Phong cách truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư - Pdf 29

1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 4
1. Lý do chọn đề tài 4
2. Mục đích nghiên cứu 8
3. Nhiệm vụ nghiên cứu 8
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
5. Phương pháp nghiên cứu 9
6. Đóng góp của luận văn 9
NỘI DUNG 10

Chương 1- Phong cách và những nhân tô tác động
đến sự hình thành phong cách truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư
1.1. Phong cách 10
1.1.1. Một số khuynh hướng nghiên cứu phong cách 10
1.1.2. Nguồn gốc và khái niệm phong cách 11
1.1.2.1. Quan niệm của các nhà nghiên cứu Nga 12
1.1.2.2. Quan niệm của các nhà nghiên cứu Việt Nam 15
1.1.2.3. Khái niệm phong cách của người viết luận văn 17
1.2. Những nhân tố tác động đến sự hình thành phong cách truyện ngắn Nguyễn
Ngọc Tư 18
1.2.1 Những nhân tố tác động đến sự hình thành phong cách nhà văn 18
1.2.2. Những nhân tố tác động đến sự hình thành phong cách NNT 13

1.2.2.1. Tình hình kinh tế - xã hội và văn học những năm cuối thế kỉ XX - đầu thế kỉ
XXI 19
1.2.2.2. Hoàn cảnh gia đình và môi trường sống của Nguyễn Ngọc Tư 20
1.2.2.3. Tính cách con người Nguyễn Ngọc Tư 22
1.2.2.4. Quan điểm nghệ thuật của Nguyễn Ngọc Tư 23

3.2.3. Những con người có số phận bi kịch 76
3.2.3.1. Những con người mang chấn thương tinh thần 76
3.2.3.2. Những con người chịu nhiều thua thiệt, ở hiền không gặp lành 80
3.2.3.3. Những con người là nạn nhân của sự nghèo đói, dốt nát, mê muội tầm
thường, mang tính bản năng 81
3.2.4. Những con người mang phẩm chất tốt đẹp của người Nam Bộ và người lao
động nói chung 82
3.2.4.1. Những con người đầy tính thiện 82

3.2.4.2. Những con người không nguôi khát vọng về tình yêu và sự sống…… …85
3.3. Một số biện pháp nghệ thuật khắc họa nhân vật 86
3.3.1. Cách đặt tên nhân vật 87
3.3.2. Một số biện pháp nghệ thuật khác 89
3.3.2.1. Đối thoại 89

3.3.2.2. Độc thoại nội tâm …92
3.3.2.3. Xây dựng tình huống………………………………………………………94
3.3.2.4. Bàn luận, triết lí 96
Chương 4 - Ngôn ngữ nghệ thuật
và giọng điệu trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư
4.1. Ngôn ngữ nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư 98
4.1.1. Ngôn ngữ “đặc sệt” Nam Bộ 98
4.1.1.1. Nhiều phương ngữ Nam Bộ 99
4.1.1.2. Cách diễn đạt Nam Bộ 102
4.1.1.3. Nhiều địa danh gợi đặc trưng miền sông nước Nam Bộ 103
4.1.2. Sử dụng nhiều lối so sánh, ví von độc đáo 105
4.1.3. Sử dụng nhiều từ láy, từ ngữ tạo hình biểu cảm, giàu chất thơ 106
4.1.4. Sử dụng nhiều kiểu câu văn có cấu trúc độc đáo 108
4.1.4.1. Kiểu câu bắt đầu bằng từ “Và”/ “Mà” 108
4.1.4.2. Kiểu câu đặc biệt 110 4

