Ứng mô hình DPSIR trong việc nghiên cứu xây dựng chỉ thị môi trường tại huyện Điện Biên - tỉnh Điện Biên. - Pdf 29


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

PHẠM THỊ HỒNG LOAN Tên đề tài:

ỨNG DỤNG MÔ HÌNH DPSIR TRONG VIỆC NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG
CHỈ THỊ MÔI TRƯỜNG TẠI HUYỆN ĐIỆN BIÊN - TỈNH ĐIỆN BIÊN

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Khoa học Môi trường
Khoa : Môi Trường
Khoá học : 2010 – 2014
Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS. Đỗ Thị Lan
Khoa Môi trường – Trường Đại học Nông Lâm
74
3.4.2 Phương pháp thu thập thông tin 27
3.4.3 Phương pháp phân tích thống kê và liệt kê 27
3.4.4 Phương pháp tổng hợp, so sánh, đánh giá 27
3.4.5 Phương pháp mô hình DPSIR để phân tích đánh giá hiện trạng môi
trường 28
Phần 4:KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 29
4.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên 29
4.1.1. Điều kiện tự nhiên 29
4.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội 33
4.1.3. Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ở địa phương 38
4.2. Hiện trạng môi trường 39
4.2.1. Hiện trạng môi trường nước 39
4.2.2. Hiện trạng chất lượng môi trường đất 40
4.2.3 Hiện trạng môi trường không khí 41
4.3. Phân tích mô hình DPSIR cho huyện Điện Biên 42
4.3.1. Xác định các động lực chi phối môi trường trong khu vực 42
4.3.2. Các đáp ứng của địa phương và xã hội 55
4.4. Đề xuất bộ chỉ thị môi trường cho khu vực nghiên cứu 55
4.4.1. Các chỉ thị động lực (D) phát triển kinh tế - xã hội, gây biến đổi áp
lực (P) đối với môi trường 56
4.4.2. Các chỉ thị áp lực (P) về chất thải ô nhiễm gây biến đổi hiện trạng
môi trường 57
4.4.3. Các chỉ thị về hiện trạng (S) môi trường (chất lượng/ô nhiễm môi
trường) 59
4.4.4. Các chỉ thị về tác động (I) của ô nhiễm môi trường đối với sức khoẻ, cuộc
sống của con người, đối với các hệ sinh thái và đối với kinh tế - xã hội 60


DANIDA : Cơ quan Phát triển Quốc tế Đan Mạch
DPSIR : Mô hình thể hiện mối quan hệ tương hỗ
giữa động lực (P), áp lực (P), hiện trạng
(S), tác động (I), đáp ứng (R)
D : Driver (Động lực chi phối)
EEA : Tổ chức môi trường Châu Âu
EU : Liên minh Châu Âu
HTMT : Hiện trạng môi trường
HTX : Hợp tác xã
I : Impact (Tác động)
KT - XH : Kinh tế - xã hội
MT : Môi trường
OECD : Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
P : Pressure (Áp lực)
PTBV : Phát triển bền vững
QLMT : Quản lý môi trường
S : Status (Hiện trạng)
SXKD : Sản xuất kinh doanh
R Response (Đáp ứng)
UBND Uỷ ban nhân dân
VLXD Vật liệu xây dựng
76
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Khả năng cung cấp thông tin môi trường của báo cáo HTMT 19
Bảng 4.1. Hiện trạng sử dụng đất huyện Điện Biên 32
Bảng 4.2. Diện tích và năng suất lúa 34
Bảng 4.3.Diện tích và sản lượng một số cây lương thực 35

Hình 4.7.Biểu đồ số hộ gia đình sử dụng phân bón hóa học 48
Hình 4.8 Biểu đồ vị trí chuồng gia súc của các hộ gia đình 49
Hình 4.9. Sơ đồ phân tích chuỗi DPSIR cho động lực chi phối “ Công
nghiệp và tiểu thủ công nghiệp” 51
Hình 4.10. Sơ đồ phân tích chuỗi DPSIR cho động lực chi phối “Thương
mại và dịch vụ” 52
Hình 4.11. Sơ đồ phân tích chuỗi DPSIR cho động lực chi phối “Trình độ
dân trí” 53
Hình 4.12.Biểu đồ biện pháp cải tạo đất của các hộ gia đình 54
Hình 4.19. Sơ đồ ứng dụng mô hình DPSIR trong xây dựng chỉ thị môi
trường tại huyện Điện Biên 64

