phong cách truyện ngắn nguyễn ngọc tư - Pdf 22


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
LƢƠNG THỊ HẢI

PHONG CÁCH TRUYỆN NGẮN
NGUYỄN NGỌC TƢ


LƢƠNG THỊ HẢI
PHONG CÁCH TRUYỆN NGẮN
NGUYỄN NGỌC TƢ CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM
MÃ SỐ: 60.22.34

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS - TS. Trịnh Bá Đĩnh

THÁI NGUYÊN, NĂM 2012

Đặc biệt, tôi xin trân trọng cảm ơn PGS. TS Trịnh Bá Đĩnh, người trong
suốt thời gian qua đã tận tình giúp đỡ và động viên rất nhiều để tôi có thể
hoàn thành luận văn này.
Lời cuối cùng, tôi xin cảm ơn những người thân, bạn bè đã động viên,
khuyến khích tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Tác giả luận văn
Lƣơng Thị Hải

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

2.2.4. Nhân vật với những bi kịch đời thường 52

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ii
2.3. Cái nhìn nhân ái của Nguyễn Ngọc Tư trong truyện ngắn 57
2.3.1. Những khuynh hướng quan niệm về con người trong văn học
trẻ đương đại 57
2.3.2. Cái nhìn nhân ái về con người của Nguyễn Ngọc Tư 59
Chƣơng 3. ĐẶC SẮC TRONG NGHỆ THUẬT KỂ CHUYỆN 72
VÀ SỬ DỤNG NGÔN NGỮ 72
3.1. Nghệ thuật xây dựng cốt truyện 72
3.1.1. Khái niệm cốt truyện 72
3.1.2. Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư với cốt truyện - dòng tâm trạng 73
3.2. Giọng điệu 77
3.2.1. Quan niệm về giọng điệu 77
3.2.2. Một giọng văn “điềm đạm mà thấu đáo” 78
3.3. Ngôn ngữ Nam Bộ đặc trưng 91
3.3.1. Lối diễn đạt Nam Bộ 91
3.3.2. Đặc trưng hệ thống từ vựng địa phương 95
3.3.3. Lớp từ gợi ấn tượng về “văn hóa sông nước” 97
3.3.4. Sáng tạo và biến ngôn ngữ “đời thường” của người bình dân
thành ngôn ngữ văn học 99
KẾT LUẬN 104
TÀI LIỆU THAM KHẢO 107
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

trong những Hội viên trẻ nhất của Hội nhà văn Việt Nam.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
2
Liên tiếp các tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư được tái bản. Bạn đọc
Việt Nam thuộc nhiều thế hệ, tầng lớp khác nhau trong và ngoài nước đón
nhận nồng nhiệt. Truyện ngắn của chị được dịch ra tiếng Hàn Quốc, Tập
truyện “Cánh đồng bất tận-những truyện ngắn hay và mới nhất” trở thành
cuốn sách Best-seller (Bán chạy nhất) của văn học Việt Nam trong năm 2006.
Năm nghìn bản in lần thứ nhất bán hết trong một tuần, số lượng phát hành lên
đến 25.000 bản, số ấn bản cao nhất trong năm. Sự lay động và sức ám ảnh của
chị đã đánh thức một bộ phận không nhỏ những người đọc đang thờ ơ và quay
lưng với văn học. Với lối viết truyền thống lại bằng một giọng điệu hóm hỉnh,
tưng tửng và đặc chất Nam Bộ, tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư khẳng định được
vị trí trên văn đàn. Giáo sư Trần Hữu Dũng đã lập “Tủ sách Nguyễn Ngọc Tư”
trên trang web của ông. Phạm vi bạn đọc và ảnh hưởng của Nguyễn Ngọc Tư
ngày càng được rộng mở hơn trên các kênh phương tiện thông tin khác.
1.3. Trong bối cảnh văn chương Việt Nam đang loay hoay làm mới văn
xuôi thì Nguyễn Ngọc Tư như cô gái tỉnh lẻ vẫn giữ nguyên cái tạng chân
chất của mình. Chị thuộc kiểu nhà văn theo lối viết truyền thống, cổ điển. Văn
chị đứng ngoài khuynh hướng “hiện đại”, “cách tân”. Nhưng như một nhà
nghiên cứu từng nhận định, việc bứt phá khỏi quỹ đạo truyền thống là một nỗ
lực đáng ghi nhận, trân trọng nhưng trụ vững trên cái nền tảng của truyền thống
mà vẫn tạo được dấu ấn của mình, điều đó cũng thể hiện cái tầm của người
viết. Dấu ấn lớn nhất của Nguyễn Ngọc Tư nằm ở “quặng văn” của chị. Đó
trước hết là sự hồn hậu, nhân hậu, là cái nhìn nhân ái về con người, về cuộc đời
sau nữa là bản sắc vùng văn hóa nơi chị sinh ra, sống và viết. Nhà văn Dạ Ngân