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Phong cách nghệ thuật của một tác giả là một trong những vấn đề cơ bản và
quan trọng trong nghiên cứu văn học. Phong cách nghệ thuật là một phạm trù thẩm
mĩ, chỉ sự thống nhất tương đối ổn định của hệ thống hình tượng, của các phương
tiện biểu hiện nghệ thuật, nói lên cái nhìn độc đáo trong sáng tác của một nhà văn,
trong tác phẩm riêng lẻ, trong trào lưu văn học hay văn học dân tộc. Đó là lí do vì
sao người viết lại chọn phong cách như một phương diện chủ yếu để nghiên cứu,
tìm hiểu các sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư.
1.2. Đời sống văn học đương đại đang có nhiều chuyển biến mau lẹ và hứa hẹn
nhiều thành tựu. Văn hóa đọc đang dần trở lại. Ở lĩnh vực văn xuôi nghệ thuật,
truyện ngắn và tản văn đang ngày càng được chú ý và là những thể loại phát triển
mạnh nhất của văn học đương đại. Đó cũng chính là thế mạnh và sở trường của
Nguyễn Ngọc Tư. Vì thế chúng tôi chọn và đi sâu tìm hiểu về phong cách truyện
ngắn của Nguyễn Ngọc Tư - một thể loại mà chị đã đạt được nhiều giải thưởng.
1.3. Tuy mới xuất hiện trên văn đàn khoảng hơn 10 năm trở lại đây nhưng
Nguyễn Ngọc Tư đã trở thành một hiện tượng, một cây bút best-seller. Cùng với
một loạt những nhà văn khác như Hồ Anh Thái, Tạ Duy Anh, Nguyễn Bình
Phương, Nguyễn Việt Hà, Đỗ Hoàng Diệu… Nguyễn Ngọc Tư đã mang một luồng
gió mới thổi vào đời sống văn học Việt Nam cùng cơn sốt Cánh đồng bất tận.
Bắt đầu từ năm 2000, khi được trao giải Nhất - Cuộc vận động sáng tác văn học
tuổi 20 lần II của Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam, và sau đó
được trao giải B của Hội nhà văn Việt Nam năm 2001 với tập truyện Ngọn đèn
không tắt; đặc biệt, với tác phẩm gây tiếng vang lớn - Cánh đồng bất tận năm 2005

- Phương Quyên (ngày 05/02/2006), “Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư: Tôi là đứa
ham chơi!”, Báo Người lao động (http://www.nld.com.vn).
6

Các bài viết này chủ yếu ghi chép những lời trò chuyện, tâm sự của Nguyễn
Ngọc Tư qua các cuộc tiếp xúc, phỏng vấn. Nội dung thường là quan niệm viết văn,
cuộc sống hiện tại, dự định tương lai, một số vấn đề xoay quanh tác phẩm…
- Quang Vinh (ngày 09/03/2004), “Nguyễn Ngọc Tư: Nhà văn của xóm rau
bèo”, Báo Tuổi Trẻ.
- Theo Văn nghệ Trẻ (ngày 22/04/2004), “Nhà văn Dạ Ngân: Nguyễn Ngọc Tư -
Điềm đạm mà thấu đáo”, Báo Tuổi Trẻ.
- Nguyễn Hữu Quý (ngày 15/11/2005), “Nhìn lại tình hình sáng tác văn học
trong năm 2005”, Báo Công An Nhân Dân.
- Phạm Xuân Nguyên (ngày 03/12/2005), “Dữ dội và nhân tình”, Báo Tuổi Trẻ.
- Huỳnh Kim (ngày 25/12/2005), “Gặp Nguyễn Ngọc Tư”, Báo Cần Thơ.
- Cẩm Lệ (2006), “Nguyễn Ngọc Tư: Hạnh phúc phía sau trang viết”, Báo Phụ
nữ TP.HCM Xuân 2006.
- Đình Khôi - V. Quỳnh (ngày 19/10/2008), “Văn Nguyễn Ngọc Tư - Số lượng
hay chất lượng?”, http://www.thethaovanhoa.vn.
Những bài viết này thiên về đánh giá cao những thành công đã đạt được của
Nguyễn Ngọc Tư trên con đường sáng tác và nêu lên một vài cảm nhận về tính
cách, cá tính con người Nguyễn Ngọc Tư ngoài đời cũng như trong văn chương.
2- Những bài phân tích, đánh giá, phát hiện những nét đặc sắc trong các tác
phẩm tiêu biểu của Nguyễn Ngọc Tư:
- Trần Hữu Dũng (Tháng 2/2004), “Nguyễn Ngọc Tư, đặc sản miền nam”, Tạp
chí Diễn Đàn.
- Minh Thi (ngày 11/04/2004), “Nguyễn Ngọc Tư và những bộ mặt của tâm
trạng”, Báo Lao Động.
- Minh Phương (ngày 31/05/2004), “Đọc sách: ”Nước chảy mây trôi” - tập
truyện ngắn và ký mới của Nguyễn Ngọc Tư”, Báo Nhân Dân.

Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
8

Những công trình này phần lớn đều khai thác một cách quy mô, công phu, có hệ
thống về một vài phương diện như: thế giới nghệ thuật, thi pháp, quan niệm nghệ
thuật về con người, nghệ thuật tự sự… trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư.
Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu riêng về phong cách nghệ thuật truyện
ngắn của Nguyễn Ngọc Tư thì hầu như chưa có, mới chỉ dừng lại ở một vài phương
diện nào đó mà chưa đi sâu và chưa có sự khái quát cụ thể. Với đề tài “Phong cách
truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư”, người viết mong muốn được tìm hiểu và đưa ra
một số nét độc đáo, đặc sắc nhất trong phong cách truyện ngắn của Nguyễn Ngọc
Tư, con đường hình thành phong cách của nhà văn này như một định hướng nhằm
cảm hiểu và đánh giá các tác phẩm của chị.
2. Mục đích nghiên cứu
- Chỉ ra được những nét đặc sắc tạo nên phong cách truyện ngắn của Nguyễn
Ngọc Tư ở các phương diện: cốt truyện, nhân vật, ngôn ngữ, giọng điệu…
- Từ việc làm rõ phong cách truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, góp phần ghi nhận
những đóng góp của tác giả này trong dòng chảy của văn học Việt Nam đương đại.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích một số phương diện nổi bật trong phong cách truyện ngắn Nguyễn
Ngọc Tư qua những tập truyện tiêu biểu.
- Làm rõ những nét đặc sắc trong phong cách truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư
trong sự so sánh với các cây bút Nam Bộ và các nhà văn trẻ khác.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu:
* Truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư gồm 8 tập truyện:
1- Ngọn đèn không tắt (Tập truyện, NXB Trẻ - 2000)
2- Ông ngoại (Tập truyện thiếu nhi, NXB Trẻ - 2001)
3- Biển người mênh mông (Tập truyện, NXB Kim Đồng - 2003)
4- Giao thừa (Tập truyện, NXB Trẻ - 2003)

10

NỘI DUNG
Chương 1
PHONG CÁCH VÀ NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG
ĐẾN SỰ HÌNH THÀNH PHONG CÁCH TRUYỆN NGẮN
NGUYỄN NGỌC TƯ

1.1. Phong cách
1.1.1. Một số khuynh hướng nghiên cứu phong cách
Theo PGS. TS Tôn Thảo Miên (2006), “Một số khuynh hướng nghiên cứu
phong cách”, Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 5, trang 75 - 86 thì phong cách là một
khái niệm rộng, có nhiều định nghĩa khác nhau về phong cách, nhiều khuynh hướng
khác nhau khi nghiên cứu phong cách, nhưng có thể tạm chia làm 4 khuynh hướng
chính sau:
- Nghiên cứu những vấn đề lí luận cơ bản về phong cách
- Nghiên cứu phong cách tác giả
- Nghiên cứu phong cách tác phẩm
- Nghiên cứu phong cách tác giả và tác phẩm
Mỗi khuynh hướng này tập trung vào những vấn đề khác nhau của phong cách.
Những bài nghiên cứu những vấn đề lí luận cơ bản về phong cách chủ yếu tìm hiểu
những vấn đề liên quan trực tiếp đến khái niệm phong cách như: nguồn gốc và định
nghĩa phong cách; phân biệt phong cách với phương pháp, phong cách với trào lưu;
phong cách thời đại, phong cách khuynh hướng, phong cách dân tộc…; hoặc những
vấn đề được coi là những yếu tố cấu thành nên phong cách như: phong cách cá
nhân; cá tính sáng tạo của nhà văn; tài năng cá nhân; thế giới quan; bút pháp; ngôn
ngữ…

phong cách.
Khái niệm phong cách có nguồn gốc từ thuật ngữ tiếng stylos (Hy Lạp), stylus
(La Mã), đến style (Pháp). Nó được coi như một thuật ngữ của ngôn ngữ học, nghệ
thuật học và văn học. Lúc đầu thuật ngữ này được hiểu là nét chữ, bút pháp, sau đó
mới có nghĩa là phong cách.
12

