1
Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học s phạm hà nội 2
Phạm thu minh
Thế giới nhân vật trong tiểu
thuyết lê lựu thời kỳ đổi mới luận văn thạc sĩ văn HọC
Hà nội, 2010
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Mục lục
Bảng Kí hiệu các chữ viết tắtMở đầu
1
1. Lý do chọn đề tài
1
2. Lịch sử vấn đề
3
3. Mục đích nghiên cứu
9
4. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
9
4.1. Đối tợng nghiên cứu
9
4.2. Phạm vi nghiên cứu
9
5. Phơng pháp nghiên cứu
9
5.1. Phơng pháp thống kê - phân loại
9
5.2. Phơng pháp phân tích
10
5.3. Phơng pháp so sánh
10
28
2.2. Vài nét về nhân vật tiểu thuyết và nhân vật trong văn học Việt Nam
thời kì đổi mới
30
2.2.1. Vài nét về nhân vật tiểu thuyết
30
2.2.2. Nhân vật trong văn học Việt Nam thời kì đổi mới 33
2.3. Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết của Lê Lựu thời kì đổi mới 36
2.3.1. Nhân vật bi kịch 36
2.3.2. Nhân vật tha hóa biến chất 42
2.3.3. Nhân vật hớng thiện 48
2.3.4. Nhân vật lỡng hóa 52
2.3.5. Nhân vật đám đông
56
Chơng 3: Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết của Lê Lựu
thời kỳ đổi mới
63
3.1. Nghệ thuật khắc họa tâm lý nhân vật 63
3.2. Nghệ thuật miêu tả tính cách và số phận nhân vật 72
3.3. Ngôn ngữ nghệ thuật 77
3.3.1. Ngôn ngữ đối thoại 78
3.3.2. Ngôn ngữ độc thoại 83
KếT LUậN
93
Danh mục các công trình của tác giả
95
Danh mục các tài liệu tham khảo
96
6
thuyết tiềm ẩn trong t duy sáng tạo của ông. Và không phải ngẫu nhiên sau đó Lê
Lựu lần luợt trình diện làng văn các tiểu thuyết: Mở rừng (1977), Ranh giới (1979).
Phải đến Thời xa vắng thì vị thế của Lê Lựu trong làng văn mới thực sự đợc
khẳng định một cách chắc chắn. Tác phẩm đợc giải A của Hội nhà văn Việt Nam
năm 1986. Đây không chỉ là tác phẩm để đời trong sự nghiệp văn chơng của nhà
văn mà còn là tác phẩm có ý nghĩa tiền trạm trong tiến trình đổi mới văn xuôi Việt
Nam sau 1975.
Sau tiểu thuyết Thời xa vắng (1986), Lê Lựu tiếp tục cho ra đời: Đại tá không
biết đùa (1989), Chuyện làng Cuội (1993), Sóng ở đáy sông (1994), Hai nhà
(2000). Trong đó tiểu thuyết Sóng ở đáy sông đã đợc chuyển thành phim nhựa
cùng tên.
Ngoài t cách một nhà văn, Lê Lựu còn là một nhà báo có tài. Những bút kí
của ông viết về nớc Mỹ: Một thời lầm lỗi (1989), Trở lại nớc Mỹ (1990) đã thực
sự đem đến cho bạn đọc những trang viết sắc sảo, sinh động và cuốn hút.
Với các thể loại truyện ngắn, truyện vừa, ký, tiểu thuyết Lê Lựu đều gặt hái
đợc những thành công nhất định, đặc biệt với các tiểu thuyết sáng tác trong thời kì
đổi mới. Năm 2001, Lê Lựu là một trong số hiếm hoi những nhà văn của thế hệ
chống Mỹ, vinh dự đợc nhận giải thởng Nhà nớc với cụm tác phẩm: Ngời cầm
súng, Mở rừng, Thời xa vắng.
Qua những trang viết của ông, có thể nhận ra một t duy văn học hết sức sắc
sảo. Lê Lựu có sở trờng nắm bắt những cái mới, thời sự của cuộc sống đơng đại.