Nguyễn Ngọc Tư, ở đây tác giả chỉ ra một “mô hình” về con người rất độc
đáo trong cái nhìn riêng của chị. “Mô hình” ấy vừa có sự kế thừa vừa có sự
sáng tạo mang phong cách riêng của Nguyễn Ngọc Tư. Đó là “mô hình” con
người hướng thiện - kiểu tư duy nghệ thuật độc đáo của Nguyễn Ngọc Tư. Có
thể nói, kế thừa truyền thống quan niệm nghệ thuật về con người của các thế
hệ đi trước, bằng sự trải nghiệm và sáng tạo của bản thân, Nguyễn Ngọc Tư
đã trình ra một “cái nhìn”, một cách “lý giải” về con người rất mới mẻ và độc

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
4
đáo, đem đến cho người đọc một sự thích thú, bạn đọc ngày một yêu mến
truyện ngắn của chị hơn. Đây chính là dấu ấn riêng góp phần làm nên phong
cách truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư.[6.1]
Bài “Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư từ góc nhìn văn hóa” đưa ra nhận
định: truyện của Nguyễn Ngọc Tư có những đặc trưng văn hóa đồng bằng
sông Cửu Long! Qua những sáng tác của chị, độc giả không những được
thưởng thức câu chuyện thắm đượm tinh thần nhân văn mà còn được cung
cấp thêm những cứ liệu văn hóa về vùng quê sông nước đồng bằng sông Cửu
Long rất bổ ích. Đó là một khuynh hướng thẩm mĩ trong sáng tạo nghệ thuật
của Nguyễn Ngọc Tư - khuynh hướng mang vào tác phẩm những bản sắc và
giá trị văn hóa của dân tộc, của quê hương (cụ thể ở đây là những nét đẹp văn
hóa nơi vùng đất cực Nam của Tổ quốc).[7.1]
Hay trong “Giọng điệu chủ yếu trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư”
nhà phê bình cũng cho rằng: Qua khảo sát truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư,
chúng tôi nhận thấy nếu xem giọng điệu như một yếu tố nhằm thể hiện nội
dung và chủ đề của tác phẩm thì giọng điệu chủ yếu trong truyện ngắn của
Nguyễn Ngọc Tư là Giọng buồn nhưng không chán chường, ủ dột. Còn như

đáng quý cần phát huy ở chị chính là chất Nam Bộ trong sáng tác.
Bài viết của Trần Phỏng Diều với tựa đề “Thị hiếu thẩm mĩ trong
truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư”. Với cách hiểu “đi tìm thị hiếu thẩm mỹ trong
truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư nhận diện văn chương chị một khía cạnh khác,
thực chất là đi tìm những hình tượng văn học trong sáng tác của tác giả. Các
hình tượng văn học này cứ trở đi trở lại và trở thành một ám ảnh khôn nguôi,
buộc người viết phải thể hiện ra tác phẩm của mình.”[11.1] Trần Phỏng Diều
đã chỉ ra thị hiếu thẩm mỹ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư thể hiện qua
ba hình tượng: hình tượng người nghệ sĩ, hình tượng người nông dân và hình
tượng dòng sông. Sau khi phân tích vẻ đẹp của từng hình tượng, anh cũng
đánh giá rất cao văn phong mộc mạc, cách viết như nói của Nguyễn Ngọc Tư.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
6
Theo anh, nếu chị đánh mất đi vùng thẩm mỹ này thì đồng thời cũng làm mất
đi rất nhiều giá trị thẩm mỹ trong tác phẩm của mình.
Ngoài ra, chúng tôi cũng thu thập được hai bài viết tìm hiểu một số
khía cạnh về không gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật trong truyện ngắn
của Nguyễn Ngọc Tư. Đó là bài viết “Không gian sông nước trong truyện
ngắn của Nguyễn Ngọc Tư” của Thụy Khuê và bài viết “Thời gian huyền
thoại trong truyện ngắn “Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư” của Mai
Hồng cùng được đăng trên trang web “Viet-studies”. Nhìn chung, Thụy Khuê
thống nhất ý kiến cho rằng Nguyễn Ngọc Tư đã xây dựng được một không
gian Nam Bộ với ruộng đồng sông nước đặc sắc trong tác phẩm của mình,
góp phần to lớn vào việc phục vụ cho ý đồ nghệ thuật của tác giả. Việc chỉ ra
kiểu thời gian huyền thoại trong truyện ngắn “Cánh đồng bất tận” cũng là
một góc nhìn mới lạ của Mai Hồng trong việc tìm hiểu về truyện ngắn

