ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
HOÀNG THỊ DIỆU
Tên đề tài:
“NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐA
DẠNG SINH HỌC TẠI MỘT SỐ ĐIỂM THUỘC
VƯỜN QUỐC GIA BA BỂ, BẮC KẠN” KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Địa chính Môi trường
Khoa : Quản lý Tài nguyên
Khoá học : 2010 – 2014
Giảng viên hướng dẫn: THS. TRƯƠNG THÀNH NAM
Khoa Môi trường – Trường Đại học Nông Lâm THÁI NGUYÊN - 2014
DANH MỤC CÁC TỪ VÀ CỤM TỪ VIẾT TẮT
KBT Khu bảo tồn
ĐDSH Đa dạng sinh học
VQG Vườn quốc gia
KBTTN Khu bảo tồn thiên nhiên
BTNMT Bộ tài nguyên và môi trường
BTTN Bảo tồn thiên nhiên
LSNG Lâm sản ngoài gỗ
IUCN Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên quốc tế
UNDP Quỹ môi trường
UBND Uỷ ban nhân dân
ĐTQH Điều tra quy hoạch
UNESCO Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên hợp quốc
NT Sắp bị đe dọa
VU Sắp nguy cấp
EN Nguy cấp
VU Cấp sẽ bị nguy cấp
LC Ít được biết đến 1
PHẦN 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1.Tính cấp thiết của đề tài
Tài nguyên sinh học - một bộ phận của đa dạng sinh học có hoặc có thể có
giá trị sử dụng cho con người - đã từng được khai thác tự do cho quá trình phát triển
của loài người. Vào đầu thế kỷ 21, chúng ta đã nhận thấy tài nguyên sinh học là có
giới hạn, và chúng ta đang khai thác vượt quá những giới hạn này, do đó đang làm
giảm tính đa dạng sinh học. Vì vậy, đã đến lúc phải có sự thay đổi triệt để trong mối
1.2. Mục tiêu , yêu cầu và ý nghĩa của đề tài
1.2.1. Mục tiêu của đề tài
- Đánh giá hiện trạng đa dạng sinh học, những thông tin về sự đa dạng loài,
mức độ đồng đều, mức độ phong phú của Vườn quốc gia Ba Bể.
- Hiện trạng công tác quản lý của Vườn quốc gia Ba Bể.
- Xác định và làm rõ những nguyên nhân gây suy giảm đa dạng sinh học của
Vườn quốc gia Ba Bể.
- Đề xuất giải pháp tạo cân bằng hệ sinh thái nhằm phát triển bền vững trên
nguyên tắc phát triển kinh tế - xã hội, cải thiện đời sống nhân dân nhưng vẫn bảo vệ
được môi trường sinh thái và đa dạng sinh học.
1.2.2.Yêu cầu của đề tài
- Phản ánh đúng hiện trạng đa dạng thực vật của của Vườn quốc gia Ba Bể.
- Đảm bảo tài liệu , số liệu đầy đủ khách quan.
- Kết quả nghiên cứu các thông số về điều tra chính xác.
- Đảm bảo những kiến nghị, đề nghị đưa ra có tính khả thi, phù hợp với điều
kiện địa phương và cơ quan quản lý của Vườn quốc gia Ba Bể.
1.2.3. Ý nghĩa của đề tài
1.2.3.1. Ý nghĩa trong học tập, nghiên cứu khoa học
- Nâng cao kiến thức kỹ năng và rút ra những kinh nghiệm thực tế phục vụ
cho công tác sau này.
- Vận dụng và phát huy các kiến thức đã học tập và nghiên cứu rèn luyện về
kỹ năng tổng hợp và phân tích số liệu.
- Là tài liệu phục vụ cho công tác quản lý môi trường ở cấp cơ sở.
1.2.3.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Đánh giá vấn đề thực tế và vai trò của công tác quản lý đối với Vườn quốc
gia.
- Từ việc đánh giá hiện trạng, đề xuất một số giải pháp phù hợp nhằm đáp
ứng nhu cầu bảo tồn đa dạng sinh học và nâng cao chất lượng cuộc sống người dân
tại khu vực.
2.1.2. Các văn bản pháp luật liên quan
- Luật bảo vệ môi trường 2005.
- Luật đa dạng sinh học năm 2008 quy định về bảo tồn và phát triển bền
vững đa dạng sinh học; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong
bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học.
