Hệ thống kiểm soát nội bộ tại Tổng công ty Giấy Việt Nam - Pdf 29

A. MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, với chính sách đổi mới đúng đắn của Đảng và
Nhà nước, nền kinh tế nước ta đã chuyển từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang
nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ
nghĩa và đặc biệt là nước ta đã trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế
giới (WTO) với mong muốn học hỏi, hợp tác với tất cả các quốc gia trên thế
giới. Để có những cơ chế, chính sách, những quyết định phù hợp với quy luật thị
trường, hệ thống kiểm soát nội bộ đã trở thành một công cụ đắc lực không chỉ
với hoạt động tài chính của Nhà nước mà còn vô cùng quan trọng và cần thiết
đối với hoạt động tài chính của Doanh nghiệp.
Trong điều kiện nền kinh tế mở cửa hiện nay, nền kinh tế nói chung và
hoạt động sản xuất kinh doanh nói riêng đã có nhiều thay đổi phong phú. Các
hoạt động kinh tế diễn ra một cách sôi động trên phạm vi rộng lớn và thu hút
mọi thành phần kinh tế tham gia. Để đứng vững trên thị trường, phù hợp với sự
phát triển của nền kinh tế, mỗi đơn vị sản xuất kinh doanh đều cố gắng tìm mọi
cách để làm cho doanh nghiệp mình tăng trưởng và phát triển. Vì vậy, bên cạnh
việc thường xuyên nâng cao chất lượng sản phẩm, công tác tiết kiệm chi phí sản
xuất, hạ giá thành sản phẩm. Các nhà quản lý còn phải quan tâm đến vấn đề
kiểm soát trong doanh nghiệp bởi vì trong mọi hoạt động của doanh nghiệp,
kiểm tra, kiểm soát luôn giữ vai trò quan trọng và được thực hiện chủ yếu bởi hệ
thống kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp. Chỉ có kiểm soát nội bộ doanh nghiệp
thì doanh nghiệp mới có thể đứng vững được trong nền kinh tế thị trường khốc
liệt như hiện nay.
Tổng công ty Giấy Việt Nam là một doanh nghiệp sản xuất lớn, có bề
dày lịch sử phát triển hơn 30 năm.
Trong suốt quá trình hình thành và phát
triển công ty đã không ngừng đầu tư chiều sâu, đa dạng hóa sản phẩm, tiết
kiệm chi phí và hạ giá thành sản phẩm nhằm mục tiêu tối đa hóa doanh thu,
đảm bảo việc làm cho người lao động và góp phần vào sự phát triển chung
của nền kinh tế. Để hòa nhập với điều kiện chung của nền kinh tế hiện nay,

- Phạm vi về thời gian: Số liệu nghiên cứu của đề tài trong thời gian từ
năm 2010 – 2012, tập trung vào quý IV năm 2012.
4. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, bài thu hoạch chuyên đề gồm 3 phần
chính:
- Phần 1: Lý luận chung về hệ thống kiểm soát nội bộ trong doanh nghiệp.
- Phần 2: Thực trạng hệ thống kiểm soát nội bộ tại Tổng công ty Giấy
Việt Nam.
- Phần 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại
Tổng công ty Giấy Việt Nam.
3
B. NỘI DUNG
Phần 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG
DOANH NGHIỆP
1.1. Bản chất của hệ thống kiểm soát nội bộ
1.1.1. Khái niệm về hệ thống kiểm soát nội bộ
Hệ thống kiểm soát nội bộ (HTKSNB) là các quy định và các thủ tục
kiểm soát do đơn vị được kiểm toán xây dựng và áp dụng, nhằm đảm bảo cho
đơn vị tuân thủ pháp luật và các quy định, để kiểm tra, kiểm soát, ngăn ngừa và
phát hiện gian lận, sai sót, để lập BCTC trung thực hợp lý, nhằm bảo vệ, quản lý
và sử dụng có hiệu quả tài sản của đơn vị.
Kiểm soát nội bộ là một chức năng thường xuyên của các tổ chức, đơn vị.
Trên cơ sở đó có thể đánh giá rủi ro xảy ra để tìm biện pháp ngăn chặn hiệu quả.
1.1.2. Các mục tiêu của HTKSNB
1.1.2.1. Mục tiêu chung
Kiểm soát nội bộ là một chức năng thường xuyên của các tổ chức, đơn vị.
Trên cơ sở đó HTKSNB có 4 mục tiêu cơ bản sau:
(1) Bảo vệ tài sản của doanh nghiệp
HTKSNB sẽ bảo vệ các tài sản của đơn vị (TSCĐ, sổ sách kế toán, các tài

