Góp phần nghiên cứu và đánh giá tính đa dạng sinh học của hệ thực vật thuộc Vườn Quốc gia Ba Vì để định hướng cho việc bảo tồn và sử dụng có hiệu quả - Pdf 26


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

Hà Thị Thúy GÓP PHẦN NGHIÊN CỨU VÀ ĐÁNH GIÁ TÍNH ĐA
DẠNG SINH HỌC CỦA HỆ THỰC VẬT THUỘC
VƢỜN QUỐC GIA BA VÌ ĐỂ ĐỊNH HƢỚNG CHO
VIỆC BẢO TỒN VÀ SỬ DỤNG CÓ HIỆU QUẢ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC



Ngƣời hƣớng dẫn: GS.TSKH.NGƢT. Nguyễn Nghĩa Thìn
Hà Nội - 2012

2
MỤC LỤC

DANH LỤC BẢNG BIỂU 4
DANH LỤC HÌNH VẼ 5
BẢNG KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT 6
MỞ ĐẦU 7
Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 10
1.1. Nghiên cứu về đa dạng sinh học trên thế giới 10
1.2. Nghiên cứu đa dạng thực vật trên thế giới 13
1.3. Nghiên cứu đa dạng thực vật ở Việt Nam 16
1.4. Những nghiên cứu đa dạng thực vật ở VQG Ba Vì 19
1.5. Nghiên cứu về các yếu tố địa lý 21
1.6. Nghiên cứu về phổ dạng sống của hệ thực vật 24
Chƣơng 2. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ – XÃ HỘI 26
2.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN 26
2.1.1. Vị trí địa lý 26
2.1.2. Địa hình 27
2.1.3. Địa chất và thổ nhưỡng 28
2.1.4. Khí hậu 28

4.2.3. Tỷ lệ hai lớp trong ngành Mộc lan 44
4.2.4. Đánh giá đa dạng các taxon dưới ngành 46
4.2.4.1. Đa dạng ở mức độ họ 46
4.2.4.2. Đa dạng ở mức độ chi 49
4.3. Đa dạng các yếu tố địa lý 51
4.3.1.Yếu tố địa lý của các họ thực vật 51
4.3.2. Yếu tố địa lý của các chi trong hệ thực vật 52
4.3.3. Yếu tố địa lý của các loài trong hệ thực vật 56
4.4. Đa dạng về dạng sống 61
4.4.1. Đa dạng về dạng sống của hệ thực vât VQG Ba Vì khu vực nghiên cứu
61
4.4.2. So sánh dạng sống hệ thực vật Ba Vì với một số hệ thực vật khác 65
4.5. Tài nguyên thực vật 66
4.5.1. Đa dạng về giá trị sử dụng của hệ thực vật 66
4.5.2. Đa dạng các loài quý hiếm 74
4.5.2.Các loài nằm trong danh sách của CITES 77
4.5.3. Các loài nằm trong danh sách của Nghị định 32- 2006/CP 78
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82

4
DANH LỤC BẢNG BIỂU

Hình 1. Hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên ở Việt Nam. 8
Hình 2. Bản đồ địa lý VQG Ba Vì 27
Hình 3. Sơ đồ giao thông tại khu vực VQG Ba Vì 34
Hình 4. Biểu đồ tỷ lệ % số loài trong các ngành của VQG Ba Vì 40
Hình 5. Biểu đồ tỷ lệ % các ngành thực vật bậc cao có mạch của 41
Hình 6. Biểu đồ sánh tỷ lệ % số loài trong các ngành của hệ thực vật VQG Ba Vì
với hệ thực vật Việt Nam 42