Thanh Niên, Người lao động, Tiền Phong, Công an nhân dân…và chúng tôi còn
tham khảo trên các diễn đàn văn học, blog cá nhân của tác giả và những nhà văn,
nhà nghiên cứu khác để có thêm tư liệu. Không thể nói tư liệu về Nguyễn Ngọc
Tư ít ỏi, nhưng trước sự đa dạng của các ý kiến cũng như các nguồn tư liệu,
chúng tôi buộc phải cân nhắc khách quan để “gạn lọc” mong để tìm ra những tư
liệu, những bài viết có giá trị nhằm phục vụ tốt cho luận văn này.
Ngoài ra đã có nhiều luận văn nghiên cứu tác phẩm Nguyễn Ngọc Tư
như: Đặc điểm truyện ngắn hai cây bút nữ Phan Thị Vàng Anh và Nguyễn
Ngọc Tư (Ngô Thị Diễm Hồng); Quan niệm nghệ thuật về con người trong
truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư (Phạm Thái Lê); Thế giới nhân vật trong truyện
ngắn Nguyễn Ngọc Tư (Lê Hồng Tuyến); Nguyễn Ngọc Tư và Đỗ Bích Thúy
nhìn từ phương diện văn học - văn hóa (Dương Thị Kim Thoa); Thế giới nghệ
thuật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư (Nguyễn Thị Kiều Oanh) Chúng
tôi có kế thừa một số kết quả của các luận văn này.
Chúng tôi nhận thấy chưa có một luận văn, luận án nào nghiên cứu toàn
diện phong cách truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, do vậy, chúng tôi đã tìm được
khoảng trống để thực hiện đề tài này. Các công trình nghiên cứu của những

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
8
người đi trước sẽ là gợi dẫn bổ ích và quý báu cho chúng tôi tiếp cận và triển
khai đề tài.
3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng
Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư đã xuất bản gồm:
1. “Ngọn đèn không tắt” (Tập truyện - NXB Trẻ - 2000)
2. “Ông ngoại” (Tập truyện thiếu nhi - NXB Trẻ - 2001)

nhân vật, ngôn ngữ, nghệ thuật kể chuyện. Vì vậy, chúng tôi đi vào phong
cách nghệ thuật Nguyễn Ngọc Tư trong truyện ngắn ở ba phương diện: cơ sở
văn hóa hình thành phong cách nghệ thuật Nguyễn Ngọc Tư; nhân vật “con
người đời thường” và cái nhìn nhân ái về con người của Nguyễn Ngọc Tư;
đặc sắc trong nghệ thuật kể chuyện và sử dụng ngôn ngữ.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi chủ yếu phối hợp sử dụng những
phương pháp sau:
4.1. Phương pháp phân tích.
Đi vào phong cách nghệ thuật của một tác giả, luận văn sử dụng
phương pháp phân tích tác phẩm để tìm ra các đặc điểm riêng có giá trị, ý
nghĩa của tác phẩm ở các cấp độ khác nhau, từ đó làm sáng tỏ những luận
điểm của luận văn.
4.2. Phương pháp tổng hợp - so sánh.
Để thấy được phong cách riêng của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư cũng như
sự đóng góp của Nguyễn Ngọc Tư cho nền văn học Việt Nam đương đại,
trong quá trình nghiên cứu người viết có tiến hành so sánh đối chiếu Nguyễn
Ngọc Tư với một số cây bút truyện ngắn khác nhất là một số nhà văn nữ cùng
thế hệ như: Phan Thị Vàng Anh, Đỗ Bích Thúy, Nguyễn Thị Thu Huệ, Y
Ban,…ở từng vấn đề có liên quan để thấy được những nét tương đồng và dị
biệt, từ đó thấy rõ hơn đặc điểm truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư.
4.3. Phương pháp nghiên cứu lịch sử.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
10
Chúng tôi đặt Nguyễn Ngọc Tư vào bối cảnh lịch sử để nghiên cứu.
Những giá trị truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư được đánh giá trong mối