- Luật bảo vệ và phát triển rừng (có hiệu lực từ 1-4-2005).
4
- Nghị định số 65/2010/NĐ- CP ngày 11/6/2010 của Chính phủ về quy định chi
tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đa dạng sinh học 2008.
- Nghị định 80/2003/NĐ - CP ngày 09/08/2006 của chính phủ về việc quy định
chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật bảo vệ môi trường.
- Nghị định 117/2009/NĐ-CP về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo
vệ môi trường.
- Nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày 30/3/2006 Về quản lý thực vật rừng,
động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm.
- Nghị định 48/2002/NĐ-CP ngày 22/4/2002 sửa đổi bổ sung danh mục thực
vật, động vật hoang dã quý hiếm.
- Quyết định 126/QĐ- TTG năm 2012 của thủ tướng chính phủ về thí điểm chia
sẻ lợi ích trong quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững rừng đặc dụng.
- Thông tư 18/2004/TT- BTNMT của Bộ Tài Nguyên và Môi trường của Bộ Tài
Nguyên về việc bảo tồn và phát triển bền vững đất ngập nước Việt Nam.
- Thông tư 18/2010/TT-BKHCN của Bộ Khoa học và Công nghệ quy định
về quản lí nhiệm vụ khoa học và công nghệ về quỹ gen.
- Quyết định số 1896/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án ngăn
ngừa và kiểm soát sinh vật ngoại lại xâm hại ở Việt Nam đến năm 2020.
- Thông tư số 22/2011//TT- BTNMT, ngày 01/07/2011 Quy định tiêu chí xác
định loài sinh vật ngoại lai xâm hại và ban hành danh mục loài ngoại lại xâm hại.
- Sách Đỏ Việt Nam.
2.2. Cơ sở thực tiễn
2.2 1. Tình hình nghiên cứu và bảo tồn đa dạng sinh học trên Thế Giới
trạng tuyệt chủng và suy giảm về loài. Theo số liệu thống kê mới nhất của IUCN, có
17.291 trong tổng số 47.677 loài trên thế giới đang bị đe dọa tuyệt chủng. Trong đó
gồm 21% động vật có vú, 30% động vật lưỡng cư, 35% động vật không xương sống
và 70% loài thực vật. Các nhà khoa học cảnh báo, thế giới không những lo ngại số
loài vật có nguy cơ tuyệt chủng cao mà còn bị đe dọa phá vỡ hoàn toàn hệ sinh thái.
Trước sự suy giảm nhanh của đa dạng sinh học các nhà khoa học đã nghiên
cứu và đưa ra các phương thức bảo tồn đa dạng sinh. Trong số những phương thức
bảo tồn đó có hai phương thức được sử dung chủ yếu là: bảo tồn tại chỗ (In-situ) và
bảo tồn chuyển vị (Ex-situ).Trong khi phương thức bảo tồn tại chỗ là nhằm bảo tồn
các hệ sinh thái và các sinh cảnh tự nhiên để duy trì và khôi phục quần thể các loài
trong môi trường tự nhiên của chúng, phương thức bảo tồn chuyển vị bao gồm các
hoạt động nhằm bảo tồn các loài mục tiêu bên ngoài nơi phân bố hay môi trường tự
nhiên của chúng như xây dựng các vườn thú, bể nuôi,vườn thực vật và vườn ươm.
Hai phương thức bảo tồn này có tính chất bổ sung cho nhau. Những cá thể từ
các quần thể dược bảo tồn Ex-situ có thể được đưa vào thiên nhiên nơi có phân bố
tự nhiên của chúng để tăng cường cho các quần thể đang được bảo tồn In-situ và
việc nghiên cứu các quần thể được bảo tồn Ex-situ có thể cung cấp cho chúng ta
6
những hiểu biết về các đặc tính sinh học của loài và từ đó hỗ trợ cho việc hình thành
các chiến lược bảo tồn hiệu quả hơn cho các quần thể được bảo tồn In-situ.