Hình 7. Biểu đồ tỷ lệ % hai lớp trong ngành Mộc lan của VQG Ba Vì 45
Hình 8. Biểu đồ tỷ lệ % của 21 họ đa dạng nhất của VQG Ba Vì khu vực nghiên cứu
48
Hình 9. Biểu đồ tỷ lệ % của 10 họ đa dạng nhất hệ thực vật VQG Ba Vì 49
Hình 10. Biểu đồ tỷ lệ % của 11 chi đa dạng nhất hệ thực vật VQG Ba Vì 50
Hình 11. Biểu đồ tỷ lệ phần trăm 3 nhóm yếu tố địa lý chính 53
Hình 12. Biểu đồ tỷ lệ phần trăm các nhóm yếu tố địa lý bậc chi của hệ thực vật
VQG Ba Vì. 54
Hình 13. Biểu đồ tỷ lệ phần trăm các yếu tố địa lý bậc chi 55
Hình 14. Biểu đồ tỷ lệ phần trăm 3 nhóm yếu tố địa lý chính 58
Hình 15. Biểu đồ tỷ lệ phần trăm các nhóm yếu tố địa lý bậc loài của hệ thực vật
VQG Ba Vì 58
Hình 16. Biểu đồ tỷ lệ phần trăm các yếu tố địa lý thực vật bậc loài 59
Hình 17. Phổ dạng sống hệ thực vật Ba Vì 61
Hình 18. Biểu đồ tỷ lệ các dạng sống của nhóm cây chồi trên VQG Ba Vì khu vực
nghiên cứu 65
Hình 19. Biểu đồ tỷ lệ % các loài có giá trị sử dụng của VQG Ba Vì 67
Hình 20. Biểu đồ tỷ lệ % số công dụng của các loài cây có giá trị ở Ba Vì 68
Hình 21. Biểu đồ tỷ lệ % các loài cây có giá trị 69

6
BẢNG KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CBD
: Công ước Đa dạng sinh học
CITES
: Danh mục các loài hoang dã cấm buôn bán thương mại trên phạm vi
toàn cầu
ĐDSH
: Đa dạng sinh học

hôm nay mà còn là di sản của nhân loại mãi mãi về sau.

8

Hình 1. Hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên ở Việt Nam [39].
Từ đầu thế kỉ 20, Ba Vì đã là địa danh nổi tiếng nhờ sự đa dạng của các hệ
sinh thái và có phong cảnh đẹp, khí hậu mát mẻ. Vườn quốc gia này nằm trong dãy
núi cao chạy dọc theo hướng đông bắc – tây nam với đỉnh Tản Viên cao 1.296m,
đỉnh Ngọc Hoa cao 1.120m.
Rừng cấm Quốc gia Ba Vì được thành lập ngày 16/01/1991, theo quyết định
số 17/CT của Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng (nay là Chính phủ). Đến ngày
18/12/1991 được đổi tên thành vườn Quốc gia Ba Vì (VQG Ba Vì) theo quyết định
số 407/CT. Tháng 5 năm 2003 vườn được Chính phủ quyết định mở rộng sang tỉnh
Hoà Bình. Hiện nay, tổng diện tích của Vườn 10.782ha thuộc địa giới hành chính
của hai tỉnh thành là Thủ đô Hà Nội và tỉnh Hòa Bình thuộc 16 xã của 5 huyện:
huyện Ba Vì, Thạch Thất, Quốc Oai thuộc Thành phố Hà Nội; huyện Lương Sơn,
Kỳ Sơn thuộc tỉnh Hòa Bình, VQG Ba Vì cách Sơn Tây 15 km, cách thủ đô Hà Nội