1

Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Ngày nay thế giới đã và đang đứng trước nguy cơ bùng nổ dân số từ đó
dẫn đến khủng hoảng về lương thực, năng lượng, tài nguyên và môi trường.
Những khủng hoảng này gây ảnh hưởng lớn đến tất cả các thành phần môi
trường, làm cho chất lượng sống của con người có nguy cơ bị suy giảm. Môi
trường đang là 1 vấn đề chung của nhân loại, được toàn thế giới quan tâm. Có
thể nói thế giới đang phải đứng trước nguy cơ khủng hoảng môi trường ngày
càng lan rộng, mà nguyên nhân chính là con người. Tuy nhiên cũng chỉ có con
người mới có thể khắc phục được tình trạng này. Khắc phục khủng hoảng môi
trường chính là góp phần cải thiện và phát triển chất lượng sống của con người.
Cùng với sự phát triển của thế giới, với chủ chương công nghiệp hóa
hiện đại hóa của đảng và nhà nước đã thúc đẩy đầu tư, tăng cường khai thác
tài nguyên và phát triển các ngành công nghiệp đã và đang ảnh hưởng đến tài
nguyên thiên nhiên và môi trường tự nhiên; gây nên nguy cơ mất cân bằng

Nguyên, dưới sự hướng dẫn của cô giáo PGS.Ts. Đỗ Thị Lan, em tiến hành
thực hiện đề tài: “Ứng mô hình DPSIR trong việc nghiên cứu xây dựng chỉ
thị môi trường tại huyện Điện Biên - tỉnh Điện Biên”
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
Sử dụng mô hình DPSIR để xác định, xây dựng các chỉ thị môi trường
và các vấn đề liên quan đến công tác quản lý bảo vệ môi trường tại huyện
Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
1.3. Mục đính nghiên cứu
- Nghiên cứu điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội tại huyện Điện Biên, tỉnh
Điện Biên.
- Xác định, xây dựng các chỉ thị môi trường dựa vào phân tích mô
hình DPSIR.
- Đề xuất giải pháp nhằm cải thiện môi trường và chất lượng cuộc sống
của người dân.
1.4. Ý nghĩa của đề tài
1.4.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu
- Đề tài là cầu nối giữa những kiến thức lý thuyết mà sinh viên đã học
được với thực tế.
- Tạo cơ hội cho sinh viên tiếp cận trực tiếp với để hiểu rõ hơn về các
kiến thức đã học được trong sách vở và áp dụng lý thuyết vào thực tế.
3

- Nâng cao kiến thức, kỹ năng và rút ra nhiều kinh nghiệm thực tế phục
phụ cho công tác sau khi ra trường.
- Là tài liệu tham khảo cho nghiên cứu khoa học.
1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Là cơ sở để lựa chọn và áp dụng các biện pháp quản lý môi trường
phù hợp với điều kiện của địa phương.
Nâng cao nhận thức của người dân về công tác quản lý và bảo vệ môi
trường tại khu vực sinh sống.