Tuy nhiên, dưới áp lực ngày càng tăng của sự thay đổi khá nhanh các điều
kiện môi trường, đặc biệt do sự nóng lên toàn cầu, mục tiêu của một chiến lược bảo
tồn nguồn gen thực vật là không chỉ bảo tồn các khác biệt di truyền hiện có mà còn
tạo ra các điều kiện phù hợp cho việc tăng sự thích nghi và sự tiến hóa tương lai của
loài. Vì vậy, các nhà khoa học bảo tồn đã đề xuất khái niệm bảo tồn nguồn gen
động cho thực vật. Điều cốt lỏi của khái niệm này là khuyến khích tính thích nghi
của loài bằng cách đặt các quần thể bảo tồn trong quá trình chọn lọc tự nhiên và rồi
trong quá trình tiến hóa theo các hướng khác biệt để đa dạng hóa nguồn gien của
loài, chuẩn bị cho việc thích nghi rộng hơn của loài đối với các điều kiện môi
trường khác nhau. Theo cách thức bảo tồn này, nguồn gen của các loài thực vật sẽ
đáng ghi nhận trong công tác quản lý ĐDSH.Theo báo cáo tổng kết, năm 2012, Cục
Bảo tồn đa dạng sinh học được giao triển khai 17 nhiệm vụ, chủ trì xây dựng và hoàn
thiện 09 văn bản quy phạm pháp luật, tiếp tục hoàn thiện 02 dự thảo văn bản Quyết
định của Thủ tướng Chính phủ được trình từ năm 2011 và 01 dự thảo Nghị định của
Chính phủ, tiếp tục triển khai xây dựng các văn bản trình Thủ tướng Chính phủ vào
năm 2013.
Năm 2012, Cục Bảo tồn đa dạng sinh học đã triển khai mạnh mẽ các hoạt
động hợp tác quốc tế; tiếp tục thực hiện tốt vai trò đầu mối các Công ước quốc tế về
Đa dạng sinh học, tham gia tích cực các cuộc họp đàm phán trong khuôn khổ các
Công ước, Nghị định thư và các thoả thuận hợp tác song phương, đa phương tăng
cường, mở rộng các đối tác là các tổ chức phi chính phủ trong nước và quốc tế trong
lĩnh vực đa dạng sinh học và an toàn sinh học, tiếp tục triển khai thực hiện Dự án
quốc tế: Dự án Xây dựng cơ sở dữ liệu đa dạng sinh học quốc gia (Dự án JICA do
JICA tài trợ); Dự án Khắc phục trở ngại nhằm tăng cường hiệu quả quản lý các khu
bảo tồn (Dự án PA do GEF tài trợ và UNDP Việt Nam điều hành)
Song do nhiều nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp, những năm gần đây,
ĐDSH của nước ta tiếp tục suy giảm về lượng và suy thoái về chất với tốc độ cao
(rừng giàu và rừng kín chỉ chiếm 4,6% (2004), rừng nguyên sinh chỉ còn khoảng
0,57 triệu ha và khả năng hoàn toàn phục hồi rất thấp), đang đối mặt với những đe
dọa và thách thức nghiêm trọng. Dân số tăng nhanh, từ dưới 73 triệu năm 1995 lên
trên 87,84 triệu trong năm 2011, đưa Việt Nam trở thành một trong những nước
đông dân nhất trong khu vực châu Á, đã tạo ra sức ép rất lớn về tiêu thụ tài nguyên
và sử dụng đất. Cùng với sự gia tăng dân số,việc diện tích rừng bị thu hẹp,việc khai
thác quá mức tài nguyên sinh vật biển và áp dụng các giống mới trong sản xuất
nông nghiệp,lâm nghiệp, nền kinh tế tăng trưởng nhanh của nước ta đã đem lại
nhiều lợi thế cho quá trình phát triển đất nước, nhưng cũng tạo ra áp lực lớn lên
ĐDSH.
8
Mặt khác giá trị và vai trò của ĐDSH chưa được nhận thức và đánh giá đúng
mức. Ý thức về bảo tồn ĐDSH và nhận thức được giá trị thực sự của ĐDSH trong
loài rắn biển, rùa biển và thú biển. Ngoài ra, các nhà khoa học cho rằng ở Việt Nam,
số loài sinh vật đã biết trên đây thấp hơn nhiều so với số loài đang sống trong thiên
nhiên, chắc chắn còn nhiều loài sinh vật hoang dã khác chưa được biết tới.