KHÁI NIỆM PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT
VÀ CƠ SỞ XÃ HỘI VĂN HÓA HÌNH THÀNH PHONG CÁCH
NGUYỄN NGỌC TƢ

1.1. Lý luận về phong cách
1.1.1. Phong cách là gì?
Ở phương Tây, ngay từ thời cổ đại, với các đại biểu xuất sắc như
Platon, Aristore, khái niệm phong cách đã được nêu lên, cho đến thế kỉ XIX,
đặc biệt là thế kỉ XX, khái niệm phong cách ngày càng được quan tâm sâu
sắc. Chỉ ngay ở Liên Xô, viện sỹ M.B Khrapchenko trong cuốn Cá tính sáng
tạo của nhà văn và sự phát triển văn học đã thống kê tới gần 20 cách hiểu
khác nhau về phong cách. Ngoài ra còn phải kể đến công trình của V. V.
Vinôgrađôp, của D. X. Likhatsep các công trình của M.B Khrapchenko
Trong lý luận văn học phương Đông cách nói Văn ư kỳ nhân (Văn tức
là người), cũng là nhằm nói đến phong cách văn học, nó tương tự như cách
nói ở phương Tây “Le style, c‟est l‟homme?”
Cụ thể, Trung Quốc, cách thời đại chúng ta gần 1.500 năm, Lưu Hiệp
trong Văn tâm điêu long đã có hai chương bàn luận rộng rãi những vấn đề liên
quan đến sáng tác văn chương và tác giả: trong 49 chương trình bày lý luận cơ
bản về sáng tác, phê bình, phần thứ 3 bao gồm 24 chương cuối, tác giả bàn về
phong cốt, tình thái
Ở nước ta, tuy muộn màng hơn, nhưng những năm gần đây, các nhà lý
luận nghiên cứu văn học đã dành nhiều công sức tìm hiểu vấn đề phong cách.
Từ những sách công cụ như: Từ điển thuật ngữ văn học do Lê Bá Hán - Trần
Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi chủ biên. Các nhà lý luận, nghiên cứu văn học
nước ta cũng đã bỏ nhiều công sức nghiên cứu nội hàm thuật ngữ phong cách.
Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi trong cuốn Từ điển thuật ngữ
văn học trên cơ sở thừa nhận hai phạm trù phong cách ngôn ngữ và phong

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

qua cái nhìn, qua cách cảm nhận thế giới độc đáo của nhà văn (phong cách chỉ
biểu hiện ở nội dung).

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13
(3) Phong cách biểu hiện cả ở nội dung, cả ở hình thức của tác phẩm.
(4) Phong cách biểu hiện thành những đặc điểm hình thức nhưng những
đặc điểm này có nguồn gốc trong ý thức nghệ thuật của nhà văn, tức là hình
thức có tính nội dung.
Chúng tôi nghiêng theo quan niệm thứ (4): “Tổng thể thẩm mỹ của tất
cả các phương diện và các yếu tố của tác phẩm làm nên một sự đặc sắc nhất
định.” Phong cách không phải là một yếu tố mà là một đặc tính của hình thức
nghệ thuật, nên nó không bị định vị (chẳng hạn như các yếu tố cốt truyện hay
chi tiết nghệ thuật), nó dường như tán phát trong toàn bộ cấu trúc hình thức.
Do vậy, nguyên tắc tổ chức của phong cách được thể hiện trong mọi khúc
đoạn văn bản, mỗi “điểm” văn bản đều mang trên mình dấu ấn của toàn thể.
Nhờ đó, ta nhận ra phong cách qua các khúc đoạn riêng lẻ: người đọc thành
thạo chỉ cần đọc một đoạn văn nhỏ trong tác phẩm của một nhà văn cũng đủ
tự tin gọi tên tác giả của nó” [Bản dịch của Trịnh Bá Đĩnh, từ cuốn Bách
khoa toàn thư văn học: các khái niệm và thuật ngữ, Viện Thông tin các
khoa học xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học Nga, Moskva, 2001, tr 1031]. Theo
đó, phong cách chủ yếu được nhận diện qua các yếu tố hình thức mang tính
nội dung. Tuy nhiên, phong cách không chỉ là hình thức, nó còn bắt rễ sang
bình diện nội dung.
Trong luận văn này của mình, chúng tôi tập trung vào những nguyên
tắc nghệ thuật, những kiểu lựa chọn riêng trong các yếu tố cấu trúc phong
cách (cách xử lí, thế giới hình tượng, cốt truyện và ngôn ngữ…) để gọi tên