Thời cổ đại, người ta chia phong cách ra làm ba loại: thượng lưu, trung bình và
hạ lưu. Sự phân chia này kéo dài đến thế kỉ XIX ở Nga. Thế kỉ Ánh sáng, với sự
tiến bộ của các trào lưu tư tưởng và khoa học kĩ thuật, Buffon đã lấy tư tưởng để
giải thích phong cách: “Chỉ có tư tưởng tạo ra cái nền phong cách… và phong cách
chỉ là trật tự và sự vận động mà người ta đặt vào tư tưởng” [16, 20]. Cách hiểu của
Buffon gần gũi với quan niệm của những triết gia cổ đại như Platon (428-348 TCN)
hay Sénèque (thế kỉ I). Theo D. Alembert (1717-1783) và Chateaubriand (1768-
1848) thì phong cách là cái không thể bắt chước, không thể học tập và chính là tài
năng, thiên bẩm. Tất cả những quan niệm trên đều còn phiến diện, chưa phản ánh
đầy đủ đặc trưng của phong cách. Đến giữa thế kỉ XIX, vấn đề phong cách lại được
luận bàn sôi nổi. Tham gia vào cuộc tranh luận này có các nhà văn lớn như Stendal,
Balzac…, các nhà lý luận phê bình văn học như Sainte-Beuve, các triết gia như
Herbert, Spencer, các nhà ngôn ngữ học như Steinthai, Wundt… Sau khi tranh luận,
họ đi đến kết luận: ngôn ngữ là một sự kiện phong cách và chính ngôn ngữ phải
được xem xét ở phương diện phong cách. Những vấn đề về phong cách như phong
cách học miêu tả (đại diện là Charles Bally), phong cách học cá nhân (đại diện là L.
Spitzer), phong cách học chức năng-cấu trúc, phong cách học theo quan điểm tâm
lí-ngôn ngữ học, phong cách học theo quan điểm xã hội-ngôn ngữ học, phong cách
học siêu ngôn ngữ học hay là sự giao thoa giữa thi pháp học và phong cách học…
đều nghiêng về phạm trù ngôn ngữ, nên chúng tôi không đi sâu trong luận văn này.
Mặt khác, do nguồn tài liệu hạn hẹp và tầm hiểu biết còn nhiều hạn chế nên
người viết chỉ tiếp cận được với những khái niệm và cách hiểu về phong cách của
các nhà nghiên cứu Nga và Việt Nam. Hi vọng rằng, ở những đề tài nghiên cứu tiếp

V. Kôvakev coi “phong cách - đó là một sự thống nhất chỉnh thể của nhà
văn…”.
L. Nôvichenkô hiểu phong cách văn học là vẻ đặc thù trong những tác phẩm của
nhà văn (hoặc của một nhóm các nhà văn), chúng được quy định bởi những quan
điểm chung về cuộc sống. Đồng thời nó biểu hiện tính chất đặc trưng về nội dung
và hình thức của tác phẩm.
14

V. Đneprôv lại cho rằng phong cách là sự tổng hợp, là hệ thống các phương tiện
miêu tả và biểu đạt; phong cách được coi như là hình thức toàn vẹn có tính chất nội
dung.
Ya. Elxberg đưa ra một định nghĩa tương đối hoàn chỉnh về phong cách:
“Phong cách biểu hiện sự toàn vẹn của hình thức có tính nội dung được hình thành
trong sự phát triển, trong tác động qua lại và trong sự tổng hợp các yếu tố của hình
thức nghệ thuật, dưới ảnh hưởng của đối tượng và nội dung tác phẩm, của thế giới
quan của nhà văn và của phương pháp của anh ta vốn thống nhất với thế giới quan.
Phong cách được hình thành từ tất cả những yếu tố ấy, nảy sinh từ chúng mà ra.
Phong cách - đó là sự thống trị của hình thức nghệ thuật, là sức mạnh tổ chức của
nó”.
A. Xôkôlôv tìm phong cách trong sự “khám phá triệt để quy luật nghệ thuật của
nó”, “xác định rõ ràng những yếu tố mang phong cách và những nhân tố cấu tạo
nó”. Bên cạnh phong cách của tác phẩm, cần chú ý đến phong cách của khuynh
hướng.
Từ những quan điểm khác nhau về phong cách của các nhà nghiên cứu ngôn
ngữ và văn học ở Nga, M.B. Khravchenkô đã phát triển khái niệm về phong cách
của mình như sau:
Thứ nhất, “phong cách biểu hiện những đặc điểm của cá tính sáng tạo của nhà
văn, sự hoàn chỉnh của nhận thức nhà văn về cuộc sống, của cách nhìn của nhà văn
đối với thế giới” [21, 144]. “Phong cách cần phải được định nghĩa như thủ pháp
biểu hiện cách khai thác hình tượng đối với cuộc sống, như thủ pháp thuyết phục và

