Nghiên cứu tính đa đạng sinh học khu hệ động vật có xương sống nhằm đề xuất giải pháp quản lý, bảo tồn đối với một số loài động vật quan trọng tại vườn quốc gia cúc phương, ninh bình - Pdf 44

BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

LÊ TRỌNG ĐẠT

NGHIÊN CỨU TÍNH ĐA DẠNG SINH HỌC
KHU HỆ ĐỘNG VẬT CÓ XƯƠNG SỐNG NHẰM
ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN LÝ, BẢO TỒN ĐỐI VỚI
MỘT SỐ LOÀI ĐỘNG VẬT QUAN TRỌNG TẠI VƯỜN
QUỐC GIA CÚC PHƯƠNG, TỈNH NINH BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

HÀ TÂY-2007


BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

LÊ TRỌNG ĐẠT

NGHIÊN CỨU TÍNH ĐA DẠNG SINH HỌC
KHU HỆ ĐỘNG VẬT CÓ XƯƠNG SỐNG NHẰM ĐỀ XUẤT
GIẢI PHÁP QUẢN LÝ, BẢO TỒN ĐỐI VỚI MỘT SỐ
LOÀI ĐỘNG VẬT QUAN TRỌNG TẠI VƯỜN QUỐC GIA
CÚC PHƯƠNG, TỈNH NINH BÌNH


1.1.4
Nghiên cứu về Cá nước ngọt .............................................................14
1.2
Lược sử nghiên cứu động vật ở Cúc Phương ........................................16
CHƯƠNG 2. ĐỊA ĐIỂM, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ ....................... 19
THỜI GIAN NGHIÊN CỨU ........................................................................... 19
2.1
Địa điểm nghiên cứu-Vườn Quốc gia Cúc Phương ...............................19
2.1.1
Vị trí địa lý ..........................................................................................19
2.1.2
Địa chất, Địa hình, Thổ nhưỡng .......................................................21
2.1.3
Khí hậu thuỷ văn ................................................................................24
2.1.4
Tài nguyên động thực vật rừng .........................................................27
2.1.5
Điều kiện xã hội .................................................................................29
2.2
Nội dung nghiên cứu ................................................................................31
2.3
Phương pháp nghiên cứu .........................................................................34
2.4
Thời gian nghiên cứu ...............................................................................41
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ........................... 42
3.1
Các số liệu tham khảo so sánh .................................................................42
3.2
Khu hệ thú Cúc Phương ..........................................................................47
3.2.1

Phân bố của các loài lưỡng cư ..........................................................82
3.5.3
Các loài lưỡng cư quý hiếm...............................................................83
3.6
Khu hệ cá Cúc Phương ............................................................................85
3.6.1
Đa dạng thành phần các loài cá ........................................................85
3.6.2
Phân bố của các loài cá .....................................................................90
3.6.3
Các loài cá quý hiếm ..........................................................................93
3.7
Các loài cần xem xét về mặt định loại ....................................................94
3.8
Các mối đe dọa ảnh hưởng đến các loài động vật ở Cúc Phương........97
CHƯƠNG 4. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ................................................... 98
4.1
Kết luận .....................................................................................................98
4.2
Kiến nghị ...................................................................................................99
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................. 101
PHẦN PHỤ LỤC ........................................................................................... 111
PHỤ LỤC 1. BẢN ĐỒ 2.5 PHÂN BỐ CỦA MỘT SỐ LOÀI ĐỘNG VẬT QUÝ
HIẾM Ở VƯỜN QUỐC GIA CÚC PHƯƠNG .......................................................
PHỤ LỤC 2. DANH LỤC THÚ CÚC PHƯƠNG ...................................................
PHỤ LỤC 3. DANH LỤC CHIM CÚC PHƯƠNG .................................................
PHỤ LỤC 4. DANH LỤC BÒ SÁT CÚC PHƯƠNG ..............................................
PHỤ LỤC 5. DANH LỤC LƯỠNG CƯ CÚC PHƯƠNG .......................................
PHỤ LỤC 6. DANH LỤC CÁ CÚC PHƯƠNG ......................................................
PHỤ LỤC 7. MỘT SỐ ẢNH CHỤP TRONG QUÁ TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐỘNG


DANH MỤC BẢN ĐỒ
THỨ TỰ
2.1
2.2
2.3
2.4
2.5

TÊN BẢN ĐỒ
Vị trí Vườn Quốc gia Cúc Phương trong Hệ thống
Khu bảo tồn Thiên nhiên Việt Nam
Ranh giới hành chính và Địa hình Vườn Quốc gia
Cúc Phương
Ảnh vệ tinh Địa hình và Thảm thực vật Vườn Quốc
gia Cúc Phương
Vị trí các tuyến và điểm khảo sát động vật ở Vườn
Quốc gia Cúc Phương
Phân bố của một số loài động vật quý hiếm ở Vườn
Quốc gia Cúc Phương

TRANG
20
22
32
36
112

DANH MỤC BẢNG
THỨ TỰ

3.4
3.5
3.6
3.7
3.8
3.9
3.10
3.11
3.12
3.13
3.14
3.15
3.16
3.17

Cúc Phương với một số khu vực khác ở Việt Nam
Danh sách các loài thú quý hiếm đặc hữu ở Cúc
Phương
Cấu trúc thành phần loài của khu hệ chim ở Cúc
Phương
So sánh mức độ đa dạng sinh học của khu hệ chim
Cúc Phương với một số khu vực khác ở Việt Nam
Danh sách các loài chim quý hiếm ở Cúc Phương
Cấu trúc thành phần loài của khu hệ bò sát ở Cúc
Phương
So sánh mức độ đa dạng sinh học của khu hệ Bò sát
Cúc Phương với một số khu vực khác ở Việt Nam
Danh sách các loài bò sát quý hiếm ở Cúc Phương
Cấu trúc thành phần loài của khu hệ lưỡng cư ở Cúc
Phương

2.1
3.1
3.2
3.3
3.4
3.5
3.6

TÊN HÌNH

Biểu đồ khí hậu Gaussen-Walter khu vực Cúc
Phương
Biểu đồ so sánh số lượng các loài động vật có xương
sống của các khu vực
Biểu đồ so sánh mật độ các loài động vật có xương
sống của các khu vực
Biểu đồ so sánh diện tích các khu vực
Biểu đồ so sánh tỷ trọng thành phần loài thú ở Cúc
Phương
Biểu đồ so sánh số loài thú đã ghi nhận ở một số khu
vực của Việt Nam
Biểu đồ so sánh tỷ trọng thành phần loài chim ở Cúc
Phương

TRANG

26
45
46
47

61
70
72
79
81
87
90


vi

LỜI NÓI ĐẦU
Nghiên cứu khoa học là một mục tiêu quan trọng trong chương trình đào tạo
sau đại học. Để đánh giá kết quả sau 3 năm học tập, nghiên cứu được sự đồng ý của
Khoa Sau Đại học, Trường Đại học Lâm nghiệp, sự ủng hộ tạo điều kiện của Vườn
Quốc gia Cúc Phương, tôi đã tiến hành đề tài: “Nghiên cứu tính đa dạng khu hệ
động vật có xương sống nhằm đề xuất giải pháp quản lý, bảo tồn đối với một số
loài động vật quan trọng tại Vườn Quốc gia Cúc Phương, tỉnh Ninh Bình”.
Trong quá trình học tập tôi luôn nhận được sự dạy dỗ tận tình của các thầy cô
ở Khoa Sau Đại học, Khoa Lâm học, Trường Đại học Lâm nghiệp; Khoa Sinh học,
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên (Đại học Quốc gia Hà Nội). Tôi vô cùng cảm tạ
và xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban Giám hiệu, Khoa Sau Đại học và toàn thể
các thầy cô giáo-những người đã trực tiếp ân cần dạy dỗ, đào tạo tôi trong suốt thời
gian học tập trước đây và trong giai đoạn sau đại học hiện nay; đặc biệt là PGS.TS.
Hà Đình Đức là người thầy trực tiếp giúp đỡ, hướng dẫn về mặt khoa học trong quá
trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này.
Nhân dịp này, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc, Phòng Khoa học và
Hợp tác quốc tế, Vườn Quốc gia Cúc Phương-cơ quan nơi tôi công tác đã dành cho
tôi sự quan tâm trong quá trình học tập, sự động viên, khích lệ và giúp đỡ to lớn
trong suốt thời gian nghiên cứu vừa qua.