Việc giao thương của vùng cũng mang đặc thù sông nước. Từ xưa, các
trung tâm giao thương lớn của vùng đều được hình thành ven bờ sông rạch,
thuận lợi cho việc vận chuyển hàng hoá: Nông Nại Đại phố, Mỹ Tho Đại phố,
Sài Gòn, Cần Thơ Đặc biệt ở miền Tây còn có các chợ nổi mà toàn bộ hoạt
động đều diễn ra trên sông nước. Chợ nổi Long Xuyên (An Giang) là nơi
hàng trăm ghe xuồng tụ tập để buôn bán hàng hoá nông sản như bánh canh

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15
ngọt, lạt, bánh tầm, bánh bò, hủ tiếu, chè đậu đỏ, cà phê Chợ nổi Cái
Răng (Cần Thơ) tụ họp hàng trăm ghe từ tờ mờ sáng, bán đủ loại sản phẩm
miệt vườn được treo trên một cây sào cắm trước mũi ghe gọi là "cây bẹo".
Người mua chỉ cần nhìn vào "cây bẹo" là biết ngay ghe bán thứ gì. Tương tự
là chợ nổi Cái Bè (Tiền Giang), chợ nổi Phụng Hiệp (Hậu Giang) Là nơi
"dân thương hồ" lui tới mưu sinh, chợ nổi đã trở thành một nét sinh hoạt văn
hoá rất đặc thù của miền Tây sông nước, và được ngành du lịch khai thác như
một sản phẩm du lịch độc đáo dành cho du khách.
Chúng ta cũng nói về một thú vui tinh thần rất quen thuộc của người
dân Nam Bộ, đó là xem hát bội, sau này với những cách tân được gọi là hát
cải lương. Theo cuốn “Cá tính miền Nam” của nhà văn Sơn Nam, “nếu năm
1906 tạm được xem là khởi điểm cho phong trào nói thơ, nói truyện lần hồi
lan rộng trong giới bình dân thì đó cũng là năm khởi điểm cho phong trào đờn
ca tài tử” cải lương. Đờn ca tài tử đã sống cùng với người dân Nam Bộ hơn
một thế kỷ nay và đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống tinh
thần của người dân vùng sông nước chín rồng. Ta biết ngay chính nhà văn Lý
Văn Sâm khi còn trẻ cũng đã từng mơ trở thành một soạn giả, ông cũng đã
viết một số vở cải lương và rất thần tượng nhà viết kịch Trần Hữu Trang. Cải