- Ô nhiễm môi trường là việc làm biến đổi tài sản của môi trường,
tác động xấu và phá vỡ các tiêu chuẩn môi trường. (Luật Bảo vệ môi
trường 2005)[8]
- Suy thoái môi trường là việc gây tác động xấu đến các yếu tố cấu
thành môi trường cả về mặt lượng và chất, tác động xấu đến cuộc sống con
người và tự nhiên. (Luật Bảo vệ môi trường 2005)[8]
- Báo cáo hiện trạng môi trường là báo cáo cung cấp các thông tin về
hiện trạng và diễn biến môi trường, nguyên nhân gây ô nhiễm, suy thoái môi
trường và tác động tới sức khỏe con người, kinh tế xã hội, hệ sinh thái và môi
trường tự nhiên, từ đó phân tích nhu cầu xây dựng các chính sách môi trường
và hiệu quả của các chính sách đó. (Thông tư 08/2010/TT - BTNMT) [2]
- Theo UNEP: Chỉ thị môi trường (Environmeltal Indicator) là một độ
đo tập hợp một số số liệu về môi trường ngành một thông tin tổng hợp về một
khía cạnh của một quốc gia hoặc một địa phương.
- Chỉ thị môi trường: Là thông số cơ bản phản ánh các yếu tố đặc trưng
của môi trường phục vụ mục đích đánh giá, theo dõi diễn biến chất lượng môi
trường, lập báo cáo hiện trạng môi trường. (Thông tư 08/2010/TT - BTNMT) [2]
- Mô hình DPSIR: Là mô hình mô tả mối quan hệ tương hỗ giữa Động
lực - D (phát triển kinh tế - xã hội, nguyên nhân sâu xa của các biến đổi môi
5

trường) - Áp lực - P (các nguồn thải trực tiếp gây ô nhiễm và suy thoái môi
trường)- Hiện trạng - S (hiện trạng chất lượng môi trường) - Tác động - I (tác
động của ô nhiễm môi trường đối với sức khỏe cộng đồng, hoạt động phát
triển kinh tế - xã hội và môi trường sinh thái) - Đáp ứng - R (các giải pháp
bảo vệ môi trường). (Thông tư 08/2010/TT - BTNMT) [2]
- Các loại chỉ thị môi trường theo mô hình DPSIR 5 loại chỉ thị môi
trường sau:
+ Các chỉ thị về động lực (D) phát triển kinh tế - xã hội, gây biến đổi áp
lực đối với môi trường.

2.1.2. Cơ sở pháp lý
Một số văn bản pháp lý có liên quan về mô hình DPSIR và ứng dụng
trong việc nghiên cứu chỉ thị môi trường:
- Luật bảo vệ môi trường Việt Nam số 52/2005/QH11 ngày 29/11/2005
của Quốc hội.
- Luật Bảo vệ và phát triển rừng số 29/2004/QH11 ngày 30/12/2004
của Quốc hội.
- Luật Đất đai số 13/2003/QH11 ngày 26/11/2003 của Quốc hội.
- Nghị định 80/2006/NĐ - CP ngày 09/08/2006 của chính phủ Quy định
chi tiết về hướng dẫn thi hành một số điều luật của Luật bảo vệ môi trường.
- Nghị định 21/2008/NĐ - CP ngày 28/02/2008 sửa đổi, bổ sung một số
điều của nghị định 80/2006/NĐ - CP ngày 09/08/2006 của Chính phủ về việc
quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật bảo vệ môi trường.
- Nghị định 117/2009/NĐ - CP ngày 31/12/2009 quy định về việc xử lý
vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
- Thông tư 09/2009/TT - BTNMT ngày 11 tháng 08 năm 2009 quy định
về xây dựng và quản lý các chỉ thị môi trường quốc gia.
- Thông tư 10/2009/TT - BTNMT ngày 11/08/2009 quy định về bộ chỉ
thị môi trường quốc gia đối với môi trường không khí, nước mặt lục địa, nước
biển ven bờ.
- Thông tư 08/2010/TT - BTNMT ngày 18/03/2010 quy định việc xây
dựng Báo cáo hiện trạng môi trường cấp Quốc gia, Báo cáo tình hình tác động
môi trường của ngành, lĩnh vực và Báo cáo hiện trạng môi trường cấp tỉnh.
- Thông tư 26/2011/TT - BTNMT ngày 18/04/2011 hướng dẫn về
đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và cam kết
bảo vệ môi trường.
7

