Lun vn thc s
Ngô Thị Hồng Thuý
1
B GIO DC V O TO
TRNG I HC S PHM H NI 2
NGễ TH HNG THUí
Nghiên cứu tách chiết và đặc tính sinh dợc
học của một số hợp chất tự nhiên từ CÂY MĂNG
CụT (
garcinia mangostana
L.) LUN VN THC S SINH HC
Theo thống kê của Liên đoàn Đái tháo đường quốc tế (1991), tỷ lệ người thừa cân
và béo phì ở một số nước Châu Á như sau: Thái Lan 3,58%, Philipin 4,27%,
Malaysia 3,01%, Nam Triều Tiên 2,08%, Đài Loan 1,6%, Hồng Kông 3% [2], [16],
[22]. Theo điều tra mới nhất của Viện Dinh dưỡng cho thấy tình trạng thừa cân
(2007), béo phì ở người Việt Nam đang tăng nhanh, trong đó tỷ lệ béo phì ở người
trưởng thành, từ 25-64 tuổi, lên tới 16,8% [8]. Bệnh béo phì cũng là một trong các
nguyên nhân gây ra các biến chứng về tim mạch, đái tháo đường, mỡ máu, đột
quỵ…đã và đang ngày càng gia tăng, thậm chí xuất hiện ở cả trẻ em của các thành
phố công nghiệp.
Hiện nay, chi phí điều trị bệnh béo phì và các bệnh biến chứng bằng thuốc
tân dược rất tốn kém, ví dụ ở Hoa Kỳ trong năm 1997 chi phí cho điều trị bệnh béo
phì là 47,6 tỉ đô la [2], [39]. Hơn nữa các loại thuốc tân dược được dùng hiện nay
trên thị trường thường gây nhiều phản ứng phụ có thể gây nguy hại cho sức khoẻ,
và giá thành rất đắt. Trong những năm gần đây có nhiều công trình nghiên cứu về
sử dụng các hợp chất tự nhiên từ cây cỏ để chữa bệnh béo phì và đái tháo đường, Luận văn thạc sỹ
Ng« ThÞ Hång Thuý
3
các loại thuốc dược liệu từ cây cỏ thường ít gây ra tác dụng phụ, đồng thời tác dụng
của thuốc có hiệu quả kéo dài [6], [12], [15], [24], [28], [41], [42].
Việt Nam có hệ thực vật vô cùng phong phú và đa dạng, trong đó có nhiều
loài chứa các hợp chất có hoạt tính sinh học cao có tác dụng chữa bệnh. Trong kinh
nghiệm dân gian người Việt ta đã biết sử dụng cỏ cây, nguồn thảo dược tự nhiên để
chữa bệnh, bảo vệ sức khoẻ. Tuy nhiên, các hợp chất tự nhiên từ các cây thuốc cổ
truyền dân tộc chống béo phì và một số bệnh biến chứng rối loạn trao đổi chất như
đái tháo đường, tim mạch… mặc dù rất phong phú ở nước ta nhưng chưa được khai
thác và nghiên cứu đầy đủ về cơ chế hoá sinh và dược lý.
) của một số phân đoạn dịch
chiết vỏ quả và lá măng cụt lên chuột béo phì thực nghiệm bằng đường uống.
- Nghiên cứu đáp ứng trao đổi lipid – glucid (biểu hiện LDL
C
, VLDL
C
,
triglycerid, cholesterol, glucose máu…) và đáp ứng protein miễn dịch của chuột
béo phì thực nghiệm trước và sau khi được xử lý dịch chiết vỏ quả và lá măng cụt.
4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu.
4.1. Đối tượng nghiên cứu
4.1.1. Mẫu thực vật
- Lá măng cụt (Garcinia mangostana L.)
- Vỏ quả măng cụt (Garcinia mangostana L.)
4.1.2. Mẫu động vật
Chuột nhắt trắng 4 tuần tuổi, cân nặng từ 14 – 16 g (Mus musculus chủng
Swiss) được mua của Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương.
4.1.3. Mẫu vi sinh vật
- Vi khuẩn Gr âm: E. coli, Salmonella typhi
- Vi khuẩn Gr dương: Bacillus subtilis, Staphylococcus aureus
4.2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu tách chiết và đặc tính sinh dược học của một số phân đoạn dịch
chiết (cao ethanol, cao n- hexan, cao chloroform, cao ethyl acetat) của vỏ quả và lá
măng cụt, tác dụng chống rối loạn trao đổi lipid – glucid trên mô hình chuột gây béo
phì thực nghiệm và tác dụng kháng một số chủng vi sinh vật.