hiệu và kết hợp hài hòa 4 mục tiêu nói trên.
1.1.2.2. Mục tiêu chi tiết
Có 7 mục tiêu chi tiết mà một cấu trúc KSNB phải thõa mãn để ngăn ngừa
sai sót trong sổ sách. HTKSNB phải đầy đủ để cung cấp sự đảm bảo hợp lí là:
5
- Các nghiệp vụ kinh tế ghi sổ phải có căn cứ hợp lí (tính hiệu lực).
HTKSNB không thể cho phép việc ghi vào sổ những nghiệp vụ không tồn tại
hoặc những nghiệp vụ giả vào sổ sách kế toán.
- Các nghiệp vụ kinh tế phải được phê chuẩn đúng đắn (sự phê chuẩn),
tránh làm lãng phí, phá hoại hoặc mất mát tài sản của công ty.
- Các nghiệp vụ kinh tế phải được ghi sổ đầy đủ (tính đầy đủ hay trọn
vẹn). Các biện pháp, thủ tục kiểm soát phải ngăn ngừa sự gạt bỏ các nghiệp vụ
kinh tế ra ngoài sổ sách.
- Các nghiệp vụ kinh tế phải được đánh giá đúng đắn (sự đánh giá). Một
cơ cấu KSNB đầy đủ gồm các thể thức để tránh các sai số khi tính toán và ghi sổ.
- Các nghiệp vụ kinh tế phải được phân loại đúng đắn (sự phân loại) đảm
bảo các khoản mục trong báo cáo tài chính được trình bày đúng đắn.
- Các nghiệp vụ kinh tế phải được phản ánh đúng thời kì (tính thời kì):
nghiệp vụ kinh tế xảy ra ở kì nào phải được ghi sổ đúng ở kì đó đảm bảo nguyên
tắc phù hợp.
- Các nghiệp vụ được ghi sổ, chuyển sổ và tổng hợp đúng đắn.
1.2. Các yếu tố cơ bản của hệ thống kiểm soát nội bộ
HTKSNB thông thường được cấu tạo bởi 3 bộ phận:
- Môi trường kiểm soát
- Hệ thống kế toán
- Các nguyên tắc và các thủ tục kiểm soát
Các yếu tố này được khái quát qua sơ đồ sau:
6
Sơ đồ 1.1: Các yếu tố cơ bản của hệ thống kiểm soát nội bộ
1.2.1. Môi trường kiểm soát

sẻ thông tin lẫn nhau giữa những người trong cùng tổ chức. Một cơ cấu tổ chức
hợp lý không những giúp cho sự chỉ đạo điều hành của nhà quản lý được thực
hiện thông suốt, mà còn giúp cho việc kiểm soát lẫn nhau được duy trì thường
xuyên và chặt chẽ hơn. Những nguyên tắc thông thường trong việc bố trí cơ cấu
tổ chức gồm:
8
+ Rõ ràng về chức năng, nhiệm vụ và thiết lập sự điều hành, kiểm soát
trên toàn bộ hoạt động của đơn vị, không bỏ xót bất cứ bộ phận nào không chịu
sự kiểm soát, nhưng cũng không được để các bộ phận chịu sự kiểm soát chồng
chéo.
+ Thực hiện sự phân chia giữa các chức năng: phê chuẩn, thực hiện
nghiệp vụ kinh tế, ghi sổ kế toán và bảo quản tài sản.
+ Đảm bảo sự độc lập tương đối giữa các nhiệm vụ, các chức năng.
1.2.1.3. Chính sách nhân sự
Bao gồm toàn bộ các phương pháp quản lý nhân sự và các chế độ của đơn
vị đối với việc tuyển dụng, huấn luyện, đánh giá, đề bạt, khen thưởng, và kỉ luật
đối với nhân viên.
Con người là chủ thể trong mọi hoạt động của tổ chức, là yếu tố quan
trọng nhất trong bất cứ hoạt động nào kể cả hoạt động kiểm soát. Nếu đội ngũ
nhân viên, lực lượng lao động trong đơn vị có năng lực và đáng tin cậy, thì nhiều
quá trình kiểm soát khác có thể không cần thiết nhưng vẫn đảm bảo các hoạt
động trong đơn vị diễn ra là tốt và BCTC có cơ sở để tin cậy. Nhưng nếu con
người kém năng lực và không trung thực thì dù có tồn tại nhiều quá trình kiểm
soát thì cũng không thể đảm bảo rằng hệ thống kiểm soát ấy là có hiệu quả.
Một khía cạnh khác của chính sách nhân sự là khuyết điểm bẩm sinh của
con người, tính chán nản. Ngay cả khi con người có năng lực và trung thực
nhưng khi các vấn đề về cá nhân không được thỏa mãn thì họ có thể sinh ra tính
chán nản và có thể làm rối loạn trong việc thực thi công việc của họ cũng như
việc thực hiện các mục tiêu của tổ chức.
Vì thế chính sách nhân sự là vô cùng quan trọng, một chính sách nhân sự