9
60 km về hướng tây, theo đường quốc lộ 21A và 87. Tọa độ địa lý: 20
o
55' - 21
o
07'
vĩ độ Bắc, 105
o
18' - 105
o
30' kinh độ Đông.
VQG Ba Vì là một bộ phận quan trọng của môi trường sinh thái, là nhu cầu,

các loài trong một quần xã sinh vật). Đến nay có trên 25 định nghĩa cho thuật ngữ
đa dạng sinh học.
Theo Công ước Đa dạng sinh học, khái niệm đa dạng sinh học (biodiversity,
biological diversity) có nghĩa là sự khác nhau giữa các sinh vật sống ở tất cả mọi
nơi, bao gồm: các hệ sinh thái trên cạn, trong đại dương và các hệ sinh thái thuỷ vực
khác, cũng như các phức hệ sinh thái mà các sinh vật là một thành phần , thuật ngữ
này bao hàm sự khác nhau trong một loài, giữa các loài và giữa các hệ sinh thái.
Tóm lại, đa dạng sinh học là khoa học nghiên cứu về tính đa dạng của vật
sống trong thiên nhiên, từ các sinh vật phân cắt đến các động vật và thực vật (trên
cạn cũng như dưới nước) và cả loài người chúng ta, từ mức độ phân tử đến các cơ
thể, các loài và các quần xã mà chúng ta sống. Đa đạng sinh học gồm đa dạng về di
truyền, đa dạng về loài và đa dạng về hệ sinh thái [18].
Ở Việt Nam, thuật ngữ ĐDSH mới chỉ được đề cập đến trong những năm
cuối của thập kỷ 80 của thế kỷ trước song các công trình nghiên cứu về ĐDSH đã

11
được tiến hành từ lâu. Đó là những công trình nghiên cứu về giới thực vật và động
vật, cùng với các giá trị của chúng.
Thực chất, những nghiên cứu của con người về ĐDSH đã được tiến hành từ
nhiều thế kỷ trước. Tuy nhiên, những nghiên cứu đó không phải dựa trên quan điểm
và học thuật ĐDSH như ngày nay.
Ngày nay, đa dạng sinh học và bảo tồn đã trở thành vấn đề thu hút sự quan
tâm của toàn nhân loại. Nhiều tổ chức quốc tế đã ra đời để hướng dẫn, giúp đỡ và tổ
chức việc đánh giá, bảo tồn và phát triển đa dạng sinh vật trên phạm vi toàn cầu.
Năm 1948, Hiệp hội quốc tế Bảo vệ thiên nhiên (IUCN) ra đời đưa ra Chiến lược
bảo toàn thế giới, với mục tiêu “đạt được sự phát triển bền vững bằng cách bảo vệ
tài nguyên sống”. Quỹ quốc tế về Bảo vệ thiên nhiên (WWF) được thành lập ngày
11/09/1961 tại Thụy Sỹ với các mục tiêu mong muốn giảm bớt sự tàn phá thiên
nhiên toàn cầu để xây dựng một tương lai mà con người sống hòa hợp cùng thiên
nhiên, bảo tồn sự đa dạng sinh học của thế giới, đảm bảo duy trì sử dụng các tài

về núi đồi đồng thời cũng là năm di sản văn hóa quốc tế, 2003 - năm quốc tế về
nước sạch, 2004 - năm lúa gạo quốc tế, 2006 - năm sa mạc quốc tế , đặc biệt năm
2010 được chọn là năm Quốc tế về Đa dạng sinh học với chủ đề là “Đa dạng sinh
học là sự sống của chúng ta”. Điều này cho thấy cộng đồng thế giới đang ngày càng
quan tâm, đầu tư nhiều hơn cho đa dạng sinh học.
Hiện nay, có khoảng 300 công ước quốc tế về bảo vệ môi trường. Nước ta đã
tích cực tham gia và thực hiện nghiêm túc nhiều Công ước quốc tế về môi trường
sau khi đã ký kết. Đó là tham gia UNEP từ năm 1977, khi Việt Nam trở thành thành
viên của Liên hợp quốc, Công ước của Liên Hợp Quốc về sự biến đổi môi trường
(26/8/1980), Công ước về các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế
(RAMSAR) (20/9/1988), trở thành quốc gia thành viên của IUCN vào năm 1993,
Công ước về buôn bán quốc tế về các giống loài động thực vật có nguy cơ bị đe dọa
(20/1/1994), Công ước Viên về bảo vệ tầng ô-zôn (26/4/1994), Công ước khung của
Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu (16/11/1994), ngày 16/11/1994 Việt Nam chính
thức gia nhập Công ước Đa dạng sinh học.