a. Sơ lược về tình hình nghiên cứu ĐDSH ở Việt Nam
9
Các nghiên cứu ĐDSH thường được bắt đầu bằng những nghiên cứu cơ bản để
có tiền đề xây dựng luận chứng kinh tế- kỹ thuật (LCKT) cho các KBT. Phần lớn
LCKT được xây dựng bởi các cơ quan chuyên môn, các Viện nghiên cứu, các
trường đại học như Viện Điều tra Quy hoạch rừng, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt
Nam, Trường đại học Lâm nghiệp. Ngoài các nghiên cứu liên quan đến LCKT còn
phải kể đến các nghiên cứu chuyên sâu của các cơ quan nghiên cứu, Viện Khoa học
và Công nghệ Quốc gia- Đại học QG Hà Nội, các tổ chức trong và ngoài nước. Các
số liệu trong nghiên cứu này rất quan trọng và có giá trị, được các VQG và KBT sử
dụng để biết được sự đa dạng sinh vật mà mình đang quản lý.
Một thành tựu nổi bật về nghiên cứu ĐDSH là kết quả điều tra về tài nguyên
thực vật và động vật ở một số VQG và Khu BTTN và một số sinh cảnh khác ngoài
Khu BTTN nhờ sự phối hợp giữa các nhà khoa học của các cơ quan nghiên cứu ở
Trung ương, địa phương và ban quản lý các VQG, Khu BTTN.
Trong những thập kỷ của những năm đầu cuối thế kỷ XX, các nghiên cứu về
ĐDSH phục vụ cho việc xây dựng các luận chứng KTKT để xây dựng hệ thống các
khu rừng đặc dụng của Việt Nam. Tuy nhiên, do thiếu kinh phí nên số liệu chưa được
cập nhật, nhiều VQG và Khu BTTN chỉ có số liệu khi xây dựng LCKT. Nhiều loài
động vật, thực vật có trong thực tế nhưng chưa có tên trong danh lục hoặc ngược lại có
tên trong danh lục nhưng lại không thấy trong thiên nhiên.
b. Chiến lược, chính sách bảo tồn ĐDSH
Nhận thức được tầm quan trọng của sự suy thoái tài nguyên ĐDSH, Việt
Nam đã sớm có những hành động tích cực trong công tác bảo tồn ĐDSH. Theo
thống kê từ năm 1958 đến nay, có tới vài trăm văn bản pháp luật do Nhà nước và
các ban ngành liên quan ban hành về vấn đề bảo tồn ĐDSH và các tài liệu hướng
dẫn thi hành lần lượt được ban hành.
đoạn 2011 – 2020”.
Hệ thống các văn bản quy định của pháp luật Việt Nam liên quan đến bảo vệ
ĐDSH tuy đã được hình thành nhưng còn có nhiều khiếm khuyết và bất cập. Việt
Nam là thành viên của Công ước ĐDSH nhưng cho đến nay, chưa có văn bản quy
phạm pháp luật nào hoàn chỉnh để đảm bảo thực hiện Công ước này. Các văn bản
hiện hành mới chỉ tập trung vào việc bảo tồn ĐDSH, trong khi đó, Công ước ĐDSH
nêu ra ba mục tiêu: (1)- Bảo tồn ĐDSH; (2)- Sử dụng bền vững tài nguyên; (3)-
Chia sẻ trung thực và công bằng lợi ích có được từ việc sử dụng tài nguyên gen.
c. Các biện pháp bảo tồn ĐDSH
Việc hình thành hệ thống rừng đặc dụng ở Việt Nam là một trong những biện
pháp tích cực đã và đang góp phần quan trọng trong sự nghiệp bảo tồn ĐDSH. Năm
2000, quy hoạch mới hệ thống rừng đặc dụng với nhiều thay đổi lớn như: đề xuất
11
phân hạng mới, loại bỏ, chuyển hạng, sát nhập, đổi tên và thành lập mới cho một số
khu rừng đặc dụng. Đến năm 2003, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quyết định
số 192/2003/QĐ - TTg ban hành chiến lược quản lý hệ thống khu bảo tồn thiên
nhiên của Việt Nam đến năm 2010.
d. Các nghiên cứu nổi bật
Hoàng Kim Ngũ (1990-1998) đã tiến hành nghiên cứu đặc điểm sinh vật học
và khả năng gây trồng các loài cây như Nghiến, Mạy sao, Trai lý, Hoàng đàn, Mắc
rạc, Xoan nhừ, Mắc mật trên núi đá vôi ở Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Cạn. Hoàng
Kim Ngũ đã xác định được một số đặc điểm sinh thái và đề xuất kỹ thuật gây trồng
các loài cây này ở các địa phương trên. Từ năm 1999 đã tiến hành gây trồng thử
nghiệm các loài cây này trên đất đá vôi ở một số nơi khác ở Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng
Sơn và các tỉnh vùng Tây Bắc. Tuy nhiên, do còn đang trong thời gian thử nghiệm nên
đây chỉ là những khẳng định ban đầu về khả năng thành công của các mô hình phục
hồi rừng, đặc biệt là các mô hình ở vùng Tây Bắc.