Phần lớn tiểu thuyết của ông đều thể hiện cái nhìn nhạy bén, có nhiều phát hiện đối
với hiện thực. Tác phẩm của Lê Lựu chứa đựng nét độc đáo, mới lạ của một cây bút
tiềm tàng khả năng sáng tạo. Đặc biệt thế giới nhân vật trong tiểu thuyết của Lê Lựu
đã làm nên những dấu ấn riêng cho sáng tác của ông trong việc khám phá hiện thực
và thể hiện con ngời. Việc nghiên cứu về nhân vật trong tiểu thuyết của Lê Lựu có
ý nghĩa quan trọng vừa nhằm nhìn nhận, đánh giá những thành công về một trong
mình nh ông sống. Nói nh nhà thơ Trần Đăng Khoa: Lê Lựu biết cuốn hút ngời
đời bằng thứ văn đọc không nhạt. Ngay cả ở những truyện xoàng xoàng, ngời đọc
vẫn thu lợm đợc một cái gì đó (). Nghĩa là đọc anh không bị lỗ trắng. Cũng bởi
Lê Lựu là nhà văn không chấp nhận sự nhạt nhẽo tầm thờng. Dù ở bất cứ tác phẩm
nào dù lớn hay nhỏ Lê Lựu cũng có vấn đề gì đấy gửi gắm [70].
Tác giả Lê Hồng Lâm chỉ rõ: Quyết liệt - có thể gọi tên cái tính cách đó của
nhà văn Lê Lựu trong cuộc sống đời thờng cũng nh khi ông thể hiện nó trên trang
viết (). Ông luôn viết hết mình nh Ông sống, yêu ghét rạch ròi và đặc biệt đi đến
tận cùng tính cách của nhân vật. [42].
Song điều đáng chú ý đối với ngòi bút Lê Lựu ở giai đoạn này là khả năng
nới rộng dung lợng thể loại trong sáng tác của ông. Phải đến Thời xa vắng, sáng
tác của ông mới thực sự có sức lôi cuốn đối với độc giả cũng nh giới nghiên cứu
phê bình văn học.Và cũng từ Thời xa vắng trở đi, mỗi tiểu thuyết của Lê Lựu đều
tạo đợc sự quan tâm rộng rãi trong d luận.
Khi Thời xa vắng ra đời, các nhà nghiên cứu văn học đã nhận thấy trong tác
phẩm này có cách nhìn hiện thực mới. Giáo s Phong Lê cho rằng: Giang Minh
Sài thất bại, nhng cả xã hội thì thắng lợi, cả xã hội đang vật vã trong những chuẩn
bị cho cái thời xa vắng ấy qua đi. Không còn bi kịch kiểu Giang Minh Sài, cho
những Giang Minh Sài khác đợc sống làm mình ngay từ đầu Thời xa vắng là sự
đón nhận trớc cái yêu cầu nhìn thẳng vào sự thật và nhận thức lại lịch sử đợc đề
ra với Đại hội VI cuối năm 1986 [44].
Tác giả Nguyễn Hoà nhận thấy Thời xa vắng là sự Đi tìm lại những chân
giá trị từng bị đánh mất, từng bị lãng quên. Viên đại bác Thời xa vắng khoan
thủng các tấm màn vô hình che giấu nhiều điều lâu nay chúng ta không nhớ tới. Quá
khứ đâu chỉ là chiếc bánh ngọt ngào mà có cả vị đắng cay [39].
9
Nhà thơ Trần Đăng Khoa cảm nhận đợc Thời xa vắng là sự khái quát lịch
sử bằng số phận bi thảm của anh nông dân Giang Minh Sài [70].
Bởi vậy tác giả Vơng Trí Nhàn đã khẳng định: Thời xa vắng nên đợc xem
tác phẩm cũng là vấn đề muôn thuở: tình yêu lứa đôi trong những ngời trẻ tuổi và
xung đột về nhận thức, ứng xử giữa hai thế hệ cha - con, già - trẻ. Xung quanh vấn
đề này, kèm theo đó là những hậu qủa mang tính xã hội của nó [61].