13
Và để hoàn thiện hệ thống pháp luật về đa dạng sinh học, luật hóa có hệ
thống và thống nhất các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, thực hiện
các cam kết quốc tế về đa dạng sinh học phục vụ cho mục tiêu phát triển bền vững
đất nước, luật Đa dạng sinh học đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam khóa XII, kì họp thứ 4 thông qua ngày 13/11/2008 và chính thức có hiệu
lực từ ngày 01/07/2009. Đây chính là cơ sở pháp lý quan trọng trong công tác bảo
tồn đa dạng sinh học ở nước ta.
1.2. Nghiên cứu đa dạng thực vật trên thế giới
Những nghiên cứu về đa dạng thực vật trên thế giới đã có từ rất lâu, bắt đầu
bằng việc phân loại thực vật. Theophraste (371 - 286, TCN), học trò của Aristotle
được coi là người đầu tiên nghiên cứu phân loại thực vật. Ông đã đề xướng phương
pháp phân loại và phân biệt một số tính chất cơ bản trong cấu tạo cơ thể thực vật.
Trong tác phẩm “Lịch sử thực vật” (Historia plantarium) và “Bàn về cơ sở thực vật”

Sau Ray là J.P.de Tournefort (1656 - 1705) lấy tràng hoa là cơ sở cho phân
loại và chia thực vật có hoa thành nhóm không cánh và nhóm có cánh hoa sắp xếp
trong 22 lớp, sau lớp chia ra họ, bộ, chi và loài.
Mãi đến Linaeus (1707 - 1778) với bảng phân loại được coi là đỉnh cao của
thời kì phân loại nhân tạo. Ông đã dựa vào cơ quan sinh sản (hoa) mà cụ thể là số
lượng nhị để phân loại và chia thực vật làm 24 lớp, trong đó thực vật có hoa 23 lớp
(lớp 1 nhị, lớp 2 nhị…) và 1 lớp bao gồm Tảo, Nấm, Địa y, Rêu, Dương xỉ. Dưới
lớp có 116 bộ, 1000 chi và mô tả được 10000 loài. Trong hệ thống này nhiều nhóm
thực vật được phản ánh đúng bản chất và còn đúng đến ngày nay, tuy nhiên vì chỉ
dựa trên một đặc điểm chính là số lượng nhị nên đã không phản ánh được đầy đủ
bản chất tự nhiên của hệ thống. Linaeus cũng có công rất lớn trong việc đề xuất
danh pháp hai từ để gọi tên loài và được sử dụng cho tới ngày nay [22].
Sau Linaeus các nhà thực vật không chỉ quan tâm đến một số đặc điểm của
thực vật dựa theo ý chủ quan của họ như các nhà thực vật trước đây, mà đã dựa vào
toàn bộ các đặc điểm chính của thực vật để xây dựng nên các hệ thống tự nhiên. Có

15
thể kể đến một số hệ thống tự nhiên như: Hệ thống phân loại của Bernard Jussieu
(1699 - 1777) và cháu ông là A.L.de Jussieu (1749 - 1836) đã sắp xếp thực vật theo
trình tự từ thấp đến cao, xếp chúng vào các họ, giữa các họ đều có những dạng
chuyển tiếp, phản ánh được mối quan hệ giữa các nhóm thực vật với nhau. A.L. de
Jussieu đã chia thực vật thành thực vật không lá mầm (gồm Tảo, Nấm, Rêu, Dương
xỉ) và thực vật có lá mầm (Tùng bách, thực vật Một lá mầm và thực vật Hai lá
mầm).
Nhà thực vật học người Thụy Sỹ O.P. De Candole (1778 - 1841) cũng có
công rất lớn trong nghiên cứu thực vật, ông đã đưa số họ thực vật lên 161 họ.
Robert Brown (1773 - 1858) là người đầu tiên nghiên cứu tỉ mỉ về Tùng bách và
Tuế, ông đã tách rời hạt Trần ra khỏi hạt Kín. Từ năm 1825 - 1845 còn có tới 20 hệ
thống phân loại của các nhà thực vật học khác nữa.
Vào giữa thế kỉ XIX là một giai đoạn bắt đầu của ý tưởng tiến hóa. Khi tác