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Khảo sát sơ bộ thành phần hoá học của cây măng cụt bằng các phản ứng hoá
học đặc trưng
- Thử định tính flovanoid
- Thử định tính tannin
quả và lá măng cụt có tác dụng chống rối loạn trao đổi lipid – glucid trên mô hình
chuột béo phì và khả năng kháng khuẩn Gr (-), Gr (+) gây ngộ độc thực phẩm.
Luận văn thạc sỹ
Ng« ThÞ Hång Thuý
6
NỘI DUNG
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Các hợp chất phenol và polyphenol
1.1.1. Cấu tạo hóa học và phân loại
Hợp chất phenol là nhóm các hợp chất hóa học mà trong công thức hóa học
có chứa nhóm chức hydroxyl (-OH) gắn với vòng hydrocacbon thơm. Các hợp chất
này phổ biến trong giới thực vật. Nhóm hydroxyl là nhóm phản ứng chủ yếu của các
phenol. Tùy thuộc vào số lượng và vị trí tương hỗ của các nhóm này mà các tính
chất lý hóa hoặc hoạt tính sinh học thay đổi [34].
Dựa theo số lượng nhóm hydroxyl mà người ta phân biệt thành phenol một,
hai, ba và polyphenol. Polyphenol thực vật có thể phân chia thành flavonoid, axit
phenolic và tannin…
cholesterol xấu, tái chế α-tocopherol đã bị oxy hóa và loại bỏ các ion kim loại.
- Các flavonoid như flavonol và antoxyan có vai trò trong việc điều chỉnh sự
phân bố năng lượng ánh sáng ở lá cây, làm tăng hiệu quả quang hợp. Một số hợp
chất polyphenol tạo ra màu sắc tự nhiên của hoa quả nhằm hấp dẫn động vật thụ
phấn cho hoa.
1.1.3. Một số polyphenol quan trọng trong thực vật
1.1.3.1. Flavonoid thực vật [16], [17], [26].
Trong số các chất polyphenol tự nhiên, flavonoid là nhóm chất quan trọng vì
chúng có phổ biến ở hầu hết các loài thực vật và có nhiều hoạt tính sinh dược học
có giá trị.
Flavonoid là những sắc tố, phần lớn có màu vàng, dễ tan trong nước, nên có
tên là “flavonoid” (flavus có nghĩa là màu vàng). Tuy nhiên một số sắc tố xanh, đỏ,
tím hoặc không màu cũng được xếp vào nhóm flavonoid vì có chung đặc điểm cấu
tạo hóa học.
a. Đặc điểm cấu tạo hoá học của flavonoid
Flavonoid có cấu trúc chung là C
6
-C
3
-C
6
, gồm hai vòng thơm benzen A, B và
dị vòng-pyranC, trong đó vòng A kết hợp với vòng C tạo thành khung chroman. Luận văn thạc sỹ
Ng« ThÞ Hång Thuý
8
3
O
4
A B C
Hình 1.2. Cấu trúc chung của flavonoid(A), izoflavonoid(B) và neoflavonoid(C)
* flavonoid:
Trong thực vật flavonoid tồn tại ở hai dạng: dạng tự do (aglycon) và dạng
liên kết (glycozit). Glycozit bị thủy phân bằng axit hoặc bazơ sẽ giải phóng đường
và aglycon.
Ví dụ: Rutin Quecetin + Glucose + Rhamnoza
Có khoảng 4000 hợp chất flavonoid đã được biết đến. Tùy theo mức độ oxy
hóa của mạch 3 cacbon, sự có mặt hay không có mặt của nối đôi giữa C
2
và C
3
,
nhóm cacbonyl ở C
4
mà có thể phân flavonoid thành các nhóm phụ sau:
- Flavan: không có nối đôi ở C
2
= C
3
, không có nhóm cacbonyl ở C
4
, không
có nhóm hyđroxyl ở C
3
O
O
O H
O
O H
H O
Flavon Luteolin
Các flavon có quang phổ hấp thụ cực đại ở vùng 320-350nm.
- Flavonol: Có nối đôi ở C
2
= C
3
, có nhóm cacbonyl ở C
4
, có nhóm hyđroxyl
ở C
3
(ví dụ: quecetin, myricetin).