của những khuynh hướng văn học” [21, 217].
1.1.2.2. Quan niệm của các nhà nghiên cứu Việt Nam

Vấn đề phong cách nhà văn cũng đã được giới nghiên cứu Việt Nam quan tâm
với nhiều công trình như: các giáo trình Lí luận văn học của các trường Đại học
Tổng hợp và Sư phạm do các tác giả Lê Đình Kỵ, Phương Lựu, Nguyễn Văn
Hạnh… biên soạn; một số công trình nghiên cứu như: Một số vấn đề thi pháp học
hiện đại (Trần Đình Sử), Nhà văn - tư tưởng - phong cách; Nhà văn hiện đại Việt
16

Nam, chân dung và phong cách (Nguyễn Đăng Mạnh), Tìm hiểu phong cách
Nguyễn Du trong Truyện Kiều (Phan Ngọc), Từ kí hiệu học đến ngôn ngữ học
(Hoàng Trinh), Nhà văn Việt Nam hiện đại (Phan Cự Đệ và Hà Minh Đức), Văn
và người (Phong Lê), Văn học và học văn, Thi pháp hiện đại (Hoàng Ngọc Hiến),
Đi tìm chân lý nghệ thuật (Hà Minh Đức), một số từ điển… cũng đã đề cập đến
vấn đề này.
Đỗ Đức Hiểu cho rằng: “Phong cách là ngòi bút biểu đạt cá tính của nhà văn,
hoặc nó là cái cá thể nhất biểu hiện trong tác phẩm của mình” [14, 338].
GS. Nguyễn Đăng Mạnh cũng nhất trí cho rằng: “Phong cách là một khái niệm
phức tạp, rất khó tìm được một sự thống nhất”. Nhưng đồng thời GS cũng đưa ra
quan niệm riêng về phong cách: “Phong cách là một chỉnh thể nghệ thuật, mỗi nhà
văn có phong cách tạo ra cho mình một thế giới nghệ thuật riêng. Thế giới nghệ
thuật ấy, dù phong phú, đa dạng thế nào, vẫn có tính thống nhất. Cơ sở của tính
thống nhất này là một nhãn quan riêng về thế giới, và sâu xa hơn nữa, là tư tưởng
nghệ thuật riêng của nhà văn… Phong cách bao gồm những đặc điểm độc đáo của
tác phẩm của một nhà văn từ nội dung đến hình thức” [27, 8]. Tiếp nữa, ông cũng
nhận định: “Trong quá trình sáng tác của các nhà văn, phong cách nghệ thuật của
ông ta luôn luôn chuyển từ tác phẩm này đến tác phẩm khác… phong cách vận
động trên một cơ sở thống nhất, khiến cho các tác phẩm của nhà văn dù có những
nét khác nhau, vẫn là tác phẩm của ông ta chứ không phải của ai khác… Phong

nét riêng ấy thể hiện ở nhiều tác phẩm của nhà văn làm ta có thể nhận ra sự khác
nhau (giữa các nhà văn)…” [43, 256].
Hai định nghĩa cuối đều nhấn mạnh đến yếu tố hình thức của phong cách.
Như đã nói ở trên, việc tìm ra một định nghĩa thống nhất là không dễ. Có người
nhấn mạnh phong cách ở phương diện hình thức, có người nhấn mạnh ở phương
diện nội dung, ở thế giới quan, tư tưởng của nhà văn.
1.1.2.3. Khái niệm phong cách của người viết luận văn