Năm 1993, Chuyện làng Cuội ra mắt bạn đọc cũng đợc d luận chú ý. Tuy
nhiên hầu hết độc giả lẫn giới phê bình lại không tìm đợc tiếng nói chung với nhà
văn. Theo tác giả Dơng Trọng Dật tác phẩm này thể hiện Sự kém bản lĩnh của một
phù thuỷ non tay ấn trớc những âm binh mà mình dựng lên [31].
Trớc nhiều ý kiến khen chê của d luận, chúng tôi muốn đa ra một chính
kiến của nhà văn Lê Lựu: Qua cuốn tiểu thuyết Chuyện làng Cuội, tôi muốn đặt
ra một vấn đề nghiêm chỉnh mà lại có ý nghĩa thời sự. Tôi muốn nói lên rằng nhân
dân có thể chịu tất cả mọi sự chà đạp, lừa dối của đế quốc, phong kiến, chịu mọi hi
sinh, mất mát trong bớc thăng trầm của đất nớc và của chính cuộc đời họ. Nhng
đến khi họ bị chính ngời thân yêu ruột thịt chà đạp, lừa dối thì họ đã không sống
nổi. Xã hội ta hiện nay đang có mầm mống anh em ruột thịt chà đạp lừa dối lẫn
nhau. Đây là một hiện tợng đáng báo động cần phải ngăn chặn và lên án [66].
Sau tiểu thuyết Chuyện làng Cuội, Lê Lựu viết Sóng ở đáy sông (1994), Hai
nhà (2000), đó cũng là những thành công mới của nhà văn, khi ông tiếp tục khơi sâu
vào đời sống riêng t, bi kịch hôn nhân gia đình. Hai cuốn tiểu thuyết đợc d luận
cho rằng: Đọc rất vào vì ngòi bút phân tích tâm lí của Lê Lựu đạt đến trình độ lão
luyện. Với Hai nhà Lê Lựu không còn dự báo mà đi thẳng vào phân tích nguyên
11
nhân tan rã của gia đình đuợc coi là tế bào của xã hội, là pháo đài cuối cùng trong
cuộc bắn phá của thói vô cảm, thói đạo đức giả [58, tr717].
Nh vậy có thể thấy trong những tiểu thuyết thời kì đổi mới của Lê Lựu Thời
xa vắng gây đợc sự chú ý của bạn đọc nhiều hơn. Các ý kiến nói chung thống nhất
đánh giá rất cao giá trị của tác phẩm, xem tác phẩm nh là một cột mốc văn học
đáng chú ý của văn học hiện đại Việt Nam. D luận về bốn tiểu thuyết còn lại tha
thớt hơn.
Gần đây, tiểu thuyết Lê Lựu thời kì đổi mới đã đợc đề cập đến trong một số
diện nội dung.
- Thời xa vắng và sự đổi mới văn xuôi Việt Nam sau 1975 trên bình
diện thi pháp, nghệ thuật.
Nhìn một cách tổng quát, có thể nhận thấy, tiểu thuyết của Lê Lựu nói chung,
thế giới nhân vật trong tiểu thuyết của Lê Lựu nói riêng đã và đang trở thành những
vấn đề đợc quan tâm. Tuy nhiên, trên thực tế, hầu hết các ý kiến nhận xét, đánh giá
mới tồn tại dới dạng một bài viết, một phần nội dung (đối với luận văn thạc sĩ,
khoá luận tốt nghiệp đại học). Cha có một công trình nào đi sâu nghiên cứu một
cách hệ thống, toàn diện vấn đề nhân vật trong tiểu thuyết Lê Lựu. Nhận ra khoảng
trống đó, trong luận văn này, chúng tôi tiến hành đi sâu khảo sát, nghiên cứu về
nhân vật trong tiểu thuyết Lê Lựu một cách khoa học, hệ thống và toàn diện. Những
ý kiến đánh giá nói trên chính là cơ sở khoa học để chúng tôi tiếp tục công trình
nghiên cứu của mình.
