Nghiên cứu ảnh hưởng của khẩu phần có bột lá sắn, được và không được cân đối năng lượng, protin đến năng suất và chất lượng trứng của gà đẻ bố mẹ Lương Phượng - Pdf 29

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
VŨ THỊ THU THẢO
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA KHẨU PHẦN CÓ BỘT
LÁ SẮN, ĐƯỢC VÀ KHÔNG ĐƯỢC CÂN ĐỐI NĂNG LƯỢNG,
PROTEIN ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG TRỨNG
CỦA GÀ ĐẺ BỐ MẸ LƯƠNG PHƯỢNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
THÁI NGUYÊN - 2014
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
VŨ THỊ THU THẢO
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA KHẨU PHẦN CÓ BỘT
LÁ SẮN, ĐƯỢC VÀ KHÔNG ĐƯỢC CÂN ĐỐI NĂNG LƯỢNG,
PROTEIN ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG TRỨNG
CỦA GÀ ĐẺ BỐ MẸ LƯƠNG PHƯỢNG
Chuyên ngành: CHĂN NUÔI
Mã số: 60.62.01.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: TS. TRẦN THỊ HOAN
THÁI NGUYÊN - 2014
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi,
các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa công
bố dưới bất kỳ hình thức nào.
Thái Nguyên, tháng 08 năm 2014
Tác giả luận văn
Vũ Thị Thu Thảo
ii
LỜI CẢM ƠN

1.1.1. Phân loại, nguồn gốc của cây sắn; đặc điểm thực vật học của lá sắn 4
1.1.2. Thành phần hóa học, giá trị dinh dưỡng của lá sắn 9
1.1.3. Năng suất chất xanh 19
1.1.4. Sắc tố trong lá sắn 21
1.1.5. Kết quả nghiên cứu sử dụng bột lá sắn trong chăn nuôi gà đẻ 28
1.2. Vấn đề năng lượng đối với gà sinh sản 29
1.2.1. Nhu cầu năng lượng cho gà đẻ 29
1.2.2. Ảnh hưởng của bổ sung dầu, mỡ vào khẩu phần cho gà đẻ 30
1.3. Vấn đề protein đối với gà sinh sản 31
1.3.1. Vai trò của protein- axit amin đối với cơ thể gia cầm 31
1.3.2. Nhu cầu protein 32
1.3.3. Cân đối thành phần các axit amin trong khẩu phần của gia cầm 32
iv
Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35
2.1. Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu 35
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu 35
2.1.2. Địa điểm 35
2.1.3. Thời gian 35
2.2. Nội dung nghiên cứu 35
2.3. Phương pháp bố trí thí nghiệm 36
2.3.1. Nội dung 1: Nghiên cứu ảnh hưởng của cách thức phối hợp bột
lá sắn vào khẩu phần đến khả năng sản xuất trứng của gà đẻ bố mẹ
Lương Phượng 36
2.3.2. Nội dung 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của cách thức phối hợp bột lá
sắn vào khẩu phần đến một số chỉ tiêu lý học, hóa học của trứng 39
2.3.3. Nội dung 3: Nghiên cứu ảnh hưởng của cách thức phối hợp bột
lá sắn vào khẩu phần đến chất lượng trứng giống của gà đẻ bố mẹ
Lương Phượng 40
2.3.4. Nội dung 4: Ảnh hưởng của cách thức bổ sung BLS vào khẩu phần
đến một số chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật của gà thí nghiệm 41

1. Kết luận 71
2. Đề nghị 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
vi
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLS : Bột lá sắn
BQ : Bình quân
CS : Cộng sự
CT : Công thức
DM : Vật chất khô
DXKN : Dẫn xuất không chứa nitơ
ĐC : Đối chứng
ĐVT : Đơn vị tính
HCN : axit cyanhydric
P : Photpho
Pr : Protein
SL : Sản lượng
TB : Trung bình
TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam
TH : Tiêu hóa
TK : Toàn kỳ
TL : Tỷ lệ
TS : Tổng số
VCK : Vật chất khô
vii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm 36
Bảng 2.2: Công thức và giá trị dinh dưỡng của thức ăn thí nghiệm cho gà
đẻ bố mẹ các lô ĐC (KPCS), TN1 (phối hợp bột lá vào KP theo
cách thứ 1) 38