O
O
O H
Flavonol (3- hidroxi flavon)
Quang phổ hấp thụ cực đại của flavonol nằm ở vùng 340-380nm.
Flavon và flavonol rất phổ biến trong tự nhiên, trong thực vật flavon và
flavonol không tồn tại dưới dạng tự do mà dưới dạng glycoside.
- Flavanon: Không có nối đôi giữa C
2
= C
O
O
O H
H
O H
O
Fla v a n o n
C h alc ol
-
+
- Flavanonol-3: không có nối đôi giữa C
2
và C
3
, không có nhóm cacbonyl
ở vị trí C
4
, có nhóm hyđroxyl ở vị trí C
3
.
Người ta đã biết đến khoảng 30 hợp chất thuộc nhóm này, phần lớn chúng ở
dạng aglycon chỉ có vài chất ở dạng glycoside. Flavanonol-3 có 2 nguyên tử cacbon
bất đối là C
2
và C
3
nên chúng có tính quang hoạt. Các hợp chất flavanonol-3 thường
gặp là aromadendrin, fustin và taxifolin.
,
2
,
3
,
4
,
5
,
6
,
Hiện nay, người ta đã biết đến khoảng 20 hợp chất chalcol. Chalcol có thể bị
đồng phân hoá thành flavanon khi đun nóng với acid chlohydric (HCl). Luận văn thạc sỹ
Ng« ThÞ Hång Thuý
11
+ Auron: là hợp chất có vòng cacbon là một dị vòng 5 cạnh. Công thức cấu
tạo chung của nhóm auron là:
O
C H
O
A u r o n
A
C
B
đối, vì vậy chúng tồn tại ở các dạng đồng phân quang học khác nhau.
O
H O
O H
O H
R
O H
*
*
L e u c o a n t o x y a n i n d i n
*
O H
R
2
1
- Các glycoside của flavonoid: Luận văn thạc sỹ
Ng« ThÞ Hång Thuý
12
O
H O
O H
O - R h a m n o z a - g l u c o z a
O H
O H
O
O H
O
A m e n t o f l a v o n
* Isoflavonoid: bao gồm các dẫn xuất của 3 – phenyl chroman, được chia
thành các nhóm nhỏ sau: Luận văn thạc sỹ
Ng« ThÞ Hång Thuý
13
O
O
R O
O
O
O R
O
O
- P h e n yl c hr o m a n
Is o f l a v o n
I s o fl a v a n o n
3
* Rotenoid và neoflavonoid
Công thức chung của rotenoid như sau:
Ng« ThÞ Hång Thuý
14
xơ vữa động mạch in vivo, kết quả cho thấy chất này ức chế sự phát triển bệnh xơ
vữa động mạch ở thỏ ăn cholesterol.
* Tác dụng chống oxy hóa [23]
Flavonoid có khả năng kìm hãm các quá trình oxy hóa dây chuyền sinh ra
bởi gốc tự do hoạt động. Tuy nhiên hoạt tính này thể hiện mạnh hay yếu phụ thuộc
vào đặc điểm cấu tạo hóa học của từng chất flavonoid cụ thể. Do bản chất cấu tạo
polyphenol nên flavonoid ở trong tế bào thực vật hoặc trong cơ thể động vật chịu
tác động của các biến đổi oxy hóa khử, bị oxy hóa từng bước và tồn tại ở các
dạng hydroxyl semiquinon quinon. Những flavonoid có các nhóm hydroxyl
sắp xếp ở vị trí octo dễ dàng bị oxy hóa dưới tác dụng của các enzym
polyphenoloxydaza và peroxydaza có trong tế bào động vật, thực vật, phản ứng như
sau:
O
2
+ Flavonoid (khử) Flavonoid (oxy hóa)
(Hydroquinon) (Semiquinon hoặc quinon)
H
2
O
2
+ Flavonoid (khử) Flavonoid (oxy hóa)
(Hydroquinon) (Semiquinon hoặc quinon)
Semiquinon hoặc quinon là những gốc tự do bền vững, gọi là gốc phenoxy,
ký hiệu là A
r
O*, chúng có thể nhận điện tử và hydro từ chất cho khác nhau để trở
lại dạng hydroquinon. Các chất này có khả năng phản ứng với các gốc tự do hoạt
động sinh ra trong quá trình sinh lý và bệnh lý để triệt tiêu chúng.