“Thực vật Nam bộ” (1790) của Loureiro, mô tả gần 700 loài cây, “Thực vật rừng
Nam bộ” (1879) của Pierre, mô tả gần 800 loài cây gỗ, hay bộ “Thực vật chí của
Lào, Campuchia và Việt Nam” của các tác giả A.Aubreville, J.F.Leroy, P.Muarant
(1860). Công trình lớn nhất là bộ “Thực vật chí Đông Dương” do H. Lecomte và
một số nhà thực vật học người Pháp biên soạn (từ 1907 đến 1943) gồm 7 tập chính
và sau đó lại bổ sung thêm bằng những tập phụ, trong đó đã phân loại, thống kê, mô
tả các loài cây từ Dương xỉ đến thực vật Hạt kín của toàn Đông Dương. Ngoài ra
còn phải kể đến một số công trình khác như: “Danh mục các sản phẩm của Đông
Dương” của Crévost, Lemaríe và Pételot. “Các cây thuốc của Campuchia, Lào và
Việt Nam” của Pételot, “Các cây thuốc của miền Bắc Việt Nam” của Foucaud…Và
trên cơ sở các công trình đã có, năm 1965 Pócs Tamás đã thống kê được miền Bắc
có 5.190 loài.
Bên cạnh các công trình nghiên cứu của người Pháp thì cũng có nhiều công
trình của các nhà nghiên cứu trong nước, nhất là từ năm 1954 tới nay thì việc
nghiên cứu về thực vật được quan tâm phát triển mạnh mẽ. Có thể kể đến các tác

17
phẩm đã được xuất bản như “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” của tác giả
Đỗ Tất Lợi (1969, 1977); bộ “Cây cỏ thường thấy ở Việt Nam” do Lê Khả Kế chủ
biên (1969, 1975); bộ “Cây gỗ rừng Việt Nam” (1971 - 1988) gồm 7 tập và cuốn
“Những loài thực vật rừng quý hiếm cần bảo vệ ở Việt Nam” do Viện điều tra quy
hoạch rừng biên soạn.
Trên cơ sở bộ dữ liệu đã có và bộ Thực vật chí Đông Dương, Thái Văn
Trừng (1978) đã thống kê thực vật Việt Nam có 7.004 loài, 1.850 chi và 289 họ,
trong đó: ngành Hạt Kín có 3.366 loài (90,9%), 1.727 chi (93,4%) và 293 họ
(82,7%); ngành Dương Xỉ và họ Dương Xỉ có 599 loài (8,6%), 205 chi (5,57%) và
42 họ (14,5%); ngành Hạt trần 39 loài (0,5%), 18 chi (0,9%) và 8 họ (2,8%).
Đáng chú ý nhất phải kể đến bộ “Cây cỏ Việt Nam” của Phạm Hoàng Hộ
(1991-1993) xuất bản ở Canada, sau đó được nhà xuất bản Trẻ chỉnh lý, bổ sung và
tái bản phát hành ở Việt Nam năm 2000, đây là bộ sách được đánh giá là đầy đủ