Khi nghiên cứu hệ sinh thái tại Vườn Quốc gia Pù Mát, Nguyễn Thanh Nhàn
đã đưa ra một số giải pháp nhằm bảo tồn hệ thực vật trên núi đá vôi: Quản lý bảo vệ
rừng, quản lý vùng đệm, nâng cao nhận thức, nâng cao hiệu lực thi hành pháp luật.
và Tuyên Quang, Bắc Kạn đóng vai trò như một trung tâm giao lưu, trao đổi hàng hoá
quan trọng của vùng Đông Bắc. Bắc Kạn là tỉnh có vị trí địa lý ở vùng giao lưu giữa 2
khu hệ động thực vật của núi rừng Tây Bắc và Đông Bắc. Tuy rừng núi không cao
nhưng rất đa dạng về địa hình, địa chất và dạng sinh cảnh. Rừng Bắc Kạn có hệ động
thực vật phong phú với nhiều nguồn gen quý hiếm. Rừng Bắc Kạn là một tài nguyên
quý, phong phú và đa dạng, ngoài khả năng cung cấp gỗ và các loại lâm sản, đây còn là
một trong những trung tâm bảo tồn gen động, thực vật quý hiếm của các tỉnh vùng
Đông Bắc Việt Nam.
Hệ thực vật có 798 loài thuộc 541 chi, 169 họ của 5 ngành thực vật bậc cao,
trong đó có 19 loài thực vật quý hiếm (chiếm 2,38% tổng số loài) được ghi trong
sách đỏ Việt Nam như: Hinh đá, Sam vàng, Lát hoa, Nghiến, Trai…
Hệ động vật có 527 loài động vật, trong đó lớp thú 94 loài thuộc 26 họ; Lớp
chim 276 loài thuộc 51 họ; Lớp bò sát 46 loài thuộc 12 họ; Lớp lưỡng cư 24 loài thuộc
4 họ. Trong 527 loài động vật có 66 loài quý hiếm (chiếm 12,5% tổng số loài) có tên
trong sách đỏ Việt Nam có nguy cơ bị tiêu diệt, trong đó: Lớp thú 32 loài, lớp chim 10
loài, lớp bò sát 11 loài và lớp lưỡng cư 03 loài.
Bắc Kạn có khu hệ sinh vật rất phong phú và đa dạng, tiêu biểu trong đó là
khu hệ sinh vật tại vườn Quốc gia Ba Bể - huyện Ba Bể, khu bảo tồn thiên nhiên
Kim Hỷ - huyện Bạch Thông và Na Rì, khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân
Lạc - huyện Chợ Đồn.
13
Bảng 2.2. Đa dạng thực vật ở một số VQG và KBTTN có địa hình núi đá vôi
Tên đơn vị Diện tích ( ha) Số loài Loài đặc trưng
VQG Ba Bể
(Bắc Cạn)
23.340 602
Nghiến - Lát - Ô rô-Mạy tèo-
Thung
KBTTN Hang Kia
- Pà Cò
Phượng Hoàng
(Thái Nguyên)
18.858
1.139 Nghiến gân ba, Trai lý, Ô rô
Khu bảo tồn
ĐDSH vùng núi đá
vôi tỉnh (Kiên
Giang)
1000 350
Các loài đặc hữu mới phát
hiệnở VN: Begoniabataiensis
Kiew và Ornithoboea
emarginata
(Nguồn: Ban quản lý VQG Ba Bể)
Trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn, những loại cây được xếp vào danh sách sinh vật
ngoại lai xâm hại như bạch đàn, keo, trinh nữ
Ngoài ra còn một số loài xâm nhập ngoại lai khác như cây ngũ sắc, bèo tây Nhật
Bản (Lục Bình), cá trê phi… Cây ngũ sắc, cây mai dương (cây trinh nữ) được coi là
một trong 100 loài sinh vật ngoại lai xâm lấn cực kỳ nguy hiểm.