13
3. Mục đích nghiên cứu
Chọn đề tài Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Lê Lựu thời kì đổi mới chúng
tôi mong muốn đóng góp một phần nào đó vào tìm hiểu, khám phá thế giới nhân vật
cũng nh nghệ thuật xây dựng nhân vật độc đáo, hấp dẫn trong tiểu thuyết của Lê
Lựu thời kì đổi mới. Qua đó, thấy đợc tài năng nghệ thuật của Lê Lựu trong việc
ghi lại những gì xảy ra xung quanh cuộc sống của con ngời thời hiện đại.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích trên, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn là chỉ ra các
loại nhân vật và nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết Lê Lựu thời kì đổi
mới ở ba phơng diện: Nghệ thuật khắc họa tâm lý nhân vật, nghệ thuật miêu tả tính
cách và số phận nhân vật, ngôn ngữ nghệ thuật.
5. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
5.1. Đối tợng nghiên cứu
Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết của Lê Lựu thời kì đổi mới
5.2. Phạm vi nghiên cứu
15
8. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và phần th mục tham khảo, luận văn
đợc triển khai thành ba chơng nh sau:
Chơng 1: Quan niệm nghệ thuật về con ngời trong tiểu thuyết
của Lê Lựu thời kì đổi mới.
Chơng 2: Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết của Lê Lựu thời kì
đổi mới
Chơng 3: Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết của Lê
Lựu thời kỳ đổi mới
16
Nội dung
Chơng 1: Quan niệm nghệ thuật về con ngời trong tiểu thuyết của Lê
Lựu thời kì đổi mới
Nguyên lý tổng quát); Lý luận văn học - tập 2, Nhng định nghĩa của GS Trần
Đình Sử trên đây có thể đợc coi là khái quát, đầy đủ hơn cả. Nhà nghiên cứu Trần
Đình Sử cho thấy vấn đề quan niệm nghệ thuật về con ngời thực chất là vấn đề: tính
năng động của nghệ thuật, là giới hạn, phạm vi chiếm lĩnh đời sống của một hệ
thống nghệ thuật, là khả năng thâm nhập của nó vào các miền khác nhau của cuộc
đời.
Nghệ sĩ đích thực là ngời suy nghĩ về con ngời, cho con ngời, nêu ra
những t tởng mới để hiểu về con ngời. Do đó, quan niệm nghệ thuật về con
ngời cũng chính là điểm tựa, là hớng dẫn, là thế giới nghệ thuật của nhà văn
Càng khám phá quan niệm nghệ thuật về con ngời thì càng đi sâu vào thực chất
sáng tạo của nhà văn, càng đánh giá đúng thành tựu của họ.
1.2. Quan niệm nghệ thuật về con ngời trong văn học Việt Nam thời kì
đổi mới
Quan niệm nghệ thuật về con ngời trong tác phẩm văn học luôn hớng vào
con ngời trong mọi chiều sâu có thể có, cho nên đây là tiêu chuẩn quan trọng nhất
để đánh giá giá trị nhân văn vốn có của một hiện tợng văn học. Chúng ta có thể
thấy, trớc năm 1975, văn học (mảng văn xuôi) phát triển trong hoàn cảnh đặc biệt
của hai cuộc chiến tranh vệ quốc và những biến cố cách mạng lớn lao. Theo sát
nhiệm vụ chính trị, tự ý thức mình nh một vũ khí t tởng, nó đã tập trung vào xây
dựng con ngời mới , con ngời cộng đồng. Nhà văn muốn thông qua con ngời
để biểu hiện lịch sử. Con ngời trở thành phơng tiện để khám phá lịch sử. Con
đờng giải quyết mọi bi kịch, mọi vớng mắc cá nhân là hớng về cách mạng, cộng
đồng. Quan niệm nghệ thuật về con ngời của văn học giai đoạn này mang đậm chất
sử thi. Sau năm 1975, đặc biệt từ sau Đại hội VI(1986) của Đảng, đất nớc bớc vào
thời kì đổi mới, văn học cũng bắt đầu thời kì phát triển mới, dân chủ hơn, cởi mở
hơn. Văn xuôi sau 1975, một mặt đợc soi sáng bởi t tởng của Đảng, mặt khác
18
đối diện với sự thức tỉnh, nhu cầu thức tỉnh cá nhân đã thực sự quan tâm đến con
ngời, có nhiều khám phá về con ngời. Có thể nói, sự thức tỉnh trở lại ý thức cá
19
bị chi phối bởi những khát thèm, những dục vọng tầm thờng (Nhân vật của Nguyễn
Huy Thiệp, Lê Minh Khuê, Ma Văn Kháng, Lê Lựu). Trình bày con ngời nh nó
vốn có, không lí tởng hóa, thần thánh hóa nó là đặc điểm nổi bật trong quan niệm
nghệ thuật về con ngời trong văn xuôi sau 1975. Quan niệm con ngời đời
thờng, con ngời phàm tục, không hoàn hảo vừa giống nh một sự đối thoại
với quá khứ, khớc từ những quy phạm cũ, vừa đề xuất hệ giá trị cũ, vừa đề xuất hệ
giá trị mới để đánh giá con ngời: hệ giá trị nhân bản [22].