hết mình” vì người khác. (Thật ra về những những nét tính cách này của
người Nam Bộ, không phải người Việt Nam sống trên các vùng, miền khác
không có, nhưng ở đây chúng tôi muốn nhấn mạnh đến những nét nổi trội và
ưu thế nhất góp phần làm nên cá tính riêng của con người ở mỗi vùng,
miền…trên lãnh thổ ta mà thôi). Bên cạnh đó, người Nam Bộ trong suy nghĩ
và lời nói cũng thể hiện một cái gì đó rất bộc trực và thẳng thắn. Nói như nhà
văn Sơn Nam đó là “tinh thần phóng khoáng thực tế, ghét những lí luận
quanh co. Cứ nói thẳng để xem chuyện đó ra sao. Muốn gì thì nói phứt nó ra.
Họ ghét những cuộc tranh luận về lí thuyết chính trị hoặc lí thuyết siêu hình,
và có thành kiến cho rằng kẻ dùng quá nhiều lí luận là “lẻo mép”, gian xảo.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
17
Họ thích nói chuyện vui, chuyện có đầu có đuôi, những giai thoại khôi hài.
Nói “lí luận” là “buồn ngủ”. Nói chuyện quanh co là kém thành thật” [4].
Người Nam Bộ, vì thế, trong giao tiếp ứng xử có người cho rằng họ nói
chuyện có khi “bụm miệng không kịp” vì chuyện gì cũng “huỵt tẹt” cũng
“bốp chát”, “rổn rảng”, “có sao nói vậy”… điều này đã góp phần hình thành
nên một thứ ngôn ngữ rất đặc trưng trong giao tiếp, nói năng của người Nam
Bộ. Những tính cách này của người Nam Bộ không thể nói là không có ảnh
hưởng đến văn Nguyễn Ngọc Tư. Cả về nhân vật, giọng văn, ngôn từ…trong
truyện Nguyễn Ngọc Tư dễ thấy bóng dáng “tính cách Nam Bộ”.
Nguyễn Ngọc Tư, ngay từ những trang viết đầu tiên, người đọc đã cảm
nhận được đây là nhà văn có giọng điệu Nam Bộ đặc sệt. Có nhà văn đã từng
nhận xét: “Văn của Ngọc Tư mang đậm chất Nam Bộ: hồn hậu, hào sảng.
Văn hóa tiểu vùng khác nhau, thì sản sinh những chất văn khác nhau, sản sinh
ra những tác giả khác nhau. Ở Bắc Hà không sinh ra văn của Ngọc Tư được,

Như vậy, có thể nói do được sống và lớn lên trên mảnh đất Nam Bộ,
những nét tính cách trong văn hóa ứng xử cũng như ngôn ngữ của cha ông đã
ăn sâu vào tiềm thức của Nguyễn Ngọc Tư. Vì thế, khi sáng tác, những nét văn
hóa “rặt Nam Bộ” ấy đã đi vào trang viết của chị một cách tự nhiên như một
điều tất yếu không thể nào khác được. Nó cũng là một phần làm nên sức hấp
dẫn của các tác phẩm Nguyễn Ngọc Tư, tính truyền thống, giản dị, hồn hậu
nhưng có bản sắc rất riêng là điều ai cũng thấy ở truyện Nguyễn Ngọc Tư.
1.2.2. Trong “đội ngũ” các nhà văn Nam Bộ
Nguyễn Ngọc Tư thuộc vào số các nhà văn Nam Bộ. Các sáng tác của
họ hấp dẫn chị, và trong môi trường văn học ấy chị cũng có vị trí riêng của
mình. Ở đây lướt qua mấy nét về đội ngũ các nhà văn Nam Bộ, các nhà văn
thuộc một vùng văn hóa, văn học là những con chim bay ra từ cùng một tổ. Ở
phần này chúng tôi đề cập đến vài nét của phong cách văn học Nam Bộ tiêu
biểu qua Bình Nguyên Lộc, Nguyễn Quang Sáng và Sơn Nam.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
19
Thổ ngơi, mùi vị, cuộc sống, nếp sinh hoạt của vùng đồng bằng sông
Đồng Nai, sông Cửu Long là đề tài, là nguồn cảm hứng dường như không
bao giờ cạn cho những trang viết của Bình Nguyên Lộc, một nhà văn Nam Bộ
tiêu biểu. Ông từng nói: "Văn tôi bắt nguồn từ những cảnh đẹp với quê hương
và xuất phát từ lòng nhớ nhung tha thiết của tôi với nó " Tình cảm và "lòng
nhớ nhung tha thiết" mà nhà văn nhắc đến ấy còn là nguyên nhân để văn
chương ông hướng đến việc lưu giữ hình ảnh con người và những giá trị văn
hoá vùng đồng bằng Nam Bộ trong dòng chảy mải miết của thời gian.
Bình Nguyên Lộc hay viết về người nông dân nghèo gắn bó mật thiết
với mảnh đất, căn nhà lâu đời của mình. Nếu họ có lìa xa quê hương ra thành


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status