- QCVN 08:2008/BTNMT - Chất lượng nước mặt.
- Nghị Quyết 41 - NQ/TW của Bộ chính trị về bảo vệ môi trường trong

năm,… Rõ ràng là cường độ của các áp lực này sẽ làm thay đổi đáng kể điều
kiện tự nhiên vật lý và sinh thái vốn có của vùng. Hơn nữa, phần lớn các thay
đổi đó diễn ra theo chiều hướng tiêu cực.
- Các thông số về hiện trạng chất lượng môi trường (STATE
indicators). Các thông số hiện trạng chất lượng môi trường giúp cung cấp
thông tin định tính và định lượng về đặc điểm và tính chất của các yếu tố vật
lý, hoá học và sinh thái các thành phần môi trường vùng (đất, nước, không
khí, rừng, động thực vật hoang dã, hệ sinh thái thuỷ sinh). Chất lượng môi
trường bị suy giảm dần và ảnh hưởng xấu tới cộng đồng và hệ sinh thái tự
nhiên trong vùng.
- Các thông số phản ánh các tác động tiêu cực tới đa dạng sinh học, tới
sức khoẻ và sự ổn định, phồn vinh của cộng đồng (IMPACT indicators).
- Các thông số thể hiện các biện pháp đối phó với các hậu quả môi
trường và xã hội (RESPONSE indicators).
Nhìn vào Hình 2.1: Có 5 hợp phần có mối quan hệ tương tác qua lại
theo hai chiều: chiều thuận và chiều phản hồi. Với cách xây dựng mô hình
nhận thức theo chuỗi như vậy, DPSIR là một công cụ hiệu quả để xác định,
phân tích và đánh giá các mối quan hệ rất phức tạp của hệ thống môi trường
tự nhiên và hệ thống kinh tế - xã hội. Vì vậy, phương pháp này thường được
áp dụng cho xây dựng quy hoạch và chiến lược quản lý môi trường vùng và
quốc gia nhằm đảm báo phát triển bền vững. Với các ưu điểm của mô hình
9

DPSIR ta xây dựng bộ chỉ thị môi trường của huyện Điện Biên, tỉnh Điện
Biên. (Lê Thạc Cán, 2005) [3]
2.2.2. Lịch sử hình thành và phát triển của mô hình DPSIR
D P S I R là chữ đầu của bốn từ Anh ngữ:
- Driving Forces, có nghĩa là lực điều khiển
- Pressure, có nghĩa là áp lực,
- State, có nghĩa là tình trạng,

này.Sự phát triển mô hình không dừng lại đó. Trong những năm gần đây
trong soạn thảo báo cáo tình trạng môi trường cũng như xây dựng chỉ thị môi
trường mô hình DPSIR, như đã giải thích trên đây đã thay thế mô hình P S R.
Quá trình hình thành mô hình DPSIR thực chất là quá trình phát triển
sự mong muốn hiểu biết đầy đủ về tình trang môi trường. Quá trình này có thể
biểu thị một cách đơn giản như ở hình 3 sau đây:
S
P - S
P - S- R
P - S- I - R
D - P- S - I - R
Hình 2.2. Quá trình phát triển từ S đến DPSIR

D PS I
kinh tế môi trường & thiên nhiên
Các ngành Sản xuất Xả thải Tình trạng Tình trạng Chức năng Tác
động
- Công ng. Cơ cấu SX Đa dạng SH vật lý sinh thái tới MT
- Nông ng. Công nghệ Sử dụng Tình trạng -Nước Tác động
- Năng lư. Tiêu dùng tài ng. hóa học - Rừng tới KT Công cụChính sách Chính sách Xác định Xác định R
KT vĩ mô ngành môi trường mục tiêu ưu tiên
Hình 2.3. Mô hình DPSIR của Viện NEIR Đan Mạch 11
Những thay đổi trong việc
sử dụng đất

Các rủi ro về công nghệ

Hiện trạng môi trường
Hiện trạng vật lý:
• lượng nước và dòng chảy
• Vận chuyển trầm tích, lắng đọng
bùn
• hình thái
• nhiệt độ, khí hậu
Hiện trạng hoá học:
• nồng độ chất ô nhiễm trong
nước, không khí, đất
• hàm lượng chất hữu cơ, ô xy hoà
tan, dưỡng chất trong nước
Hiện trạng sinh học:
• Mất cân bằng hệ sinh thái, tuyệt
chủng một số loài
• hiện trạng thực vật, côn trùng,
động vật, loài thuỷ sinh, các loài
chim v.v