Hiện nay, do việc áp dụng nghiên cứu khoa học kỹ thuật và triển khai thực
hiện 3 nhóm biện pháp hoá học, sinh học đi cùng với ý thức của người dân nâng
cao, người dân chủ động tìm kiếm và áp dụng các biện pháp hiệu quả trên diện tích
đất nông nghiệp của chính mình như tìm và bắt diệt ốc bươu vàng; nhổ bỏ cây con,
14
chặt và đốt gốc đối với các loài cây trinh nữ, cây mai dương… nên tỷ lệ các loài
xâm nhập này có số lượng giảm đi đáng kể.
2.3. Đánh giá chung về công tác nghiên cứu và bảo tồn đa dạng sinh học
Việt Nam đã được công nhận là một nước có tính đa dạng sinh học (ĐDSH)
15
PHẦN 3
ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu
- Cộng đồng dân cư sống trong Vườn quốc gia mà nguồn sinh kế phụ thuộc
hoàn toàn vào nguồn tài nguyên sẵn có tại Vườn quốc gia Ba Bể, Bắc Kạn.
- Cộng đồng dân cư sống xa Vườn quốc gia
- Các sinh cảnh sống của các loài động thực vật sống trong Vườn quốc gia
Ba Bể, Bắc Kạn
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu.
Nguồn sinh kế chủ yếu của cộng đồng dân cư sống ở 6 xã Khang Ninh, Cao
Thượng, Cao Trĩ, Quảng Khê, Hoàng Trĩ, Nam Mẫu thuộc vườn quốc gia Ba Bể,
Bắc Kạn.
3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: Vườn quốc gia Ba Bể, Bắc Kạn
- Địa điểm thực tập: Phòng Tài nguyên môi trường huyện Ba Bể, tỉnh Bắc
Kạn.
- Thời gian nghiên cứu: Từ 06/01/2014 đến tháng 04/2014.
3.3. Nội dung nghiên cứu
3.3.1. Điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội của Vườn quốc gia Ba Bể, Bắc Kạn.
- Điều kiện tự nhiên.
- Điều kiện kinh tế - xã hội.
3.3.2. Tìm hiểu đa dạng sinh học và sử dụng tài nguyên sinh học tại Vườn quốc
gia Ba Bể, Bắc Kạn
* Tìm hiểu biến động đa dạng sinh học Vườn quốc gia Ba Bể, Bắc Kạn
* Tìm hiểu việc sử dụng tài nguyên trong Vườn quốc gia Ba Bể, Bắc Kạn
3.3.3. Nguyên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới đa dạng sinh học tại Vườn quốc gia
Ba Bể, Bắc Kạn
3.3.4. Đề xuất một số giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học tại Vườn quốc gia Ba
- Nà pùng; Nà cóc; Ẻo nghiêm.
Trong đó có 2 tuyến điều tra nằm trong vùng lõi vườn quốc gia đó là:
- Cốc tộc; Khau qua; Nặm dài; Đán mẩy; Đầu đẳng.
- Khuổi pủng; Ngạn thăm; Bản cám; Hồ Ba Bể.
b) Phương pháp điều tra, phỏng vấn người dân địa phương
+ Lập bộ câu hỏi phỏng vấn và tiến hành phỏng vấn theo bộ câu hỏi đã chuẩn
bị sẵn, các thông tin thu thập tập trung vào sự hiểu biết của người dân về đa dạng
sinh học và bảo tồn đa dạng sinh học.
17
+ Tiến hành phỏng vấn ngẫu nhiên 60 người là trưởng xóm, cán bộ xã, cán bộ
kiểm lâm, thợ săn, du khách và người dân địa phương được phân bổ như sau:
Bảng 3.1: Bảng phân bổ phiếu điều tra cho các đối tượng
STT Đối tượng điều tra Số lượng phiếu
1 Người dân địa phương 40
2 Cán bộ thuộc ban quản lý của vườn 5
3 Cán bộ tuần rừng 2
4 Cán bộ xã 6
5 Du khách 7
Tổng số 60
Đối tượng phỏng vấn được lựa chọn dựa vào những nguyên tắc sau:
• Dựa vào trình độ nhận thức của đối tượng phỏng vấn.
• Dựa vào khả năng thu nhập của đối tượng.
• Dựa vào sự hiểu biết của đối tượng về Vườn quốc gia.