Từ những định nghĩa ở trên, người viết đưa ra cách hiểu về phong cách như sau:
Phong cách là một phạm trù thẩm mĩ, là sự thống nhất trọn vẹn của nội dung và
18

hình thức, mang đậm cá tính sáng tạo của nhà văn, thể hiện cái riêng, sự độc
đáo, đặc trưng mang tính thống nhất, ổn định, xuyên suốt các sáng tác của mỗi
nhà văn giúp phân biệt tác giả này với tác giả khác, thời đại này với thời đại
khác.
Phong cách nghệ thuật thể hiện ở cái nhìn về con người và cuộc sống, thế giới
nhân vật, cốt truyện, ngôn ngữ, giọng điệu, thể loại, các thủ pháp nghệ thuật…
Phong cách nghệ thuật của một nhà văn chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, cả khách
quan lẫn bản thân nhà văn.
1.2. Những nhân tố tác động đến sự hình thành phong cách truyện ngắn
Nguyễn Ngọc Tư
1.2.1 Những nhân tố tác động đến sự hình thành phong cách nhà văn
Buffon, nhà văn Pháp, đã nói rằng: “phong cách chính là bản thân con người”
[16, 20]. Quan niệm của Buffon không xa với quan niệm của triết gia cổ đại Platon:
“Tính cách thế nào thì phong cách thế ấy”, hay Sénèque: “Lời nói là diện mạo của
tâm hồn”. Quan niệm của Buffon cũng gần gũi với quan niệm của người xưa:“văn
như kỳ nhân”, hay của một số nhà thơ, nhà văn Việt Nam như Hàn Mặc Tử:
“Người thơ phong vận như thơ ấy”… Trong Văn tâm điêu long, Lưu Hiệp cho
rằng phong là “cái cốt cách của văn”, cho nên: “Người nào trau dồi cốt cách thì

XXI có nhiều thay đổi nhanh chóng. Kinh tế phát triển nhanh một mặt đem đến diện
mạo mới cho xã hội và văn học, nhưng đồng thời cũng xuất hiện những mặt trái của
nó. Xã hội phát triển, những mối quan hệ và những giá trị đạo đức, tinh thần vốn
được coi là vững bền bỗng dưng rạn nứt, đổ vỡ. Những người viết trẻ đã nhạy cảm
nắm bắt được tất cả những điều ấy và đưa vào trang viết của mình với bao suy tư,
trăn trở. Ta cũng thấy điều ấy trong văn Nguyễn Ngọc Tư khi chị viết về nông thôn
Nam Bộ, nơi những cô gái hôm qua móng chân còn lấm phèn, hôm sau đã giẫm trên
đôi guốc cao gót đi làm tiếp viên nhà hàng, làm điếm; nơi những người hôm xưa
còn không tiếc xương máu cho cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của dân tộc, thì hôm
nay đã ăn chặn mồ hôi nước mắt của người lao động… Những thay đổi, biến
chuyển ấy được các nhà văn trẻ đưa vào trang viết của mình với biết bao nồng nhiệt
muốn cảnh tỉnh, cảnh báo con người trước sự xuống cấp của nhiều loại giá trị.
20

Những sáng tác của các nhà văn trẻ hiện nay đặc biệt quan tâm đến vấn đề con
người cá nhân với tất cả những gì nó có, đặc biệt là những vấn đề thuộc về đời sống
tâm hồn, tình cảm, ý thức, tâm linh… Họ say mê khai phá thế giới bên trong của
con người từ những cung bậc tình cảm nhỏ bé nhất, đến những ẩn ức, mong muốn
nhạy cảm nhất… nhằm cho người đọc thấy một con người thành thật nhất, rõ ràng
nhất, trần trụi nhất. Nguyễn Ngọc Tư cũng đặc biệt quan tâm đến số phận con
người, những sáng tác của chị đều là những day dứt, suy tư về những cuộc đời bi
kịch, những cảnh đời bi thương, lầm lỡ. Con người ở đó hiện lên với tất cả các sắc
thái, các bình diện: cao thượng có, bản năng có, ý thức có, vô thức có, tâm linh cũng
có…
Văn trẻ hiện nay cũng có nhiều đổi mới trong tư duy nghệ thuật và cách xây
dựng tác phẩm. Họ chú trọng đổi mới hình thức tác phẩm từ ngôn ngữ đến cách kể
nhằm tạo ra những tác phẩm khác lạ, khiến người đọc phải năng động, sáng tạo hơn
trong quá trình đọc mới có thể chiếm lĩnh được tác phẩm. Nguyễn Ngọc Tư vừa
truyền thống vừa hiện đại. Chị có những tác phẩm rất “chân quê” nhưng cũng có
những tác phẩm được coi là mang dấu ấn của chủ nghĩa hậu hiện đại như Cánh

