. Trong số những nhân
viên tiếp xúc với chất thải bệnh viện, nhân viên vệ sinh có tỷ lệ tổn thương nghề
nghiệp cao nhất. Tỷ lệ tổn thương chung là 180/1000 người trong mỗi năm, cao
hơn 2 lần so với tỷ lệ này của toàn bộ lực lượng lao động ở Mỹ cộng lại.
* Ở Nhật Bản:
Các nghiên cứu về CTYT đã đưa ra các số liệu như sau:
20
+ Việc khảo sát của các nhà y tế cộng đồng năm 1986 cho thấy 67,3%
những người thu gom rác trong các bệnh viện bị tổn thương do các vật sắc
nhọn, 44,4% những người thu gom rác bên ngoài các bệnh viện bị tổn thương
khi thu gom chất thải bệnh viện.
+ Shiro Shitaro cũng đã nêu trong tài liệu khoa học của Nhật Bản,
tổng số hơn 500 trường hợp bị lây nhiễm bệnh có liên quan tới chất thải
bệnh viện, hơn 400 trường hợp bị tác hại sinh học từ các thuốc có độc tố tế
bào.
- Đối với nước thải, ở Chile Peru đã có những nghi ngờ về việc thải nước
Đối với sức khỏe: việc tiếp xúc với các chất thải y tế có thể gây nên
bệnh tật hoặc tổn thương cho cơ thể do các vật sắc nhọn ( như kim tiêm). Các
vật sắc nhọn này không chỉ gây nên những vết cắt, đâm mà còn gây nhiễm
trùng các vết thương nếu vật sắc nhọn đó bị nhiễm tác nhân gây bệnh. Như
vậy những vật sắc nhọn ở đây được coi là là chất thải rất nguy hiểm bởi nó
gây tổn thương kép( vừa gây tổn thương vừa gây bệnh truyền nhiễm như viêm
gan B, HIV…). Hơn nữa, trong chất thải y tế lại chứa đựng các tác nhân gây
bệnh truyền nhiễm như tụ cầu, viêm gan B, HIV…. Các tác nhân này có thể
xâm nhập vào cơ thể qua các vết trầy xước, vết đâm xuyên, qua niêm mạc,
qua đường hô hấp (do hít phải), qua đường tiêu hóa (do nuốt hoặc ăn phải).
Nước thải bệnh viện còn là nơi "cung cấp" các vi khuẩn gây bệnh, nhất là
nước thải từ những bệnh viện chuyên về các bệnh truyền nhiễm cũng như trong
các khoa lây nhiễm của các bệnh viện. Những nguồn nước thải này là một trong
những nhân tố cơ bản có khả năng làm lây lan những bệnh truyền nhiễm thông
qua đường tiêu hóa. Đặc biệt nguy hiểm khi nước thải bị lây nhiễm các vi khuẩn
gây bệnh có thể dẫn đến dịch bệnh cho người và động vật qua nguồn nước khi sử
dụng nguồn nước này vào mục đích tưới tiêu, ăn uống…
22
- Như vậy, nếu việc thu gom, phân loại và xử lý các chất thải y tế
không bảo đảm đó sẽ gây ảnh hưởng tới sức khỏe cộng đồng và nhất là của
người trực tiếp tiếp xúc với chất thải
- Đối với môi trường: Khi chất thải y tế không được xử lý đúng cách
(chôn lấp, thiêu đốt không đúng qui định, tiêu chuẩn) thì sẽ dẫn đến ô nhiễm
môi trường, đất, nước và không khí và sự ô nhiễm này sẽ ảnh hưởng trực tiếp
hoặc gián tiếp đến sức khỏe con người, hệ sinh thái. [7].
- Như vây, để tránh được sự nguy hại của chất thải y tế đối với sức
khỏe con người, môi trường, và để bảo vệ những người thường xuyên tiếp xúc
với chất thải y tế thì ngành y tế phải quan tâm đầu tư hơn nữa cho công tác xử
lý chất thải y tế.
2.3. Thực trạng thu gom, xử lý chất thải y tế trên thế giới và Việt Nam
yếu là dùng hai tay tháo lắp kim và thu gom tiêu hủy vật sắc nhọn, có khoảng
50% số bệnh viện trong diện điều tra khi vận chuyển CTYT đi qua khu vực
bệnh nhân mà không được đựng trong xe thùng có nắp đậy.
- Trên thế giới, quản lý rác thải bệnh viện được nhiều quốc gia quan
tâm và tiến hành một cách triệt để từ rất lâu. Về quản lý, một loạt những
chính sách quy định, đã được ban hành nhằm kiểm soát chặt chẽ loại chất thải
này. Các hiệp ước quốc tế, các nguyên tắc, pháp luật và quy định về chất thải
nguy hại, trong đó có cả chất thải bệnh viện cũng đã được công nhận và thực
hiện trên hầu hết các quốc gia trên thế giới.
- Công ước Basel: Được ký kết bởi hơn 100 quốc gia, quy định về sự
vận chuyển các chất độc hại qua biên giới, đồng thời áp dụng, cả với chất thải
y tế. Công ước này đưa ra nguyên tắc chỉ vận chuyển hợp pháp chất thải nguy
hại từ các quốc gia không có điều kiện và công nghệ thích hợp sang các quốc
gia có điều kiện vật chất kỹ thuật để xử lý an toàn một số chất thải đặc biệt.
- Nguyên tắc pollutor pay: Nêu rõ mọi người, mọi cơ quan làm phát
sinh chất thải phải chụi trách nhiệm về pháp luật và tài chính trong việc đảm
bảo an toàn và giữ cho môi trường trong sạch.
24
- Nguyên tắc proximitry: Quy định rằng việc xử lý chất thải nguy hại
cần được tiến hành ngay tại nơi phát sinh càng sớm càng tốt. Tránh tình trạng
chất thải bị lưu giữ trong thời gian dài gây ô nhiễm môi trường.
- Xử lý chất thải bệnh viện, tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế và khoa học
công nghệ, nhiều nước trên thế giới đã có những biện pháp khác nhau để xử
lý loại rác thải nguy hại này.
* Các nước phát triển
- Hiện tại trên thế giới ở hầu hết các quốc gia phát triển, trong các bệnh
viện, cơ sở chăm sóc sức khỏe, hay những công ty đặc biệt xử lý phế thải đều
có thiết lập hệ thống xử lý loại phế thải y tế. Đó là các loại lò đốt ở nhiệt độ
cao tùy theo loại phế thải từ 1000
o