các lô thí nghiệm 52
1
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Việt Nam là một nước nông nghiệp nên trồng trọt và chăn nuôi là hai
ngành mà từ lâu đã không thể tách rời khỏi đời sống của người dân.Trong đó,
ngành chăn nuôi gia cầm đã và đang ngày càng phát triển, từ những bước đầu
tiên với nhiều khó khăn thì bây giờ chăn nuôi công nghiệp đã và đang là một
hướng đi đúng cho ngành chăn nuôi gia cầm. Chăn nuôi gà đẻ theo hướng
công nghiệp áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật đã mang lại những thành
công nhất định cho người chăn nuôi.
Hiện nay, ở rất nhiều nước trên thế giới bột lá thực vật là thành phần
không thể thiếu trong khẩu phần phối trộn thức ăn giành cho gia súc gia cầm
nhất là với gà đẻ. Đã có rất nhiều nghiên cứu cho ra cùng một kết luận rằng:
Khi sử dụng bột lá trong khẩu phần phối trộn thức ăn cho vật nuôi thì khả năng
sinh trưởng và sản xuất của vật nuôi cao hơn so với không sử dụng bột lá. Mặt
khác do nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng với các sản phẩm chăn nuôi hiện
nay thì người ta quan tâm đến chất lượng của sản phẩm nhiều hơn, nói không
với các sản phẩm có chứa chất kích thích, chất tồn dư trong sản phẩm. Từ
những yếu tố thúc đẩy trên làm cho người chăn nuôi hướng theo một cách chăn
nuôi mới đó là chăn nuôi chú trọng vào sản phẩm, đưa ra các sản phẩm “sạch”.
Để có một sản phẩm “sạch” thì người chăn nuôi phải dùng khẩu phần thức ăn
đặc biệt, sử dụng các nguồn thức ăn từ thực vật, để không còn lo ngại về việc
tồn dư các chất trong sản phẩm chăn nuôi.
Đã có nhiều nghiên cứu về ảnh hưởng của bột lá sắn (BLS) và cân đối
năng lượng trong chăn nuôi gà đẻ. Tuy nhiên, trên thế giới và trong nước vẫn
có rất ít các nghiên cứu về so sánh ảnh hưởng của khẩu phần có cân đối năng
lượng và không cân đối năng lượng trên cùng một giống gà đẻ để biết được
khẩu phần nào đạt hiệu quả tốt hơn. Xác định được điều đó rất có ích cho sản
2

hơn, gà đẻ trứng to hơn, tỷ lệ ấp cao hơn chính vì vậy nên người chăn nuôi
cần phối trộn thêm bột lá sắn vào thức ăn cho gà đẻ trứng.
- Để đạt hiệu quả chăn nuôi cao hơn khi phối trộn bột lá sắn thì khuyến
cáo người chăn nuôi nên bổ sung thêm năng lượng để đạt hiệu quả kinh tế cao
hơn, tỷ lệ đẻ cao hơn so với bình thường.
4
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Các thông tin về cây sắn
1.1.1. Phân loại, nguồn gốc của cây sắn; đặc điểm thực vật học của lá sắn
1.1.1.1. Phân loại
Cây sắn thuộc:
Lớp: Dicotyledoneae
Phân lớp: Archichlamydeae
Bộ: Euphorbiales
Họ: Euphorbiaceae
Giới: Manihoteae
Chi: Manihot
Loài: Manihot esculenta Crantzt
Chi Manihot thuộc họ thầu dầu (Euphorbiacaea) có tới hơn 300 chi và
8.000 loài hầu hết là cây nhiệt đới. Đặc điểm của họ thầu dầu là thường hay
có nhưạ mủ. Chi manihot thuộc nhóm Manihotae. Tất cả các loài trong chi
đều có nhiễm sắc thể 2n = 36.
Cây sắn tên khoa học là Manihot esculenta Crantz, tiếng Anh gọi là
cassava, manioc, tiếng Pháp gọi là manioc, tiếng Tây Ban Nha gọi là yuca
hoặc madioca, tiếng Việt phổ thông gọi là sắn, vùng Nam Bộ gọi là khoai mì,
củ mì để phân biệt với củ sắn-củ đậu, sắn tầu…
Dưới đây là một số hình ảnh thực tế và mô phỏng về cây sắn:
5
Hình 1.1. Cây sắn và củ sắn