2+
, Cu
2+
… hoạt hoá enzim chống
oxy hóa, làm ức chế oxydaza
Với tính chất chống oxy hóa, flavonoid đã thể hiện tác dụng bảo vệ chức
năng gan tích cực. Flavonoid đóng vai trò chủ yếu trong những liệu pháp phức tạp
để điều trị viêm gan cấp, mãn tính và xơ gan. Chúng giúp bảo toàn hoạt độ các
enzym có chức năng tạo cầu nối pentoza, các enzym của chu trình axit tricacboxylic
và của quá trình β-oxy hóa các axit béo trong gan, tăng cường chức năng chống độc
của gan, ngăn chặn sự phân hủy phospholipid do phospholipaza A gây ra, ngăn cản
sự nhiễm mỡ gan và hoại tử mô gan.
* Tác dụng với các enzym [34]
Các hợp chất phenol nói chung và flavonoid nói riêng có thể tương tác với
các protein, phản ứng ấy thường xảy ra giữa nhóm cacbonyl và hydroxyl của nhóm
peptid hình thành liên kết hydro.
Nhờ có tính chất này mà các flavonoid có thể làm thay đổi nhiều hoạt tính
enzym. Năm 1929, A.I.Oparin và A.L.Kursanop đã phát hiện ra rằng các
polyphenol trong đó có flavonoid có khả năng ức chế nhiều loại enzym nhưng tính
chất này không hoàn toàn đặc hiệu và nó có thể ức chế enzym này nhưng đồng thời
có thể làm tăng hoạt độ của một số enzym khác.
Thông qua tác động lên hoạt tính enzym, một số chất phenol có khả năng
làm tăng hoặc giảm sinh tổng hợp protein ở giai đoạn đầu. Kết quả nghiên cứu của Luận văn thạc sỹ
Ng« ThÞ Hång Thuý
16
nhiều tác giả đã xác nhận một số hợp chất phenol tham gia vào sự điều hòa sinh
Ng« ThÞ Hång Thuý
17
* Khái niệm: Tannin là những hợp chất phenolic rất phổ biến trong thực vật
bậc cao. Horvath (1981) đã đưa ra khái niệm về tannin như sau: “ tannin là những
hợp chất phenolic có trọng lượng phân tử cao, có chứa các nhóm hidroxyl và các
nhóm chức khác (chẳng hạn như nhóm cacbonxyl), có khả năng tạo phức với
protein và các phân tử lớn khác trong điều kiện đặc biệt” [5]
* Cấu tạo hoá học và tính chất: tannin được cấu tạo dựa trên acid tannic và
acid gallic, phổ biến trong cây ở dạng tự do hoặc ở dạng glycoside kết hợp với
đường.
O
O
H O
O H
O H
H O
O H
O H
O H
O H
O H
O H
P r o c y a n i d i n Tannic Acid (C
34
H
2
/
P
BMI kg m
h
Trong đó: P là trọng lượng cơ thể (kg); h là chiều cao
(m)
Chỉ số BMI được WHO thống nhất là một tiêu chuẩn để chẩn đoán mức độ
béo phì và thừa cân. Tuy nhiên tiêu chuẩn này có thay đổi một chút tùy theo các
vùng địa lý ở các châu lục khác nhau. Đối với người trưởng thành Châu Âu, chỉ số
BMI cao hơn so với các vùng khác, chẳng hạn như so với người trưởng thành Việt
Nam (bảng 1.1):
Bảng 1.1. Phân loại BMI của người trưởng thành Châu Âu và Châu Á [2]
Mức độ thể
trọng
BMI
Đánh giá yếu tố nguy cơ bệnh
Châu Âu Châu Á
Nhẹ cân < 18.5 < 18.5
Thấp, nguy cơ suy dinh dưỡng và các
bệnh khác
Bình thường 18.5 - 24.9 18.5-22.9
Bình thường
Quá cân ≥ 25-29.9
23
Nguy cơ tăng cân
4,27%, Malaysia 3,01%, Nam Triều Tiên 2,08%, Đài Loan 1,6%, Hồng Kông 3%
[2].
Ở Việt nam tỉ lệ số người mắc thừa cân và béo phì đang có chiều hướng gia
tăng cùng với sự phát triển của nền kinh tế xã hội. Đây cũng chính là bằng chứng về
nguyên nhân các bệnh huyết áp cao, rối loạn chuyển hóa lipid và đái tháo đường…
đang tăng lên trong những năm gần đây.