chức năng và thực hiện báo cáo trực tiếp cho các cấp có quyền hạn cao nhất
trong đơn vị.
10
1.2.1.6. Các nhân tố bên ngoài
Ngoài những nhân tố bên trong đã nêu, thì hoạt động của đơn vị còn chịu
ảnh hưởng bởi những yếu tố bên ngoài.Ví dụ như luật pháp, sự kiểm soát của các
cơ quan Nhà nước, ảnh hưởng của các chủ nợ Những yếu tố này tuy không
thuộc tầm kiểm soát của đơn vị nhưng có ảnh hưởng rất lớn đến các nhà quản lý
trong sự thiết kế và vận hành hệ thống KSNB.
1.2.2. Hệ thống kế toán
Hệ thống kế toán là hệ thống thông tin và kiểm tra tài sản, nguồn hình
thành tài sản và sự vận động của tài sản bằng các phương pháp kế toán: phương
pháp chứng từ, tính giá, đối ứng tài khoản và phương pháp tổng hợp - cân đối.
Thông qua việc ghi nhận, tính toán, phân loại, kết chuyển vào sổ cái, tổng
hợp và lập hệ thống báo cáo cung cấp những thông tin cần thiết cho quá trình
quản lý và kiểm soát các mặt hoạt động của đơn vị. Do đó, hệ thống kế toán là
một bộ phận quan trọng của kiểm soát nội bộ.
Mục đích của một hệ thống kế toán của một tổ chức là sự nhận biết, thu
thập, phân loại, ghi sổ và báo cáo các nghiệp vụ kinh tế tài chính của tổ chức đó,
thỏa mãn chức năng thông tin và kiểm tra của hoạt động kê toán.
Một hệ thống kế toán hữu hiệu phải bảo đảm các mục tiêu kiểm soát chi
tiết:
- Tính có thật: nghĩa là chỉ được ghi chép những nghiệp vụ có thực, không
ghi chép những nghiệp vụ giả tạo vào sổ sách của đơn vị.
- Sự phê chuẩn: trước khi thực hiện mọi hoạt động nghiệp vụ, đều phải
đảm bảo rằng chúng đã được phê chuẩn hợp lệ.
- Tính đầy đủ:Nghĩa là không được loại bỏ, giấu bớt để ngoài sổ sách về
mọi nghiệp vụ phát sinh.
- Sự đánh giá: Không để xảy ra những sai phạm trong tính toán, trong việc
áp dụng chính sách kế toán.