1969, Phan Kế Lộc đã thống kê lại và bổ sung nâng số loài ở miền Bắc Việt Nam
lên 5.609 loài, 1.660 chi và 140 họ.
+ Trong phạm vi từng vùng: hệ thực vật Tây Nguyên được công bố có 3.754
loài thực vật có mạch do Nguyên Tiến Bân, Trần Đình Nại, Phan Kế Lộc chủ biên
(1984); Danh lục thực vật Phú Quốc của Phạm Hoàng Hộ (1985) công bố 793 loài
thực vật có mạch trong một diện tích 592km
2
; Lê Trần Chấn, Phan Kế Lộc, Nguyễn
Nghĩa Thìn, Nông Văn Tiếp (1990) về hệ thực vật Lâm Sơn, Lương Sơn (Hòa
Bình); Nguyễn Nghĩa Thìn và Nguyễn Thị Thời (1998) đã giới thiệu 2.024 loài thực
vật bậc cao, 771 chi, 200 họ thuộc 6 ngành của vùng núi cao Sa Pa – Phan Si Pan.
Đặc biệt từ năm 1995 - 2007, Nguyễn Nghĩa Thìn cùng với một số tác giả khác đã
công bố nhiều bài báo đa dạng sinh học cho Vườn Quốc gia Cúc Phương (Ninh
Bình); vùng núi đá vôi Hòa Bình; núi đá vôi Sơn La; KBTTN Khau Ca (Hà Giang);
KBTTN Na Hang và KBTTN Chạm Chu (Tuyên Quang); KBTTH Hữu Liên (Lạng
Sơn); VQG Hoàng Liên (Lào Cai); VQG Ba Bể (Bắc Kạn); VQG Cát Bà (Hải
Phòng); VQG Bến Én (Thanh Hóa); VQG Pù Mát và KBTTTN Pù Huống (Nghệ

19
An); VQG Phong Nha – Kẻ Bàng (Quảng Bình); VQG Cát Tiên (Đồng Nai); VQG
Yôk Đôk (Đăk Lăk); vùng ven biển Phong Điền (Thừa Thiên Huế) và Nam Trung
Bộ [20]
Ngoài ra, phải phải kể đến các nghiên cứu về các họ thực vật riêng biệt trong
cả nước như “Orchidaceae Đông Dương” của Seidenfaden (1992), “Orchidaceae
Việt Nam” của Leionid Averyanov (1994), Nguyễn Nghĩa Thìn với “Euphorbiaceae
Việt Nam” (1995, 1999, 2007), Nguyễn Tiến Bân với “Annonaceae Việt Nam”
(2000), “Lamiaceae” của Vũ Xuân Phương (2000); “Myrsinaceae” của Trần Thị
Kim Liên (2002), “Cyperaceae” của Nguyễn Khắc Khôi (2002) và Vũ Xuân
Phương với “Verbenaceae” (2007)…Đây là những công trình nghiên cứu chuyên
sâu, đầy đủ các thông tin cần thiết về các loài trong họ, là tài liệu quan trọng làm

+ Năm 1998 và 1999 Nguyễn Nghĩa Thìn và cộng sự thực hiện đề tài Nghiên
cứu cây thuốc truyền thống của đồng bào Dao ở huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây đã xác
định 274 loài, thuộc 214 chi của 83 họ được người Dao chữa 15 nhóm bệnh.
+ Năm 2003, Trần Văn Ơn trong luận án tiến sĩ dược học Góp phần nghiên
cứu bảo tồn cây thuốc ở Vườn Quốc gia Ba Vì đã điều tra được 503 loài được người
Dao sử dụng, thuộc 321 chi của 118 họ, thuộc 5 ngành.
+ Năm 2007, Nguyễn Nghĩa Thìn, Nguyễn Thị Kim Thanh, Vũ Văn Sơn
trong công trình Đa dạng nguồn tài nguyên thực vật làm thuốc tại vườn Quốc gia
Ba Vì đã thống kê 668 loài thuộc 441 chi của 158 họ, thuộc 5 ngành bậc cao của Ba
Vì được sử dụng làm thuốc.
Trên trang web chính thức của VQG Ba Vì cho biết, theo danh mục thực vật
đã được thu thập mẫu và kết quả điều tra bổ sung năm 2008, cho tới nay Vườn
Quốc gia Ba Vì có 1201 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 649 chi và 160 họ.
Như vậy, qua kết quả nghiên cứu mới nhất đã khẳng định sự phong phú đa dạng
loài thực vật của vườn. So với kết quả điều tra năm 1998, số họ thực vật phát hiện
mới tăng 61 họ, số chi tăng 177 chi và số loài tăng 389 loài [35].