vùng cận nhiệt đới, cộng với sự rất đa dạng về địa hình đã tạo nên sự đa dạng về
thiên nhiên, vì thế khu hệ động thực vật ở Việt Nam có tính đa dạng sinh học cao.
Tài nguyên rừng nói chung và tài nguyên động vật hoang dã nước ta rất
phong phú và đa dạng. Bằng chứng sống động là trong vòng hơn 10 năm gần đây
nhiều loài mới cho khoa học đã được phát hiện ở vùng rừng núi nước ta như: Sao la
Pseudoryx nghetinhensis, Mang lớn Megamuntiacus vuquangensis, Mang Trường
Sơn Muntiacus truongsonensis và Thỏ vằn Nesolagus timminsii, Khướu Ngọc Linh
Garrulax ngoclinhensis, Khướu Kon Ka Kinh Garrulax konkakinhensis, Rắn lục
vảy lưng ba gờ Triceratolepidophes sieversorum, Ếch cây Olov Rhacophorus
orlovi, Cá lá giang Parazacco vuquangensis...vv [35], [48] [54], [52].
Hệ thống các Vườn Quốc gia và Khu Bảo tồn Thiên nhiên đã được thành lập
nhằm bảo tồn nguồn tài nguyên sinh vật. Nhưng nguy cơ đe dọa đến sự tồn tại của
chúng vẫn thường xuyên diễn ra do tình trạng khai thác rừng; săn bắt, buôn bán các
loài động vật hoang dã trái phép. Nhiều loài đang đứng trên bờ vực diệt vong.
Thậm chí có loài sẽ biến mất trước khi khoa học kịp biết đến sự có mặt của chúng
[49].
Vườn Quốc gia Cúc Phương được thành lập năm 1962, sớm nhất ở Việt
Nam. Khu hệ động vật có xương sống ở đây cũng rất đa dạng do nằm ở vị trí thuận
lợi có sự hội tụ của rất nhiều yếu tố địa lý sinh học.
Các hoạt động nghiên cứu khoa học ở đây được tiến hành rất sớm, ngay từ
khi mới thành lập. Đặc biệt là về lĩnh vực thực vật được tiến hành rất quy mô, thu
hút rất nhiều nhà khoa học Việt Nam và quốc tế. Về nghiên cứu động vật, tuy được
quan tâm nhưng chưa tiến hành nghiên cứu sâu như thực vật [39];[65].


2

Các nghiên cứu về động vật trước đây mới chỉ dừng lại ở mức độ nhỏ lẻ, kết
quả còn rất hạn chế so với thực tế và còn nằm rải rác ở các báo cáo chuyên đề [39].
Hiện nay, vẫn chưa có một nghiên cứu nào đầy đủ tổng kết chính thức, phân

nhiệm và đã có những kết quả đáng kể.
Từ 1975 đến nay là giai đoạn phát triển mạnh mẽ nhất các nhà khoa học Việt
Nam cùng hợp tác với các nhà khoa học nước ngoài đã gặt hái được những thành
tựu cơ bản và đã đóng góp nhiều phát hiện mới cho ngành khoa học về động vật.
Dưới đây là điểm một số khái quát các tác giả và công trình nghiên cứu chính qua
từng thời kỳ:
Từ xa xưa cha ông ta đã biết khai thác và sử dụng động vật hoang dã để làm
thực phẩm, thuốc chữa bệnh, đồ trang sức phục vụ cuộc sống. Việc này đã được đề
cập đến trong các tài liệu từ thế kỷ XIII như “Nam dược thần hiệu”, của danh y Tuệ
Tĩnh hay “Vân đài loại ngữ”, “Phủ biên tạp lục” của nhà bác học Lê Quý Đôn vào
thế kỷ XVIII...vv. Tuy nhiên, đây mới chỉ là những tài liệu mang tính thống kê
những loài thường được sử dụng chưa thực sự mang ý nghĩa nghiên cứu [15].
1.1.1 Nghiên cứu về Thú
Những nghiên cứu mang tính hệ thống về khu hệ động vật nói chung và thú
nói riêng mới chỉ thực sự bắt đầu từ những năm cuối thế kỷ XIX khi những nhà
khoa học nước ngoài tiến hành ở Miền Nam. Trong giai đoạn này, việc nghiên cứu
về khu hệ thú Việt Nam chủ yếu do các nhà khoa học nước ngoài thực hiện.
Tài liệu đầu tiên có liên quan đến thú Việt Nam được công bố là “The
Mission to Siam and Hue, the Capital of Cochichina in the years 1821-1822”
(George Finlayson,1828). Đây tuy chưa phải là một công trình khoa học thực sự