- Hệ thống tài khoản kế toán: Hệ thống tài khoản là cầu nối liên quan chặt
chẽ giữa chứng từ kế toán và sổ kế toán. Trong hệ thống kiểm soát, hệ thống tài
khoản có tác dụng kiểm soát luồng đi của các thông tin theo các nội dũng đã
được phân loại.
Đối với kế toán tài chính và BCTC, hệ thống tài khoản giúp phân loại và
kiểm soát thông tin từ khi chúng phát sinh đến khi chúng được tập hợp và đi tới
đúng nội dung của các chỉ tiêu, các khoản mục trên BCTC. Một hệ thống tài
khoản được thiết lập đúng đắn sẽ có ảnh hưởng lớn đến mục tiêu kiểm soát “Sự
phân loại” của HTKSNB, giúp cho số liệu trên BCTC phản ánh đúng quy mô và
bản chất của chúng.
- Hệ thống báo cáo kế toán: Các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, sau quá trình
ghi nhận, phân loại, ghi chép,… cuối cùng phải được tổng hợp theo những chỉ
tiêu tái chính và được trình bày vào báo cáo kế toán phù hợp, theo những
nguyên tắc và phương pháp nhất định. Hệ thống báo cáo kế toán nói chung bao
gồm các báo cáo tài chính (chủ yếu cung cấp thông tin cho bên ngoài đơn vị) và
các báo cáo kế toán quản trị (chủ yếu cung cấp thông tin phục vụ yêu cầu quản
trị nội bộ đơn vị).
1.2.3. Các nguyên tắc và các thủ tục kiểm soát
1.2.3.1. Các nguyên tắc kiểm soát
- Nguyên tắc phân công, phân nhiệm
- Nguyên tắc bất kiêm nhiệm
- Nguyên tắc ủy quyền và phê chuẩn
a) Nguyên tắc phân công, phân nhiệm
Theo nguyên tắc này, công việc và trách nhiệm cần được phân chia cho
nhiều người trong một bộ phận hay cho nhiều bộ phận trong một tổ chức, mục
đích là để không một cá nhân hay một bộ phận nào được thực hiện từ khâu đầu
đến khâu cuối, từ đó mà tránh được gian lận, sai sót.
13
Việc phân công, phân nhiệm rõ ràng còn có sự tác chuyên môn hoá và
giúp cho việc kiểm tra, thúc đẩy lẫn nhau trong công việc.

1.2.3.2. Các loại thủ tục kiểm soát:
Có rất nhiều thủ tục kiểm soát khác nhau có thể được thực hiện ở các đơn
vị. Chúng thường được chia làm 2 loại: kiểm soát trực tiếp và kiểm soát tổng
quát.
a) Kiểm soát trực tiếp
Kiểm soát trực tiếp là các biện pháp kiểm soát được xây dựng trên cơ sở
đánh giá các yếu tố dẫn liệu trong báo cáo tài chính. Kiểm soát trực tiếp bao gồm
ba loại hình cơ bản:
- Kiểm soát quản lý: là việc kiểm soát các hoạt động đơn lẻ do những nhân
viên độc lập với người thực hiện hoạt động tiến hành. Kiểm soát quản lý là biện
pháp rất có hiệu lực để phát hiện, ngăn chặn các sai sót, gian lận.
- Kiểm soát xử lý: là kiểm soát được đặt ra để kiểm tra việc xử lý các giao
dịch, tức là kiểm tra lại những công việc mà giao dịch được công nhận, cho phép,
phân loại, tính toán, ghi chép, tổng hợp, báo cáo.
- Kiểm soát để bảo vệ tài sản: là các biện pháp, qui chế kiểm soát nhằm
bảo đảm sự an toàn của tài sản, của thông tin trong đơn vị, nó thường bao gồm:
+ Phân định trách nhiệm bảo vệ tài sản, đặc biệt là bảo vệ các ghi chép về tài sản.
+ Hệ thống an toàn và vật chắn.
+ Kiểm kê hiện vật, xác nhận của bên thứ ba.
b) Kiểm soát tổng quát
Là sự kiểm soát tổng thể đối với nhiều hệ thống, nhiều công việc khác
nhau. Trong môi trường máy tính hoá, kiểm soát tổng quát thuộc về chức năng
kiểm soát của phòng điện toán.
15
1.3. Hạn chế cố hữu của hệ thống KSNB
Các quá trình kiểm soát chỉ có thể đảm bảo hợp lý chứ không thể đảm bảo
tuyệt đối cho các mục tiêu kiểm soát của đơn vị, trong đó có cả mục tiêu lập
BCTC trung thực hợp lý, bởi vì dù có được quan tâm thiết kế lý tưởng bao nhiêu
chăng nữa nhưng bản thân nó vẫn chứa đựng những hạn chế cố hữu trong đó.
Những hạn chế cố hứu của HTKSNB là:

- Giám đốc: Vũ Thanh Bình
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của Tổng công ty
Tổng công ty Giấy Việt Nam (địa điểm tại tỉnh Phú Thọ) tiền thân là công
ty Giấy Bãi Bằng thành lập và đi vào hoạt động từ 26/11/1982. Đây là kết quả
của sự lao động sáng tạo không mệt mỏi của tập thể lãnh đạo, chuyên gia kỹ
thuật, các kỹ sư và tập thể công nhân Việt Nam và Thụy Điển trong suốt 8 năm
(từ năm 1974 đến năm 1982), bằng vốn viện trợ không hoàn lại gần 2,7 tỷ
Kuron (tương đương với 448 triệu USD) của Chính phủ Vương quốc Thụy
Điển. Địa điểm kinh doanh chính của Tổng công ty đặt tại Thị trấn Phong Châu,
huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ với tổng diện tích khoảng 100 ha. Sản phẩm
17
chính của Tổng công ty là bột giấy và các loại giấy phục vụ sản xuất kinh doanh
và đời sống sinh hoạt.
Từ khi thành lập đến nay, Tổng công ty Giấy Việt Nam đã trải qua 4 giai
đoạn phát triển.
* Giai đoạn 1 (1974 – 1982)
Đây là giai đoạn xây dựng và chuẩn bị sản xuất. Ngày 5/10/1974, nhà
máy giấy Bãi Bằng được khởi công xây dựng. Đến ngày 26/11/1982, kết thúc 8
năm xây dựng, lế khánh thành nhà máy được tổ chức trọng thể. Nhà máy được
lấy tên gọi chính thức là Nhà máy bột và giấy Vĩnh Phú. Sự kiện này đã chứng
minh thành quả của sự hợp tác tốt đẹp, tình hữu nghị Việt Nam – Thụy Điển.
* Giai đoạn 2 ( 1983 – 1990)
Nhà máy bắt đầu đi vào hoạt động đòi hỏi tập thể cán bộ công nhân viên
phải sát cánh cùng các chuyên gia Thụy Điển cùng vươn lên để tiếp quản công
trình, vừa sản xuất, vừa học tập, chuyển giao kiến thức tiến tới làm chủ vận hành
nhà máy. Mặc dù có thuận lợi là được sự giúp đỡ toàn diện của các chuyên gia
Thụy Điển nhưng sản lượng giấy trong những năm 1990 trở về trước cao nhất
cũng chỉ đạt 55% công suất thiết kế. Ngày 25/4/1986, Nhà máy bột và giấy Vĩnh
Phú đổi tên thành Xí nghiệp liên hợp giấy Vĩnh Phú.
* Giai đoạn 3 (1990 – 2005):

năng lực cạnh tranh của giấy Việt Nam trên thị trường quốc tế, đã, đang và sẽ có
nhiều đóng góp cùng ngành giấy Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện
đại hóa, cùng cả nước hội nhập và phát triển.
2.1.2. Chức năng, nhiệm vụ của Tổng công ty Giấy Việt Nam
a) Chức năng
- Sản phẩm sản xuất chủ yếu của Tổng công ty là bột giấy và các loại giấy
như: giấy in, giấy viết, giấy vệ sinh, giấy bao gói có chất lượng cao: bao gồm
các loại giấy cuộn, giấy ram từ khổ A
0
– A
4
, giấy photocopy, giấy tập, vở học
sinh, giấy vi tính, giấy telex…
19
- Sản xuất kinh doanh chế biến các loại nông lâm sản gỗ và các loại sản
phẩm chế biến từ gỗ…
- Sản xuất kinh doanh ngành in, các sản phẩm văn hóa phẩm…
Theo đó công ty có các quyền hạn sau:
- Có quyền tổ chức bộ máy quản lý, tổ chức kinh doanh phù hợp.
- Kinh doanh những ngành nghề phù hợp với giấy phép đăng ký kinh doanh.
- Được mở rộng quy mô kinh doanh theo khả năng của công ty và nhu cầu
của thị trường.
- Có quyền tuyển chọn, thuê mướn sử dụng lao động và cho thôi việc theo
quy định của của bộ luật lao động và pháp luật liên quan khác.
- Có quyền thế chấp, cầm cố tài sản thuộc quyền quản lý của công ty.
- Được hưởng chế độ ưu đãi đầu tư theo quy định của pháp luật.
- Công ty có quyền từ chối và tố cáo mọi yêu cầu cung cấp nguồn lực,
nguồn hàng không được pháp luật quy định của bất kỳ tổ chức cá nhân nào.
b) Nhiệm vụ
Thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh trên cơ sở chủ động và tuân thủ