1.3. Quan niệm nghệ thuật về con ngời trong tiểu thuyết của Lê Lựu
thời kì đổi mới
1.3.1. Quan niệm nghệ thuật về con ngời trong tiểu thuyết của Lê
Lựu trớc thời kì đổi mới
Trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại, khi nói đến những thành tựu
của văn học chống Mỹ và văn học thời kì đổi mới, giới nghiên cứu văn học không
thể không nhắc tới nhà văn Lê Lựu và đặt ông ở vị trí xứng đáng của thế hệ nhà văn
trởng thành trong kháng chiến chống Mỹ. Những thể nghiệm đầu tay của ông là
hàng loạt truyện ngắn xuất hiện khá đều đặn trên tạp chí Văn nghệ quân đội và báo
Văn nghệ vào những năm 60: Tết làng Mụa (Văn nghệ quân đội, 2/1964), Những
ngời ở lại hậu phơng (Văn nghệ quân đội,7/1964), Gan góc Bạch Long (Văn
nghệ quân đội, 7/1965), Những ngời đi nối mạch cầu (Văn nghệ, 2/1967), ghi
dấu một chặng đờng đã qua của lịch sử dân tộc, với mong muốn góp thêm một
tiếng nói cổ vũ cho chiến thắng. Qua những sáng tác ở chặng đầu ấy, có thể thấy Lê
Lựu quan tâm nhiều đến đề tài nông thôn. Những trang viết về địa phơng trong
trong những năm đánh Mỹ của Lê Lựu thờng chứa đựng phong vị nông thôn đậm
đà, ấm áp [63]. Đó là bức tranh hiện thực mang đầy hào khí của những năm tháng
hăng say sản xuất và sẵn sàng chiến đấu. Cuộc sống qua những trang văn Lê Lựu
tuy còn nhiều khó khăn gian khổ nhng con ngời cần cù, nhẫn nại, đầy ý chí bao
giờ cũng đứng vững và chiến thắng. Con ngời trong các truyện của Lê Lựu thời kì
này là những con ngời gắng quên đi cái riêng nhỏ bé của mình để dồn hết tâm
hành động khác nhau. Chính ủy Văn Quang là một cán bộ chính trị xuất sắc có tầm
hiểu biết, tầm nhìn sâu rộng, có tác phong đĩnh đạc và chừng mực. Binh trạm trởng
Lan tận tụy xốc vác sống bằng cảm tính nhiều hơn lí tính, thẳng thắn đến nóng nảy
và thiên vị nhng lại biết phục thiện. Đại đội trởng Tờng rất có năng lực lãnh đạo,
21
có thừa nhiệt tình và dũng cảm, rất bộc trực, bốp chát nhng cũng có lúc phiêu
lu Dờng nh tất cả các nhân vật chính đều nh có hai cuộc sống tồn tại song
song. Một cuộc sống chiến đấu sôi nổi ở chiến trờng và một cuộc sống có phần
riêng t và tình cảm nơi hậu phơng. Điều này cũng giúp ngời đọc hiểu hơn lai lịch
của nhân vật, hiểu sâu hơn tâm trạng, suy nghĩ và phần nào làm nổi rõ tính cách
nhân vật.