• Dựa vào sự tác động của đối tượng đến Vườn quốc gia.
+ Địa điểm phỏng vấn gồm 6 xã: Khang Ninh, Cao Thượng, Cao Trĩ, Hoàng
Trĩ, Nam Mẫu, Quảng Khê.
Nguyên tắc lựa chọn địa điểm phỏng vấn:
• Dựa vào khoảng cách của địa điểm tới Vườn quốc gia.
• Dựa vào mối tương tác giữa Vườn quốc gia và địa điểm phỏng vấn.
+ Quá trình phỏng vấn: phát phiếu điều tra, phỏng vấn trực tiếp kết hợp với
Phía Đông giáp phần còn lại xã Khang Ninh, Cao Trĩ - Ba Bể.
Phía Tây giáp huyện Chợ Đồn và tỉnh Tuyên Quang.
Vườn được công nhận là Vườn di sản Asean năm 2003, là địa điểm thăm
quan, du lịch nghỉ dưỡng nổi tiếng trong và ngoài nước. Năm 2011 Vườn Quốc gia
Ba Bể được Ban Thư ký Ramsar công nhận là Khu Ramsar (Khu đất ngập nước có
tầm quan trọng quốc tế) thứ 1938 của thế giới. Vườn tiếp tục được công nhận là Di
sản quốc gia đặc biệt năm 2012.
Hình 4.1: Ảnh vệ tinh vị trí VQG Ba Bể
19
4.1.1.2 Địa hình, địa thế
Địa hình Vườn quốc gia Ba Bể mang đặc điểm điển hình của dạng địa hình
Kast do núi đá vôi bị phong hóa qua nhiều thời kỳ tạo lên. Có thể chia địa hình
VQG Ba Bể thành 5 kiểu chính sau:
- Kiểu địa hình Kast: Chiếm 23,6% tổng diện tích tự nhiên. Núi đá thuộc kiểu
địa hình này bị chia cắt thành nhiều khối có dạng lởm chởm, sườn thẳng đứng, cao tới
700 - 800 m.
- Kiểu địa hình núi trung bình: Chiếm 23% tổng diện tích tự nhiên, phân bố
chủ yếu ở phía Đông và phía Nam của Vườn, độ cao trung bình 1000 m, độ dốc >
35o.
- Kiểu địa hình núi thấp: Có độ cao biến động trong khoảng từ 300 m đến 700 m,
chiếm 43,7% tổng diện tích tự nhiên, bao gồm toàn bộ các đỉnh núi thấp dưới 700 m và
các sườn núi cao trung bình phía Bắc và Nam hồ Ba Bể.
- Kiểu địa hình vùng đồi: Có độ cao dưới 300 m, chiếm 3,2% tổng diện tích
tự nhiên. Phân bố rải rác xung quanh khu vực lòng hồ và hai bên bờ sông Chợ
Lèng.
- Kiểu địa hình hồ và thung lũng: chiếm 6,5% tổng diện tích tự nhiên, phân
bố rải rác giữa các dãy núi, ven sông, suối. Hồ Ba Bể nằm ở trung tâm Vườn quốc
gia, có diện tích mặt nước hơn 311 ha.
nước trong Hồ lại tiếp tục chảy vào sông Năng. Mực nước tích lại trong hồ khoảng
8 -9 triệu m3, có tác dụng phân lũ sông Năng, sông Gâm và sông Hồng.
Cả 4 con sông, suối nói trên đều bắt nguồn từ những đỉnh núi cao, địa hình
dốc, thường gây ra lũ lớn vào mùa mưa. Theo kết quả điều tra cơ bản của Viện
Khoa học Thuỷ lợi, thực hiện trong năm 2002, lưu lượng của ba con sông, suối phía
Nam khoảng gần 1.000 m3/s đổ vào Hồ, còn sông Năng, kết quả đo được vào tháng
8/1971 là 942 m3/s chảy qua Hồ.
4.1.2. Tài nguyên thiên nhiên
4.1.2.1 Tài nguyên đất
Vườn quốc gia Ba Bể được quy hoạch ban đầu có diện tích là 7.610 ha (theo
Quyết định số 83/QĐ-TTg ngày 10/11/1992 của Thủ tướng Chính phủ). Năm 2004,
theo Dự án rà soát và đầu tư xây dựng VQG Ba Bể giai đoạn 2005 - 2010, được
UBND tỉnh Bắc Kạn phê duyệt tại Quyết định số 2766/QĐ-UB ngày 26/11/2004
diện tích vườn là 10.048 ha.