Theo Phan Sĩ Quốc, Lê Huy Liệu và cộng sự (1991) điều tra ngẫu nhiên
4.912 người từ 15 tuổi trở lên sống ở hai khu vực nội thành và ngoại thành Hà nội
(1991) cho thấy tỷ lệ mắc bệnh thừa cân và béo phì chung ở Hà nội là 1,1%, trong
nội thành 1,44% và ngoại thành là 0,63% [14]. Luận văn thạc sỹ
Ng« ThÞ Hång Thuý
20
Năm 1997, theo nghiên cứu của Mai Thế Trạch điều tra trên 5.416 người từ
15 tuổi trở lên ở thành phố Hồ Chí Minh, tỷ lệ người thừa cân và béo phì chung là
2,52%.
Năm 2000, sau khi tiến hành điều tra ngẫu nhiên 2.017 người từ 16 tuổi trở
lên sống ở Hà nội, dựa theo tiêu chuẩn chẩn đoán của Tổ chức y tế thế giới năm
1998, Tô Văn Hải và cộng sự đã xác định tỷ lệ người thừa cân và béo phì ở Hà nội
là 2,62%, tăng 2,5 lần trong vòng 10 năm.
Điều tra mới nhất của Viện dinh dưỡng (2007) cho thấy tình trạng thừa cân,
béo phì ở người Việt nam đang tăng nhanh, trong đó tỷ lệ béo phì ở người trưởng
thành (từ 25-64 tuổi) lên tới 16,8%. Theo Viện trưởng Viện Dinh dưỡng Nguyễn
Công Khẩn, kết quả khảo sát cũng cho thấy tình trạng thừa cân, béo phì tăng nhanh
nhất ở lứa tuổi từ 45 trở lên (chiếm 2/3 số người bị thừa cân, béo phì) và tỷ lệ béo
phì ở người dân thành thị cao gấp 3 lần so với nông thôn [8].
1.2.2. Các yếu tố gây tình trạng thừa cân và béo phì
- Nhóm gây kích thích ăn gồm: Norepinephrine, Neuropeptid Y và Agouti
Related protein (AgRP), Ghrelin.
c. Khẩu phần ăn và thói quen ăn uống [2],[ 8]
Khi chế độ ăn cung cấp năng lượng vượt quá nhu cầu, nếp sống làm việc tĩnh
tại, ít tiêu hao năng lượng sẽ làm cân nặng cơ thể tăng lên. Các nghiên cứu cho rằng
chỉ cần ăn dư 70 calo mỗi ngày sẽ dẫn tới tăng cân mặc dù số calo này nhỏ có thể
không nhận ra dễ dàng, nhất là khi ăn những thức ăn giàu năng lượng. Thói quen ăn
nhiều thức ăn giàu lipid, các chất bột, đường, ăn nhiều vào buổi tối…sẽ làm tăng
tích luỹ năng lượng dự trữ dưới dạng triglycerid (mỡ) dẫn tới thừa cân và béo phì.
d. Yếu tố kinh tế xã hội [2]
Ở các nước đang phát triển, tỉ lệ người béo phì ở tầng lớp nghèo thường thấp
(do nguồn cung cấp thực phẩm còn hạn chế, lao động chân tay nặng, phương tiện đi
lại thô sơ) và béo phì được coi là bệnh của người giàu. Ngược lại, ở các nước phát
triển khi thiếu ǎn không còn phổ biến nữa thì tỉ lệ béo phì lại cao ở tầng lớp người
lao động nghèo, ít học so với ở các tầng lớp khá giả hơn do thói quen ăn uống thiếu
khoa học của họ. Luận văn thạc sỹ
Ng« ThÞ Hång Thuý
22
Ở Việt Nam, tỷ lệ người béo tuy còn thấp nhưng đang có khuynh hướng gia
tǎng nhanh ở các đô thị và thành phố lớn. Đây là điều cần được chú ý để có các can
thiệp kịp thời nhằm nâng cao sức khỏe cộng đồng.
1.2.3. Một số chỉ số hóa sinh liên quan đến rối loạn trao đổi chất lipid và glucid.
Lipid là những este của acid béo. Lipid chủ yếu có mặt trong huyết tương là
acid béo, triglycerid, cholesterol và phospholipid. Một số thành phần khác của lipid
có khả năng hòa tan trong huyết tương và có mặt với số lượng ít hơn rất nhiều
nhưng giữ vai trò sinh lý quan trọng, bao gồm các hormon steroid, các vitamin tan
* Triglycerid
Triglycerid trong mô mỡ là nguồn dự trữ năng lượng chủ yếu của cơ thể.