Cũng nh thời Ngời cầm súng, cái nhìn của tác giả trong Mở rừng là cái
nhìn tin yêu và tự hào vì trong hiện thực ấy tất cả những con ngời bình thờng đều
trở thành anh hùng làm nên kì tích phi thờng. Tuy nhiên, là một tác phẩm viết về
chiến tranh, cảm hứng bao trùm vẫn là ngợi ca, khẳng định, song điều làm nên thành
công của tác phẩm là nhà văn đã bắt đầu khơi sâu vào thế giới bên trong, vào cõi
miền sâu kín của con ngời.
Sau Mở rừng, Lê Lựu tiếp tục đi vào một vấn đề có ý nghĩa thời sự về số
phận con ngời trong Ranh giới (1979). Với cuốn tiểu thuyết này, ông muốn thoát
ra khỏi quỹ đạo và môi trờng quen thuộc, đến với con ngời và cuộc sống đô thị
miền Nam sau ngày giải phóng.
Với Ranh giới, thông qua phát ngôn của nhân vật Hồng Ngân: Đời không
chớng ngại, không có biển cấm và dừng lại, Lê Lựu đã giới thiệu cho ngời đọc
một lối sống không cần đến lí tởng của một số ngời đã ảnh hởng và mang dấu ấn
của lối sống kiểu Mĩ. Hai tuyến nhân vật chính diện (Xuân, Linh) và phản diện
(Hoa, Cự, Tiềm) có lúc phát triển song song cùng nhân vật chính, có lúc các tính
cách ấy đan chéo vào nhau. Thông qua đó, Lê Lựu muốn bộc lộ một vấn đề cơ bản:
Mỗi con ngời nếu chỉ biết sống cho riêng mình, sống vì mình, buông thả, nghĩa là
sống không có ranh giới, không ý thức đợc việc mình làm thì cuối cùng ngời ấy
Lê Lựu và các nhà văn thời kì đổi mới đã phát hiện và bổ sung thêm một
hình thức mới của mối quan hệ con ngời lịch sử, đó là sự lệch pha, bất hòa có
thể có của con ngời với cộng đồng, với phơng diện nào đó của thiết chế xã hội
[22]. Con ngời không chỉ là chủ nhân của lịch sử, sáng tạo và làm thay đổi lịch sử,
con ngời còn có thể là nạn nhân của lịch sử. Vì thế, bức tranh hiện thực đợc tạo
dựng hoàn toàn không thể tơi sáng, rực rỡ nh trớc. Trái lại, đó là một hiện thực
còn nhiều phi lí, bất cập, nhiều màu xám, có những số phận đầy đau khổ, những
điều nhức nhối cần đợc giải quyết.
23
Có thể nói t duy sáng tạo của Lê Lựu trong các tiểu thuyết giai đoạn tiền đổi
mới đã có những bớc chuyển, đến thời kì đổi mới lại càng chín muồi hơn và đạt
đến tầm cao mới nhất là ở phơng diện quan niệm nghệ thuật về con ngời. Con
ngời của đời thờng trở thành một đối tợng trung tâm phản ánh của tác phẩm.
Nhà văn quan tâm đến đờng đời, đến số phận của những con ngời với những
thành bại, đợc mất, bất trắc và đổ vỡ. Tất cả đều trở thành đề tài hết sức hấp dẫn
đối với ngời cầm bút và Lê Lựu không phải là ngoại lệ.
Đọc tiểu thuyết Lê Lựu thời kì đổi mới, độc giả có thể nhận thấy nhà văn là
ngời tâm huyết với vấn đề quyền sống của con ngời. Khái quát hiện thực qua số
phận cá nhân, Lê Lựu muốn khẳng định với độc giả rằng: Mỗi cá nhân đều tồn tại
trong một quan hệ xã hội nhất định, thuộc về một cơ chế nhất định, nhng không
phải vì thế mà đời sống cá nhân có thể quy vào những mẫu số chung đơn giản.