4

nhưng cũng đã có những mô tả về thiên nhiên, cùng với những nhận xét ban đầu
của tác giả (theo Lê Hiền Hào, 1973) [33].
Vào cuối thế kỷ XIX, sau một thời gian việc nghiên cứu bị gián đoạn, các
nhà khoa học nước ngoài tiếp tục tiến hành thăm dò động vật giới của Việt Nam,
bắt đầu từ Miền Nam với các nghiên cứu của Milne-Edwards (1867-1874); Jouan
(1868); Morice (1875); Germain (1887); sau đó tiến dần ra Miền Bắc với các nghiên

Krempt (1911); Trouessart (1911); Allen (1913); Kloss (1926, 1928); Thomas
(1909, 1912, 1925-1929)… [33].
Năm 1912, R. Bourret cho xuất bản cuốn “Fauna de I’Indochine” giới thiệu
về khu hệ động vật có xương sống ở Đông Dương. Trong đó thống kê được 262 loài
và phân loài thuộc 11 họ thú có ở Đông Dương. Năm 1942, trong báo cáo “Les
mammifères de la collection du laboratoire de zoologie L’Éccole supérieure des
Sciences”, R. Bourret công bố 81 loài thú của Việt Nam trên cơ sở các mẫu vật có
tại Phòng thí nghiệm Động vật của Viện Khoa học Sinh thái. Năm 1944, có thêm
báo cáo “Mammifères resceemment entrés dans les collections du Laboratoire de
Zoologie de L’Éccole supérieure des Sciences”. Các tài liệu này được công bố trong
Thông báo Công trình Khoa học số 1 và 3 của Trường Cao đẳng Khoa học Đông
Dương [33].
Trong những năm 1925-1930, J. Delacour thu thập khá nhiều tài liệu về khu
hệ thú Việt Nam đồng thời thu thập được nhiều mẫu thú ở Bắc Bộ, Trung Bộ và
Nam Bộ. Vào những năm 1928-1929, có hoạt động của đoàn nghiên cứu KellyRoosevelt của Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Chicago thu thập mẫu ở Quảng Trị, Huế,
Lào Cai, Lai Châu. Tất cả những tài liệu này sau đó được H. Osgood tập hợp lại và
đưa ra công bố chung về thú vào năm 1932 trong tác phẩm “Mammals of the KellyRoosevelt and Delacour Asiatis Expeditions”. Trong công trình này, tác giả đã ghi
nhận được 251 loài và phân loài thú với 19 dạng mới. Bao gồm, 172 loài và phân
loài có ở Việt Nam, kèm theo địa điểm sưu tầm của từng loài (H. Osgood, 1932)
[33].
Ngoài ra, trong thời kỳ này còn có các tài liệu về săn bắn của một số người
không chuyên như: Bonifacy (1912); Montpensier (1912); Roussel (1913);
Bordeneuve (1925); Cheminaud (1939); Cresson (1943); Denariaux (1949);
Chochod (1950), [33].