Triglycerid có nguồn gốc ngoại sinh và nội sinh. Khoảng 90% triglycerid trong
huyết tương có nguồn gốc ngoại sinh từ các bữa ăn giàu lipid. Triglycerid nội sinh
được tổng hợp ở gan và mô mỡ. Ở người béo phì, nồng độ acid béo tự do và
triglycerid trong máu tăng cao gây ra hiện tượng “nhiễm độc mỡ”, có thể gây chết
cho tế bào không phải là tế bào mỡ (trong đó có tế bào β tuyến tuỵ) [2], [33].
1.2.4. Rối loạn lipid máu và thuốc điều trị [12]
Người ta nhận thấy có mối tương quan thuận giữa mức tiêu thụ chất béo bão
hòa với nồng độ cholesterol máu: người có thói quen ăn nhiều mỡ có hàm lượng
cholesterol máu cao hơn người có thói quen ăn ít mỡ, đồng thời tỷ lệ người mắc
bệnh lý liên quan tới tăng lipid máu như xơ vữa động mạch, bệnh tim mạch…cũng
cao hơn.
Năm 1965, Fredrickson căn cứ vào kỹ thuật điện di và siêu ly tâm đối với
các thành phần lipid huyết thanh đã phân hội chứng tăng lipid máu làm 5 type dựa
trên những thay đổi của thành phần lipid (bảng 1.2). Bảng phân loại này trở thành
phân loại quốc tế của WHO từ năm 1970.
Bảng 1.2. Phân loại rối loạn lipid máu theo Fredickson [12]
Týp I IIa IIb III IV V
Cholesterol
/
Triglycerid
Lipoprotein
LDL
C
thuốc để điều trị các rối loạn lipid máu. Dựa vào tác dụng hạ lipid máu, thuốc tân
dược được chia làm hai nhóm chính sau:
Nhóm thuốc làm giảm hấp thu và tăng thải trừ lipid: Cholestyramin,
colestipol, neomycin… là những thuốc có tính hấp thu mạnh, tạo phức hợp với acid
mật, làm giảm quá trình nhũ hóa lipid ở ruột, dẫn đến sự giảm hấp thu và tăng đào
thải lipid qua phân. Ngoài ra, chúng còn có tác dụng tăng số lượng và hoạt tính của
receptor LDL
C
ở màng tế bào.
Nhóm thuốc ảnh hưởng đến sinh tổng hợp lipid: gồm dẫn xuất của acid
fibric, dẫn xuất của statin, acid nicotinic… Nhóm fibrat giảm vận chuyển acid béo
về gan, giảm tổng hợp và giảm sự oxy hóa LDL
C
, thuốc còn có tác dụng giảm sự
kết tập của tiểu cầu, giảm fibrinogen và giảm acid uric máu. Nhóm statin là loại
thuốc ức chế cạnh tranh với enzym HMG-CoA reductase, dẫn đến ức chế sự tổng
hợp cholesterol ở tế bào gan, tăng receptor LDL
C
và tăng thoái hóa LDL
C
.
Một số thuốc từ nguồn thảo dược (nghệ, ngưu tất…) cũng có tác dụng trên sự
rối loạn lipid máu. Mỗi nhóm có cơ chế tác động riêng của nó. Naringin, flavonoid
có nhiều trong các loài Citrus có tác dụng giảm cholesterol và triglycerid trong máu
chuột gây béo phì thực nghiệm.
1.2.5. Bệnh lý phát sinh do béo phì và chiến lược điều trị
Bệnh béo phì là một trong những nguyên nhân quan trọng gây rối loạn trao
đổi chất lipid và glucid ở người trưởng thành thậm chí cả ở những trẻ em chưa đến
tuổi trưởng thành. Trong các năm 1991, Porter và Banks đã công bố các nghiên cứu
- Phẫu thuật giảm cân: áp dụng với các bệnh nhân có BMI > 35, kèm theo
các bệnh lý và rối loạn liên quan. Kết quả mang lại từ phẫu thuật là rất lớn, tuy
nhiên nó cũng gây ra nhiều tác dụng phụ như suy nhược, khô da, rụng tóc tạm
thời…