cạn: “Chưa có bao giờ má dạy tôi viết văn, nhưng những gì tôi viết ra đều mang hơi
thở cuộc sống mà má trao tặng” [68, 158]. Những con người đó chưa bao giờ xa lạ
với chị và những trang viết của chị về họ cũng không xa lạ gì với chính họ: “Tôi tự
tin vào sự hiểu biết về nông thôn quê hương tôi” [74].
Đối với chị, quê hương luôn là nguồn mạch tình yêu, là nơi tiếp sức, điểm tựa
cho đời văn của chị: “Từ nơi này, tôi đã nhìn được rất xa, đã sống với nhiều nơi,
làm bạn với nhiều người, vậy cũng hạnh phúc lắm rồi”. Cuộc sống xung quanh là
chất liệu ngồn ngộn để chị đưa vào trang viết, có lần trả lời phỏng vấn, Nguyễn
Ngọc Tư tự nhận rằng chị sẽ “giãy chết như con cá bị bắt ra khỏi nước” [11] nếu
phải rời khỏi môi trường sống hiện nay. Và trong môi trường sống bộn bề, sôi động
đó, Nguyễn Ngọc Tư đã như cá gặp nước, thỏa thuê vẫy vùng với một thế giới văn
chương riêng của mình: những con người, những tính cách, số phận mang đậm chất
Nam Bộ, những không gian, giọng nói, phong tục, sinh hoạt mang đậm khí chất
vùng sông nước…
22

Chị thừa nhận: “Riêng tôi, ngôn ngữ, không khí Nam Bộ đã thấm vào tôi từ môi
trường sống. Bây giờ muốn gột bỏ cũng không dễ ” [11]. Và “Tôi sinh ra ở một
vùng quê, nhà tôi nằm ngay trên bờ sông, ngày nào tiếng tắc ráng, tiếng tàu máy
đuôi tôm rồi chợ họp trên sông cũng nhộn nhịp. Tôi đã từng phải hái rau cho bà,
cho mẹ đem ra chợ bán. Sống trong môi trường như thế thì cố tạo cho mình giọng
văn rặt những ngôn ngữ "sang trọng" mà làm gì? Tôi không cố ý sử dụng nhiều
những phương ngữ, từ địa phương. Tôi viết như vậy vì chỉ có ngôn ngữ ấy mới giúp
tôi lột tả hết được cái tình của người dân quê” [73]. Những câu chuyện giản dị như
chính cuộc sống ấy được chị kể bằng một giọng văn rặt Nam Bộ. Nếu chị kể bằng
một thứ ngôn ngữ khác, một giọng điệu khác thì sẽ không còn là Nguyễn Ngọc Tư -
một “đặc sản miền Nam” nữa.
1.2.2.3. Tính cách con người Nguyễn Ngọc Tư

Như mọi nhà văn khác, Nguyễn Ngọc Tư cũng có một tâm hồn nhạy cảm,

ngùi khắc khoải, một giọng cảm thương trĩu sầu về những phận người nhỏ bé mong
manh, những “tình thầm” buồn thao thiết, những bi kịch của sự mê muội, dốt nát…
khiến người đọc khi gấp sách lại rồi vẫn cảm thấy rợn buồn như vừa chợt nghe
được đâu đó một câu vọng cổ loang giữa sông nước trong một đêm trăng hiu quạnh
ở nơi xứ lạ phương xa
Nhìn chung, từ truyện ngắn đến tản văn, bút kí, Nguyễn Ngọc Tư đều thống
nhất ở phong cách văn chương mộc mạc. Không chuộng hình thức, không cầu kì
làm dáng, không phô trương kĩ thuật hay cố gắng lạ hóa, viết bằng tình cảm chân
thật, văn chị đứng ngoài xu hướng cách tân, hiện đại. Nó giản dị, chân chất như
chính con người Nam Bộ trong chị.
1.2.2.4. Quan điểm nghệ thuật của Nguyễn Ngọc Tư