cho năng suất cao. Trong đó giống sắn KM 94 hiện nay được coi là chủ lực
trong số các giống sắn.
7
1.1.1.3. Đặc điểm thực vật học của lá sắn
Trần Ngọc Ngoạn (2007) [23] cho biết: Lá sắn là loại lá đơn mọc xen
kẽ, thẳng hàng trên thân cây. Lá gồm 2 phần: cuống và phiến lá. Lá có thùy
sâu, dạng chân vịt, thùy thường có cấu tạo số lẻ từ 5-7 thùy.
Lá sắn là lá đơn mọc trên thân theo mẫu từ 1-5 (lá thứ nhất và lá thứ 5
cùng trên một đường thẳng). Phiến lá thường xẻ thùy có 5-9 thùy, nhưng cũng
có giống lá nguyên. Hình dạng của thùy lá khá phong phú và là một trong
những đặc điểm của giống. Thùy lá có hình elip, mũi mác, ovan, cong, dài
Mặt trên có màu xanh thẫm, mặt dưới xanh nhạt; cuống lá dài (có giống dài
tới 30-40cm), màu sắc cuống lá thay đổi: xanh, vàng, đỏ Sắn thường có lá
kèm (lá kèm là lá nguyên dài có 1-2 khía) mọc tại vị trí cuống lá. Số lượng lá
kèm cũng là chỉ tiêu phân biệt giống. Phiến lá có biểu bì, mặt trên có tầng
cutin khá rõ, tiếp đó là mô dậu, mô xốp và màng biểu bì ở dưới lá; biểu bì
dưới mịn. Mặt dưới lá có nhiều khí khổng, đường kính trung bình của khí
khổng 30 mr, số lượng khoảng 700 khí khổng/ mm
2
.
Các dạng thùy của lá sắn chúng ta có thể quan sát qua hình ảnh
dưới đây:
Hình 1.3. Các dạng thùy lá sắn
8
Hình 1.4. Các dạng lá cuống và thùy lá sắn
Mỗi giống sắn khác nhau thì có màu sắc của lá và ngọn khác nhau.
Chúng có thể có màu vàng, đỏ thẫm, xanh…
Hình 1.5. Màu sắc ngọn và lá sắn
9
1.1.2. Thành phần hóa học, giá trị dinh dưỡng của lá sắn