Mỗi cá nhân là một thế giới riêng t, phức tạp, bí ẩn nên mọi sự áp đặt thô bạo,
khiên cỡng lên nó đều là phản nhân văn. Bằng sự tinh tờng và trải nghiệm, Lê Lựu
đã chỉ cho ngời đọc thấy những lí do khiến mối quan hệ của một cá nhân với cộng
đồng xảy ra trục trặc, khi đó có thể có bi kịch, có thể có phản kháng. Mỗi lí do là
một miếng ghép của bức tranh đời sống nhiều màu vẻ.
Chính vì vậy, với những tiểu thuyết thời kì đổi mới, chúng ta nhận thấy nhà
văn đặc biệt quan tâm tới những vấn đề số phận bi kịch của con ngời. Bởi cuộc
sống con ngời luôn tiềm ẩn bi kịch. Con ngời với muôn sắc thái tình cảm trong đó
lớn lẫn nhỏ trong Thời xa vắng ai cũng đinh ninh mình tốt, không ai chịu hiểu rằng
có khi ngời ta làm khổ ngời khác, tàn hại ngời khác bằng chính lòng tốt không
đúng chỗ của mình. Sai lầm nọ nối tiếp sai lầm kia đã đẩy Sài vào tình thế bi kịch:
Đứa con sắp ra đời không phải kết quả của tình yêu, bản thân anh không đợc kết
nạp Đảng vì lai lịch nhà vợ sấu quá, nhng đau khổ hơn cả là tình yêu trong sáng
và tha thiết với Hơng đã không còn cơ cứu vãn. Chính sự áp đặt của cộng đồng lên
cá nhân đã tớc đi quyền sống, khát vọng đích thực của con ngời. Không phải Sài
không có ý thức phản kháng nhng anh đã bị những cộng đồng nhỏ và lớn ấy đè
bẹp. Anh ta làm sao chống nổi cả một hệ thống quan niệm đầy hẹp hòi và định kiến
đang bao vây anh ta? Qua số phận của Giang Minh Sài, ngời đọc rút ra bài học
quan trọng là: không có tập thể nào có quyền ép buộc cá nhân phải sống theo một
thứ khuôn mẫu định sẵn. Thơng yêu con ngời theo kiểu ấy thực chất là lăng nhục
con ngời, chà đạp con ngời. Lê Lựu đã để cho nhân vật chính ủy Đỗ Mạnh nhìn
nhận lại đối với các cấp dới của mình: Tôi rất buồn cái cách sống hộ ngời
25
khác, đợc gọi là tập thể quan tâm nh thế. Hãy đòi hỏi ở mỗi con ngời sự cống
hiến cao nhất khi xã hội cần, tập thể cần. Đến khi tập thể quan tâm đến ngời ta thì
cũng phải quan tâm đến cái ngời ta cần, chính ngời ta đòi, ngời ta khát, chứ
không phải mình quan tâm cái mình muốn ở ngời ta[12, tr132 -134]. Có thể coi
đây chính là t tởng chủ đề của tác phẩm. Ngòi bút của Lê Lựu đã vạch trần và lên
án một cách mạnh mẽ. Xây dựng hình tợng con ngời hai mặt và những bi kịch
của nó Lê Lựu muốn hớng đến một đời sống dung dị, bình thờng, một xã hội có
nhân văn, tôn trọng cá nhân, cá tính. Và ở đó con ngời cần phải ý thức sâu hơn nữa
địa vị của mình trong mối quan hệ hài hòa, thống nhất với tập thể gia đình, cũng nh
phải trung thành và dám chịu trách nhiệm về những lựa chọn của mình.
Bằng tấm lòng và trái tim nhân hậu, nhà văn Lê Lựu đã đến với những con
ngời bất hạnh để chia sẻ với niềm cảm thông sâu sắc. Những con ngời đó có thể là
những con ngời bất hạnh do hoàn cảnh tạo nên. Song hoàn cảnh còn có thể cải tạo
và thoát ra khỏi nó bớc qua nó để rồi từ giã nó còn lòng ngời ích kỉ thì thật đáng