6

Trong suốt thời kỳ kháng chiến chống Pháp từ 1945-1954 mọi hoạt động
nghiên cứu trực tiếp về thú ở nước ta đều bị ngưng trệ. Sau một thời gian gián đoạn

săn bắn để lấy thịt, da, lông, làm dược liệu…cũng như các loài quý hiếm cần bảo vệ
[33].
Trong số các công trình nghiên cứu khu hệ thú địa phương phải kể đến cuốn
“Động vật Kinh tế tỉnh Hòa Bình” xuất bản năm 1975 của nhóm cán bộ Phòng
nghiên cứu động vật thuộc Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước do Đặng Huy
Huỳnh chủ biên. Trong đó, có mô tả 26 loài thú kinh tế trong tổng số 74 loài thú của
tỉnh Hòa Bình với các đặc điểm sinh học, giá trị kinh tế, mật độ, trữ lượng và phân
bố của từng loài [12].
Ngoài các công trình nghiên cứu ở miền Bắc của các nhà khoa học trong
nước năm 1969 còn có công trình “Premilinary Identification Manual for Mammals
of South Vietnam” của Van Peenen. Trong đó tác giả công bố kết quả nghiên cứu
trong những năm 1965-1969 với mô tả sơ bộ 217 loài và phân loài thú có ở Miền
Nam Việt Nam [103]. Giai đoạn này cũng có một số công trình xem xét lại về phân
loại thú Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam như: Hill (1963), Mohr (1960-1965),
Groves (1972), Marshall (1977), Lekagul và Nelly (1977),…(Theo Đào Văn Tiến,
1985) [15].
Sau năm 1975 đất nước thống nhất, việc nghiên cứu về khu hệ động vật ở
các địa phương vẫn được tiếp tục. Năm 1981, Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà
nước tổng kết công tác điều tra cơ bản khu hệ tài nguyên sinh vật ở Miền Bắc giai
đoạn 1955-1975 và xuất bản cuốn “Kết quả Điều tra cơ bản động vật ở Miền Bắc
Việt Nam”. Trong đó thống kê được 109 loài và phân loài thú (Đặng Huy Huỳnh,
Phạm Trọng Ảnh, Cao Văn Sung. Bùi Kính, 1981), nâng tổng số loài thú được
thống kê ở Miền Bắc nước ta lên 169 loài (202 loài và phân loài) thuộc 32 bộ, 11 họ
[14].
Trong số các báo cáo nghiên cứu về khu hệ thú có thể liệt kê đến Báo cáo về
Động vật Tây Nguyên của Đặng Huy Huỳnh và cộng sự trong “Báo các khoa học
của Chương trình điều tra tổng hợp vùng Tây Nguyên 1976-1980” với 102 loài thú,
chiếm tới 1/3 tổng số loài thú phân bố ở Việt Nam (Đặng Huy Huỳnh và cộng sự,
1984) [11].


do Đặng Huy Huỳnh làm chủ biên đã công bố cuốn “Danh lục các loài thú
(Mammalia) Việt Nam” trong đó thống kê 223 loài thú thuộc 37 họ, 12 bộ có ở Việt


9

Nam với các thông tin về vùng phân bố, tình trạng, mức độ quý hiếm, số lượng, giá
trị sử dụng của chúng [13]. Năm 2000, Lê Vũ Khôi, cập nhật các kết quả nghiên
cứu sau đó của nhiều tác giả đã xuất bản cuốn “Danh lục các loài thú ở Việt Nam”
nêu 252 loài thú bao gồm 298 loài và phân loài thuộc 40 họ, 14 bộ [41].
Gần đây, do quan hệ quốc tế và sự quan tâm của Nhà nước các nghiên cứu
về thú được tiếp tục đẩy mạnh và góp phần phát hiện mới cho khoa học một số loài
thú lớn như Pseudoryx nghetinhensis, Mang lớn Megamuntiacus vuquangensis,
Mang Trường Sơn Muntiacus truongsonensis và nhiều loài thú nhỏ như Thỏ vằn
Nesolagus timminsii và Dơi. Bên cạnh đó, xuất hiện thêm một số công trình của các
tác giả khác như: “Sổ tay ngoại nghiệp nhận diện các loài thú Khu vực Phong NhaKẻ Bàng. (Phạm Nhật, Nguyễn Xuân Đặng và Gert Polet, 2001)”; “Sổ tay ngoại
nghiệp nhận diện các loài thú của Vườn Quốc gia Cát Tiên. (Phạm Nhật và Nguyễn
Xuân Đặng, 2000)”; “Sổ tay ngoại nghiệp nhận diện các loài thú lớn của Khu Bảo
tồn Thiên nhiên Pù Mát. (Phạm Nhật và Nguyễn Xuân Đặng, 2001); “Thú Linh
trưởng Việt Nam, (Phạm Nhật, 2002)”, “Nhận dạng một số loài Dơi ở Việt Nam.
(Nguyễn Trường Sơn và Vũ Đình Thống, 2006”;vv… được biên soạn nhằm phục
vụ công tác nhận dạng các loài hoặc nhóm loài thú ở các Vườn Quốc gia và Khu
Bảo tồn Thiên nhiên [21].