song vẫn có hai hàm lượng thấp hơn là methionine và histidine, nên chú ý khi
phối trộn khẩu phần thức ăn cho gia súc, gia cầm thì cần bổ sung thêm hai
loại axit amin này cho cân đối.
*Caroten trong lá sắn
Theo Từ Quang Hiển (1983) [5] trong bột lá sắn khô có chứa tới 66,7
mg carotene/ 100g VCK. Hàm lượng carotene trong lá sắn nói chung cao hơn
so với củ (Hoài Vũ, 1980) [40]. Vì hàm lượng carotene trong lá sắn cao hơn
so với trong củ sắn nên nhiều nhà chăn nuôi đã chọn dùng bột lá sắn để phối
trộn với hỗn hợp khác làm thức ăn cho gà đẻ. Có rất nhiều tác giả nghiên cứu
về hàm lượng carotene trong lá sắn: Tác giả Dương Thanh Liêm (1999) [17]
cho biết: Tỷ lệ carotene trong bột lá sắn phụ thuộc vào quá trình chế biến, sấy
ở nhiệt độ 100
0
C giữ được carotene cao nhất là 351 mg/ kg.
* Các chất khoáng
Khoáng cũng là một trong những thành phần quan trọng của các loại
cây, ở cây sắn thì hàm lượng khoáng được phân bố ở cả lá, thân và củ song
hàm lượng khoáng ở lá lại có tỷ lệ cao hơn là hàm lượng khoáng trong củ.
Theo Nguyễn Khắc Khôi (1982), ( trích Adewusi và Bradbury (1993)) [41]
thì hàm lượng Fe và Mn trong lá sắn rất cao, tương ứng là 344,0 mg và 655,2
mg trong 1 kg vật chất khô còn các hàm lượng khác có tỷ lệ như: Ca đạt từ
0,11 - 0,25 %, photpho đạt 0,08 - 0,12 % trong VCK, hàm lượng kali chiếm tỷ
lệ cao nhất trong củ sắn, thường từ 0,57 - 0,58% trong vật chất khô, các hàm
lượng Co, P, K, Zn, Mn, Cu tính theo VCK trong củ sắn rất thấp so với nhu
cầu của gia súc (theo Phạm Sỹ Tiệp, 1999 [24]).Vì vậy, khi sử dụng lá sắn để
làm thức ăn bổ sung cho vật nuôi thì cần phải cung cấp đầy đủ tỷ lệ các loại
khoáng để tránh trường hợp bị thiếu hụt.
11
* Độc tố
Tuy là loại lá có hàm lượng dinh dưỡng cao, song lá sắn cũng có phần

6
+ (CH
3
)
3
+ HCN
Linamarin Glucoze Axeton acid cyahydric
Trong cây sắn thì đều mang một lượng độc tố tối thiểu song ở mỗi một
giống sắn khác nhau thì có lượng độc tố trong nó khác nhau. Trong lá sắn thì
lượng độc tố ở mỗi giai đoạn trưởng thành lại phát triển khác nhau (lượng độc
tố ở lá non nhiều hơn ở lá già). Lá sắn tươi có hàm lượng độc tố từ 80 -
110mg HCN/kg thì được gọi là giống sắn ngọt còn cao hơn nữa từ 160 - 240
mgHCN/ kg lá tươi thì gọi là giống sắn đắng. Tuy hàm lượng độc tố HCN
trong lá sắn cao như vậy, song ta vẫn có thể loại bớt độc tố HCN ra khỏi lá
sắn bằng các phương pháp đơn giản, mà cho hiệu quả rất cao như: phơi khô lá
sắn chỉ trong 1-2 nắng, sấy lá sắn, ủ, ngâm nước, nấu chín… từ những
phương pháp đơn giản như vậy ta có thể làm giảm 80 - 90 % lượng HCN có
trong lá sắn hoặc có thể làm giảm lượng HCN cao hơn từ 87 - 96,77 % HCN
bằng phương pháp băm nhỏ, phơi khô lá sắn.
12
Độc tố HCN không chỉ có ở trên lá hoặc trong củ sắn, mà nó được phân
bố đều trên các bộ phận của cây sắn. Hàm lượng HCN có ở thân, lá chiếm
29,3 % (trong đó độc tố chủ yếu nằm ở thân 27,2 % còn lại ở lá chỉ có 2,1 %);
còn lượng HCN ở củ và rễ sắn thì chiếm tỷ lệ cao hơn 70,7 % tổng lượng
HCN trong cây (gồm gốc già dưới đất chiếm 8,9 % và rễ củ chiếm 61,8 %,
tập trung chủ yếu ở vỏ và hai đầu củ sắn) (Phạm Sỹ Tiệp, 1999 [24]).
Sự phân bố độc tố HCN trong mỗi cây sắn và mỗi giống sắn là không
đồng đều và khác nhau. Kết quả của các nghiên cứu về độc tố HCN trong cây
sắn cho thấy rằng ở trong cùng một giống sắn, thì ở phần củ sắn hàm lượng
HCN cao nhất ở phần vỏ thịt, sau đó là 2 đầu củ và lõi sắn; còn ở lá sắn thì