Theo nhà văn Phạm Thị Hoài thì: “Một quan điểm nghệ thuật bao giờ cũng dẫn
tới một phong cách nghệ thuật riêng của nó”, đây chính là “ý thức cá tính” của nhà
văn. Nguyễn Ngọc Tư cũng có những quan điểm nghệ thuật riêng về nghề viết, sở
trường, tài năng… nên chị đã biết chọn cho mình một lối đi riêng trên con đường
văn chương đầy chông gai và nhọc nhằn.
24

Với tập truyện đầu tay Ngọn đèn không tắt, Nguyễn Ngọc Tư đã bước vào làng
văn và đóng một dấu mốc quan trọng trong sự nghiệp văn chương của mình. Chị
hiểu con người mình cũng như văn chương của mình nên đã tự tìm cho mình một
hướng đi riêng: “Biết bao người đã viết về những rạn nứt, những thay đổi mất mát,
những đổ vỡ trần trụi ấy rồi. Tôi buộc lòng phải thủ thỉ chuyện nhân, chuyện
nghĩa… để văn mình “độc quyền” một chút và cũng để thấy muốn sống thêm nữa vì
cuộc đời này còn nhiều vẻ đẹp. Thực tế là còn nhiều cái “đèm đẹp, buồn buồn và
hồn nhiên” ở miền đất phương Nam… thật ra tôi hiểu cái tạng “văn” của tôi viết
đau đớn, trần trụi, bạo liệt không được, tài mình chỉ hạn hẹp có thế” [73]. Nghĩa là
Nguyễn Ngọc Tư hiểu rõ sở thích, sở trường, sở đoản của mình, rất “biết mình biết
người”. Chị từng nói: “Tư chọn viết những gì mà người đi trước không viết thôi.

được một cái gì khác, kể cả với một thể loại “ngon ăn” như tản văn.
Thái độ chuyên nghiệp, trách nhiệm và nghiêm túc với nghề của Nguyễn Ngọc
Tư còn được thể hiện ở chỗ chị biết dưỡng nghề bằng cách chọn lối “đi chậm, dò
dẫm để khẳng định phong cách” [18] chứ không cần phải viết về sex, hay dùng
scandal để tạo tiếng vang trên văn đàn cho mình. Chị cũng là người chịu khó học
hỏi, bồi đắp cho nghề để có một bút lực dồi dào: “Khi tuổi đời mình lớn lên thì sự
tích lũy tự nhiên nhiều lên thôi. Cái nhìn của Tư so với cách đây năm, bảy năm
cũng khác lắm rồi. Và Tư muốn đọc nhiều sách, nhiều lúc muốn đọc các trường
phái, xu hướng mới để biết người ta đang viết như thế nào…” [12].
Nguyễn Ngọc Tư không phải là người dễ bằng lòng với chính mình, “không
muốn ngủ quên vì giải thưởng” [15], chị nhận thấy “bạn đọc bắt đầu chán văn tôi”
[56] nên chị đã muốn “vượt qua chính mình”, “thử sức ở những đề tài khó” [56].
Chị coi đó là một thử thách của chính bản thân mình: “Không hẳn vì tự ái nghề
nghiệp đâu. Tôi còn muốn nhìn mình thật rõ. Có thật mình bất tài? Có thật mình
không thể với tới những đề tài gai góc hơn? Có thật mình đang buông xuôi, đang
tụt dốc? Nếu không phải, thì làm thử coi. Đấy hoàn toàn không phải thách thức bạn
bè, tôi thách thức chính mình” [23]. Nhưng điều quan trọng hơn cả việc vượt qua
chính mình, việc thành hay bại khi thử nghiệm “xen canh” trên cánh đồng văn
chương quen thuộc, với Nguyễn Ngọc Tư còn là được viết những điều mình ấp ủ,

Trích đoạn Cốt truyện truyền thống Cốt truyện phi truyền thống Truyện kể về những chuyện đời thường vặt vãnh Truyện thể hiện chiều sâu cảm xúc, tâm lý nhân vật Một số thủ pháp nghệ thuật xây dựng cốt truyện trong truyện ngắn NNT
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status