1.1.2 Nghiên cứu về Chim
Về nghiên cứu chim ở Đông Dương cũng có một lịch sử dài thu hút nhiều
nhà sinh học đến nghiên cứu.
Tài liệu nghiên cứu chim đầu tiên ở Đông dương là bản mô tả loài Gà rừng
Gallus gallus của Carl von Linné với tiêu bản bắt được đầu tiên ở đảo Côn Lôn
(Carl von Linné, 1758, Systema naturae, 1, tr.158). Sau đó năm 1788, Gmelin mô tả

chim ở Miền Nam Việt Nam thời gian này có P. Wildash, B. King, M.Woodcock…
Những năm gần đây được sự quan tâm của Nhà nước và mở rộng hợp tác với
tổ chức Bảo tồn Chim quốc tế (Birdlife) nên có nhiều chuyên gia nước ngoài nghiên
cứu về chim trong khu vực Đông Nam Á như: J. Tordoff, J.C Eames, C. Robson, E.
Dickinson, T. Inskipp, N. Linsey, W. Duckworth và trong nước có thêm: Lê Trọng
Trải, Lê Mạnh Hùng, Nguyễn Lân Hùng Sơn vv…Đáng chú ý, một số cuốn sách
được coi là tài liệu cơ bản để tra cứu chim ở Việt Nam lần lượt được xuất bản như:


11

“Birds of South Vietnam” (Wildash Philip, 1968) [48]; “Sinh học của những loài
chim thường gặp ở Việt Nam” (Võ Quý, 1971); “Chim Việt Nam-Hình thái và phân
loại”, tập I (Võ Quý, 1975), tập II (Võ Quý, 1981) [63], [64]; “Chim Việt Nam”
(Nguyễn Cử, Lê Trọng Trải và Karen Philipps, 2000) [48]. Trong khu vực thời kỳ
này cũng xuất hiện một số công trình nghiên cứu về chim toàn diện hơn được xuất
bản như: “Bird of South-East Asia” (B. King, M Woddcock và E.C. Dickinson,
1975,…1993) [87]; “Bird Guide of Thailand” (B. Lekagul và E.W. Cronin, 1974)
[88]; “A Field guide to the Bird of South-East Asia” (C. Robson, 2000) [96]. Cho
đến thời điểm năm 2000, đã xác định được ở Việt Nam có 856 loài chim chiếm
khoảng 9% tổng số loài chim trên toàn thế giới (Nguyễn Cử, Lê Trọng Trải và
Karen Philipps, 2000) [48]. Sau khi một số loài mới cho khoa học và loài mới được
phát hiện và ghi nhận bổ sung, hiện nay tổng số loài chim đã biết ở Việt Nam đã lên
tới gần 900 loài (Lê Trọng Trải, thông tin cá nhân, 2007).