Căn cứ vào phạm vi ranh giới đóng mốc ngoài thực địa, ranh giới các phân
khu chức năng do Ban quản lý VQG Ba Bể cung cấp; kết quả kiểm kê rừng huyện
Ba Bể, Chợ Đồn của Viện Điều tra Quy hoạch rừng năm 2011 và kết quả phúc tra
hiện trạng của Phân viện ĐTQH rừng Đông Bắc bộ tháng 7 năm 2012, diện tích tính
lại của các phân khu chức năng như sau: Bảo vệ nghiêm ngặt 4.488,3 ha, phục hồi
21
sinh thái 5.519,7 ha, hành chính - dịch vụ 40,0 ha, hiện trạng tài nguyên và sử dụng
đất VQG Ba Bể thể hiện dưới bảng:
Bảng 4.1: Hiện trạng tài nguyên và tình hình sử dụng đất VQG Ba Bể
Đơn vị: ha
TT
Cơ cấu đất Cộng
Phân khu chức năng
Bảo vệ
nghiêm
II Đất ngoài lâm nghiệp 1.022,0 626,0 379,6 16,4
(Nguồn: Ban quản lý VQG Ba Bể)
Qua kết quả kiểm kê và rà soát lại thì diện tích các phân khu chức năng
Vườn có sai khác so với diện tích quy hoạch được phê duyệt theo Dự án rá soát và
22
đầu tư xây dựng VQG Ba Bể giai đoạn 2005 - 2010. Nguyên nhân do khi tính toán
diện tích sử dụng bản đồ hệ toạ độ khác nhau (Bản đồ năm 2004 hệ UTM tỷ lệ
1/25.000, múi chiếu 6 độ, bản đồ hiện tại hệ VN2000 tỷ lệ 1/10.000, múi chiếu 3
độ) dẫn đến sai lệch do phép chiếu (tỷ lệ bản đồ càng lớn, múi chiếu càng nhỏ thì
sai số do biến dạng địa hình khi chiếu mặt đất lên mặt phẳng bản đồ càng nhỏ).
Theo kết quả bảng trên, diện tích đất có rừng trên địa bàn VQG là 7.724,8
ha, chủ yếu là rừng tự nhiên (99,6% đất có rừng), độ che phủ rừng đạt 75,6%. Chất
lượng rừng còn khá tốt, rừng tự nhiên trung bình trở lên chiếm 61,8% đất có rừng,
rừng trên núi đá chiếm 28,3% đất có rừng, còn lại là rừng hỗn giao, rừng tre nứa,
rừng phục hồi, rừng nghèo chiếm 10,0% đất có rừng.
Diện tích rừng trồng là 28,1 ha, chiếm 0,4% đất có rừng, chủ yếu là cây
bản địa: Lát hoa, Lim xanh, Quế, trồng trong phân khu phục hồi sinh thái. Do
đặc thù VQG có dân cư sinh sống trong vùng lõi nên một số hộ gia đình cũng
tiến hành trồng rừng trên đất nương rẫy thoái hóa trong phân khu bảo vệ nghiêm
ngặt.
Diện tích đất chưa có rừng trong Vườn quốc gia còn 1.301,2 ha, chiếm 12,9%
diện tích Vườn. Trong đó, nương rẫy không cố định là 725,7 ha; đất trống có cây gỗ rải
rác (IC) 332,1 ha; đất trống trảng cỏ, cây bụi 51,7 ha; núi đá không có rừng 183,1 ha.
Đất ngoài lâm nghiệp là 1.022,0 ha gồm: 497,9 ha đất sản xuất nông nghiệp,
524,1 ha đất phi nông nghiệp. Trong đó có 410,1 ha đất mặt nước (hồ Ba Bể 311 ha);
480,7 ha đất ruộng nước, soi bãi; 131,2 ha đất ở và các loại đất khác.
4.1.2.2 Tài nguyên nước
Lượng mưa tuy không lớn so với khu vực lân cận nhưng VQG Ba Bể có
nguồn tài nguyên nước hết sức dồi dào. Diện tích ngập nước thường xuyên gần 500
ha, chiếm 4,1% diện tích tự nhiên Vườn quốc gia Ba Bể, gồm: Hồ Ba Bể và sông,