13
chất tươi. Sắn ngọt là những giống sắn có hàm lượng HCN nhỏ hơn 80
ppm trong chất tươi, nhóm sắn đắng là những giống sắn có hàm lượng
HCN lớn hơn 80 ppm.
Mức độ gây hại cho vật nuôi từ độc tố HCN là khá lớn nếu vật nuôi sử
dụng quá lượng HCN cho phép, độc tố làm ảnh hưởng đến vật nuôi ở hai thể:
mãn tính và cấp tính. Khi bị ngộ độc HCN thì có thể làm cho con vật chết
nhanh, đó là lúc con vật bị ngộ độc ở thể cấp tính và bị ngộ độc ở thể mãn
tính thì con vật không có biểu hiện rõ ràng của bệnh. Do vậy, sẽ làm cho
người chăn nuôi rất khó phát hiện ra nguyên nhân gây bệnh ở vật nuôi. Theo
Silvestre và Araudeau (1990) thì hàm lượng HCN có thể gây chết động vật ở
khoảng 2,5mg/kg khối lượng cơ thể. Song cũng có một số kết quả khác về
khoảng liều lượng ngộ độc HCN đối với vật nuôi như: Ở mức 6-15mg/kg
khối lượng cơ thể, thì vẫn không thấy vật nuôi bị ngộ độc (Du Thanh Hang và
Preston, 2005 [56]).
Lê Đức Ngoan và cs (2005) [22] cho biết: gia súc thường xuất hiện dấu
hiệu ngộ độc khi được cho ăn liên tiếp những lượng nhỏ axit cyanhydric và
thường xuyên, nhưng gan vẫn có khả năng giải độc HCN nhờ vào lưu huỳnh
trong axit amin để tạo ra chất thiociannat ít độc hơn HCN. Quá trình sử dụng
lưu huỳnh để giải độc làm giảm hấp thu và sử dụng các axit amin chứa lưu
huỳnh (methionine, cystine) và các chất dinh dưỡng khác lấy từ thức ăn như
sulfure, vitamin B12, sắt, đồng và iod, sự thiếu hụt này xảy ra ngay cả khi
khẩu phần có đầy đủ các thành phần dinh dưỡng trên (Maner, 1987 [51]).
Theo Silvestre và Araudeau (1990) thì lượng độc tố HCN có thể gây chết
động vật khoảng 2,5 mg/ kg khối lượng cơ thể.
* Cơ chế ngộ độc HCN:
Cơ chế gây độc HCN trên cơ thể vật nuôi có thể được giải thích như sau:
Lê Đức Ngoan và cs (2005) [22] cho biết: Khi gia súc, gia cầm ăn
nhiều thức ăn có chứa HCN, gốc CN
-

động vật thì nó sẽ ảnh hưởng đến sự sinh trưởng, hiệu quả chuyển hóa thức
ăn, lâu dài sẽ dẫn đến tử vong.
*Phương pháp loại bỏ độc tố HCN ra khỏi lá sắn
Muốn sử dụng được lá sắn làm thức ăn bổ sung cho vật nuôi thì việc
đầu tiên cần làm của người chăn nuôi đó chính là loại bỏ HCN có trong lá
sắn, người ta đã sử dụng nhiều phương pháp đơn giản song đem lại hiệu quả
rất lớn. Dựa vào các nguyên tắc loại bỏ HCN ra khỏi lá sắn mà người chăn
nuôi đã tìm ra được các phương pháp đó. Các nguyên tắc loại bỏ HCN đó là:
Hòa tan HCN trong nước thì ta có thể loại bỏ trực tiếp cyanogen.
Làm phân giải cyanogen gluco thành aceton và HCN sau đó dùng nhiệt
làm bốc hơi HCN hoặc dùng nước làm rửa trôi HCN.
Làm phá hủy hoặc ức chết enzym linamariaza và glucocidaza, vì các
enzym này không hoạt động thì Cyanogen glucocid không thể phân hủy thành
axeton và HCN.
Dựa vào các nguyên tắc loại bỏ HCN ra khỏi lá sắn trên ta có thể sử
dụng một số phương pháp loại bỏ HCN ra khỏi lá sắn như:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status