1.1.3 Nghiên cứu về Bò sát, Lưỡng cư
Ngay từ thế kỷ XIX những nghiên cứu về khu hệ bò sát, lưỡng cư đã được
một số nhà khoa học nước ngoài tiến hành.
Năm 1885, các nghiên cứu về phân loại của Tirant đã mô tả được 17 loài
lưỡng cư. Năm 1893, Vaillante cũng có những nghiên cứu về phân loại. Năm 1901,

Ngoài ra nghiên cứu về bò sát lưỡng cư thời kỳ này còn có các nhà nghiên
cứu khác như Anderson L.G; Boulenger G.A; Angel F…[53].
Trong giai đoạn từ năm 1945-1954, do chiến tranh chống Pháp việc nghiên
cứu động thực vật nói chung, trong đó có nghiên cứu về bò sát, lưỡng cư bị ngưng
trệ.
Từ năm 1954 đến 1975 việc nghiên cứu được tiếp tục trở lại và chủ yếu do
các nhà khoa học Việt Nam thực hiện và được Trần Kiên cùng cộng sự tổng kết
trong công trình “Kết quả điều tra Bò sát, Ếch nhái (1956-1976) Miền Bắc Việt
Nam” xuất bản năm 1981 [61].
Trong những công trình nghiên cứu về động vật nói chung, Đào Văn Tiến đã
có nhiều đóng góp và đào tạo các chuyên gia về lĩnh vực nghiên cứu bò sát, ếch
nhái. Trong giai đoạn từ 1977-1982, các khóa định loại rùa, cá sấu, thằn lằn, rắn và


13

ếch nhái của ông đã được công bố và góp phần rất lớn cho việc xác định thành phần
loài của khu hệ bò sát, lưỡng cư ở Việt Nam [16];[17];[19];[20];[18].
Sau năm 1975, đặc biệt là trong thời gian từ 1990 do điều kiện hợp tác
nghiên cứu được mở rộng, việc xây dựng, thành lập các Vườn Quốc gia và Khu Bảo
tồn Thiên nhiên đòi hỏi phải tiến hành khảo sát đánh giá về giá trị và hiện trạng tài
nguyên nên các hoạt động nghiên cứu được diễn ra mạnh mẽ. Thành phần, số lượng
loài bò sát, lưỡng cư tăng lên nhanh chóng do được bổ sung nhiều từ các hoạt động
này. Đội ngũ các nhà nghiên cứu về bò sát lưỡng cư cũng được tăng cường. Các
nghiên cứu về bò sát và lưỡng cư giai đoạn này có thêm Nguyễn Khắc Hường
(1978) nghiên cứu về rùa biển; Bùi Văn Dương (1978) nghiên cứu về rắn biển;
Nguyễn Văn Sáng (1982) nghiên cứu về rắn trên cạn và nước ngọt; Hồ Thu Cúc
(1982), nghiên cứu về lưỡng cư; Hoàng Xuân Quang (1993), nghiên cứu về bò sát
và lưỡng cư trên cạn và nước ngọt [53]…
Năm 1996, trong công trình “Danh lục Bò sát và Ếch nhái Việt Nam”

Sauvage,1878) [45]…Sau đó là hàng loạt các tác giả khác như L. Vaillant (1891;
1892, 1904); P.Chevey (1930; 1932,1937,1940); R. Bourret (1927) cho đến H.W
Fowler (1939); J. Pellegrin (1906, 1909, 1933, 1937,1940); J. Durant (1940); J.
Chaux và P.W. Fang (1942, 1943); J.Chaux, J.Fang (1949) [45]. Sau ngày Miền
Bắc hoàn toàn giải phóng việc nghiên cứu về cá chủ yếu do đội ngũ các nhà ngư
loại học Việt Nam đảm nhận. Hàng loạt các công trình nghiên cứu đã được thực
hiện và công bố: Đào Văn Tiến và Mai Đình Yên (1959, 1960); Mai Đình Yên
(1963, 1964, 1966, 1969) [45]; K. Kuronuma (1961); N. Kawamoto, Nguyễn Việt
Trường, Trần Thị Tuy Hòa (1972)…Sau 1975, ngoài các tác giả trên còn có thêm
Trần Thị Thu Hương (1977); Nguyễn Văn Thiện (1978); Nguyễn Văn Trọng, Lê
Hoàng Yến, Hứa Bạch Loan (1992) [47], Nguyễn Thái Tự (1995); Nguyễn Hữu
Dực (1999); Nguyễn Kim Sơn (2000) [52] vv.
Hai tác phẩm tổng kết các nghiên cứu về cá nước ngọt được coi là tương đối
hoàn chỉnh và phản ánh một cách cơ bản khu hệ cá nước ngọt Việt Nam do Mai
Đình Yên và các cộng sự đã được xuất bản đó là: “Định loại cá nước ngọt Miền Bắc
Việt Nam (Mai Đình Yên, 1978)” [45] giới thiệu 201 loài cá có ở Bắc Bộ với các
đặc điểm hình thái một cách hệ thống từ theo thứ tự từ bậc Bộ cho đến chi tiết về