21
1.5. Nghiên cứu về các yếu tố địa lý
Mỗi hệ thực vật bao gồm nhiều yếu tố địa lý khác nhau, vì vậy phân tích các
yếu tố địa lý thực vật là một nội dung quan trọng khi nghiên cứu một hệ thực vật để
hiểu bản chất cấu thành của nó, làm cơ sở cho việc định hướng và bảo tồn giống vật
nuôi, cây trồng…
Gagnepain là người đầu tiên phân tích các yếu tố địa lý của hệ thực vật Việt
Nam với hai tác phẩm “Góp phần nghiên cứu hệ thực vật Đông Dương” (1926) và
“Giới thiệu về hệ thực vật Đông Dương” (1944). Theo tác giả, hệ thực vật Đông
Dương thành 5 yếu tố [21].
Yếu tố Trung Quốc
33,8%
Yếu tố Xích Kim – Himalaya

- Nhân tố bản địa đặc hữu 50%
- Nhân tố di cư 30%
Từ Malaysia – Indonesia 15%
Từ Himalaya – Vân Nam – Quí Châu 10%
Từ Ấn Độ – Miến Điện 14%
- Nhân tố khác 11%
Nhiệt đới 7%
Ôn đới 3%
Thế giới 1%
Tổng 100%
Trong nhân tố khác thì nhân tố nhập nội vẫn là 3,08%.
Căn cứ các khung phân loại của Pócs Tamás (1965), Ngô Chinh Dật (1993),
Lê Trần Chấn (1994) và trên cơ sở các công trình nghiên cứu của mình, Nguyễn

23
Nghĩa Thìn (1999) đã xây dựng thang phân loại các yếu tố địa lý thực vật cho hệ
thực vật Việt Nam và áp dụng cho việc sắp xếp các chi thực vật Việt Nam vào các
yếu tố địa lý. Thang phân loại này đã được tác giả chỉnh sửa, bổ sung vào các năm
2004 trong “Hệ sinh thái rừng nhiệt đới” (NXB ĐHQGHN, 2004) và năm 2008
trong cuốn “Các phương pháp nghiên cứu thực vật” theo đó hệ thực vật Việt Nam
bao gồm các yếu tố chính sau [18, 20]:
1. Yếu tố toàn thế giới
2. Liên nhiệt đới
2.1. Nhiệt đới châu Á, châu Úc và châu Mỹ
2.2. Nhiệt đới châu Á, châu Phi và châu Mỹ
2.3. Nhiệt đới châu Á và Mỹ
3. Cổ nhiệt đới
3.1. Nhiệt đới châu Á và châu Úc
3.2. Nhiệt đới châu Á và châu Phi
4. Nhiệt đới châu Á (Inđô – Malêzi)

a) Cây chồi trên to (Megaphanerophytes) – Mg: cây gỗ cao từ 25m trở lên.
b) Cây chồi trên nhỡ (Mesophanerophytes) – Me: cây gỗ từ 8 - 25m.
c) Cây chồi trên nhỏ (Microphanerophytes) – Mi: cây gỗ nhỏ, cây bụi, dây
leo gỗ, có thân cây hóa gỗ, cao từ 2 - 8m.
d) Cây chồi trên lùn (Nanophanerophytes) – Na: cây gỗ lùn, cây bụi hay cây
nửa bụi, dây leo gỗ nhỏ, có thân cây hóa gỗ, cao từ 25 - 200cm.

Trích đoạn Địa hình Lao động và tập quán
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status