công ty cũng sẽ phải thực hiện một cách nghiêm túc và tuân thủ đúng các nguyên
tắc kiểm soát đã đề ra, do đó hầu hết các mục tiêu kiểm soát sẽ có kết quả tốt.
Dưới đây là một số nhân tố quan trọng trong môi trường kiểm soát tại nội
bộ Tổng công ty:
2.2.1.1. Triết lý và phong cách điều hành của nhà quản lý
Thông điệp lãnh đạo của Tổng công ty Giấy Việt Nam là: “Xây dựng
VINAPACO duy trì vị thế là một Tổng công ty mạnh trong ngành trồng rừng
nguyên liệu giấy, sản xuất kinh doanh bột giấy và giấy trong khu vực ASEAN,
21
có các khu công nghiệp sản xuất bột giấy, giấy được trang bị kỹ thuật công nghệ
tiên tiến tại các khu vực nguyên liệu giấy trọng điểm trong cả nước; chú trọng
bảo vệ môi trường”.
Sau 30 năm hoạt động, giấy Bãi Bằng đã từng được bình chọn là “Hàng
Việt Nam chất lượng cao”; được tặng giải thưởng “Quả cầu vàng”, giành giải
thưởng “Sao vàng đất Việt”, “Nhãn hiệu nổi tiếng quốc gia” và thuộc tốp 100
doanh nghiệp hàng đầu cả nước; được phong tặng danh hiệu “Anh hùng Lao
động thời kỳ đổi mới”. Ba thập kỷ qua đã có gần 2 triệu tấn giấy Bãi Bằng được
cung cấp cho thị trường trong nước và quốc tế, góp phần to lớn vào sự nghiệp
phát triển văn hóa - giáo dục, giải quyết việc làm, an sinh xã hội. Tuy vẫn còn
những mặt chưa đáp ứng nhưng Giấy Bãi Bằng là một trong những hình mẫu về
coi trọng yếu tố nhân lực để phát triển SXKD bền vững; xây dựng hệ thống
chính trị vững mạnh làm hạt nhân thực hiện những đổi mới về quản lý, kỹ thuật;
chăm lo toàn diện đời sống vật chất và tinh thần của người lao động; thực hiện
và phát huy trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp với cộng đồng; có tác động và
ảnh hưởng tích cực đến KT-XH đối với tỉnh Phú Thọ và khu vực trung du, miền
núi phía Bắc.
Tổng công ty giấy Việt Nam luôn luôn cố gắng phát huy hơn nữa uy tín
trong lĩnh vực sản xuất cung cấp giấy in, giấy viết, giấy photocopy cả về mặt
chất lượng và số lượng. Sản phẩm của Tổng công ty Giấy luôn vươn tới mức
chất lượng cao nhất, giá cả cạnh tranh để hòa nhập vào thị trường khu vực và thế

Phó TGĐ Kỹ thuật,
sản xuất
- Phòng kỹ thuật
- Nhà máy giấy
- Nhà máy Hóa chất
- Nhà máy Điện
- XN Bảo dưỡng
- C.ty Giấy Tissue
Sông Đuống
- Văn phòng
- Phòng tổ chức lao
động, tiền lương
- Phòng Kế hoạch
- Phòng XNK và
Thiết bị phụ tùng
Phó TGĐ Lâm nghiêp
KIỂM SOÁT NỘI BỘ
- Phòng QL TN rừng
- Cty CB&XNK dăm mành
- Cty vận tải và CB lâm sản
- Cty Khảo sát và thiết kế lâm
sản
- Các Cty lâm nghiệp
24
- Hội đồng thành viên: Là cơ quan đại diện trực tiếp chủ sở hữu nhà
nước tại VINAPACO và thực hiện các quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu tại các
công ty con.
- Ban kiểm soát nội bộ: Do Hội đồng thành viên lập để giúp HĐ thành viên
kiểm tra, giám sát tính hợp pháp, chính xác, trung thực trong quản lý, điều hành hoạt
động kinh doanh trong việc ghi chép sổ kế toán, báo cáo tài chính và việc chấp hành


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status