15

đặc điểm hình thái, phân bố và mức độ phổ biến của từng loài; và “Định loại các
loài cá nước ngọt Nam Bộ (Mai Đình Yên và cộng sự, 1992)” [47] cũng theo hình
thức tương tự giới thiệu 255 loài cá có ở Nam Bộ. Ngoài ra, tài liệu “Thành phần
loài và sự phân bố cá nước ngọt Việt Nam (Mai Đình Yên, Nguyễn Thái Tự,
1986)”cũng đề cập đến thành phần loài và phân bố cá Việt Nam [52].
Gần đây, các nghiên cứu về cá nước ngọt chủ yếu tập trung vào nghiên cứu
khu hệ của từng địa phương tập trung vào các khu vựcVườn Quốc gia và Khu Bảo
tồn Thiên nhiên. Các nghiên cứu này đang từng bước góp phần bổ sung hoàn thiện
hiểu biết về khu hệ cá Việt Nam. Năm 1994, tại hội thảo Đa dạng sinh học Bắc

Trước khi thành lập Vườn Quốc gia Cúc Phương, (từ năm 1962 trở về trước)
hầu như không có hoạt động nghiên cứu nào được tiến hành tại đây cho đến khi Đội
Điều tra rừng của Ty Lâm nghiệp Ninh Bình phát hiện về tính nguyên sinh của khu
rừng dẫn đến việc xúc tiến xây dựng khu rừng Cúc Phương trở thành một cơ sở
nghiên cứu khoa học về động thực vật và lâm học nhiệt đới [65].
Ngay sau khi thành lập (năm 1962), Vườn Quốc gia Cúc phương đã tiến
hành các nghiên cứu điều tra cơ bản về khu hệ động thực vật nhằm góp phần nghiên
cứu bảo vệ. Năm 1964, Trạm Nghiên cứu rừng Cúc Phương được thành lập với hơn
30 cán bộ nhân viên và đã có một số chương trình nghiên cứu ban đầu. Trong thời
gian từ 1964-1968, Trạm này đã tiến hành một số điều tra về phân loại thực vật,
động vật. Nhưng nhìn chung, chỉ chủ yếu tập trung vào điều tra phân loại về thực
vật và thảm thực vật, còn nghiên cứu động vật do còn thiếu phương tiện tài liệu và
chuyên gia nên hầu như chưa có gì [65].
Đến năm 1969, Phân viện Nghiên cứu Cúc Phương ra đời với nhiều cán bộ
chuyên gia về các lĩnh vực. Phân viện đã tiến hành nghiên cứu một cách quy mô về
các lĩnh vực như: phân loại thực vật, thảm thực vật, địa thực vật, tăng trưởng cây
rừng, động vật, côn trùng, khí hậu thủy văn, sinh lý thực vật, thổ nhưỡng, phân loại
đất. Nhưng do hoàn cảnh chiến tranh ngày càng ác liệt, việc phối hợp nghiên cứu
với các nước xã hội chủ nghĩa gặp nhiều khó khăn, hơn nữa điều kiện kinh tế phục
vụ cho công tác nghiên cứu không đáp ứng đủ nên đến năm 1972, Phân viện này
phải giải thể và tổ chức lại thành một Trạm nghiên cứu nhỏ với 35 cán bộ nhân viên
làm nghiên cứu khoa học với kinh phí hạn chế và hoạt động bị thu hẹp [65].
Ra đời và tồn tại trong một một thời gian ngắn ngủi với những bước thăng
trầm nhưng giai đoạn này các cơ sở nghiên cứu trên cũng thu được một số kết quả



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status