- Tác động
- Đa dạng sinh học
- Hệ sinh thái
- Tài nguyên thiên nhiên;
- Con người:
• sức khoẻ,

dân số
Các ngành tương ứng, ví dụ:
• Nông nghiệp
• Giao thông vận tải
• Nguồn nước
• Năng lượng bao gồm cả
thuỷ điện
• Công nghiệp
• Xây dựng
• Dịch vụ
• Các hộ gia đình
• Nông nghiệp
• Thuỷ sản

12
2.3. Áp dụng mô hình DPSIR trong xây dựng các chỉ thị môi trường
Mô hình DPSIR được vận dụng trong biên soạn báo cáo hiện trạng môi
trường cũng như trong xây dựng các chỉ thị môi trường.
Thí dụ để hiểu rõ tình trạng ô nhiễm không khí tại một địa bàn cần xây
dựng xây dựng các CTMT về ô nhiễm không khí. Các chỉ thị này cho phép
hiểu rõ nguyên nhân sâu xa gây ô nhiễm, áp lực tạo ô nhiễm, tình trạng ô
nhiễm, tác động của ô nhiễm đối với người và đánh giá hiệu quả của các đáp
ứng của xã hội với tình trạng ô nhiễm này. Cụ thể cần có:
- Chỉ thị về động lực: Các chỉ thị này mô tả các yếu tố động lực như gia tăng
dân số, phát triển năng lượng, giao thông. dịch vụ, hoạt động của các hộ gia đình.
- Chỉ thị về áp lực: Các chỉ thị này mô tả mức độ phát thải các khí CO, NO2,
SO2, Pb, O3, bụi lơ lửng, bụi ≤ 10 pm từ các lĩnh vực phát triển nêu trên.

Hình 2.5. Bộ Chỉ thị và các thông tin gắn kết các yêu tố trong mô hình DPSIR
P D
S
Chỉ thị về tính
hiệu quả sinh
thái
Hệ số
phát thải
Các mô hình liên
kết và phân tán

I
Các chỉ thị và mối liên
hệ về mức độ đáp ứng
R
Đánh giá rủi ro;
chi phí và lợi ích
của việc hành

được cung cấp cho người sử dụng.
- Phòng ngừa: Chỉ thị và chỉ số môi trường tóm lược hiện trạng môi
trường và xã hội hiện tại nhằm cho các tín hiệu về sự thay đổi các tình trạng
môi trường.
- Quyết định: Chỉ thị và chỉ số môi trường đưa ra sự hướng dẫn hiệu
quả để hoach định một môi trường bền vững trong tương lai. 15
* Ý nghĩa
Chỉ thị môi trường là cơ sở để lượng hóa chất lượng môi trường, theo
dõi diễn biến chất lượng môi trường, lập báo cáo hiện trạng môi trường. Bộ
Tài nguyên và Môi trường ban hành bộ chỉ thị môi trường quốc gia để áp
dụng trong cả nước.
2.5. Tình hình ứng dụng mô hình DPSIR trên thế giới và Việt Nam
2.5.1. Tình hình ứng dụng mô hình DPSIR trên thế giới
Trước tình trạng môi trường đang có nhiều biến đổi theo chiều hướng
tiêu cực, cả thế giới đang chung tay quản lý và bảo vệ môi trường bằng nhiều
biện pháp. Nhiều hội nghị, hội thảo về môi trường được tổ chức ở nhiều nơi
để cùng nhau tìm ra các biện pháp khắc phục và bảo vệ môi trường.
Nhiều vấn đề môi trường đang ngày càng bị suy thoái mạnh, các nhà
khoa học đã và đang tìm ra những phương pháp thích hợp nhất để khắc phục
những hậu quả môi trường gây ra. Trong số đó có mô hình DPSIR mang hiệu
quả trong việc bảo vệ môi trường. Mô hình này cung cấp cái nhìn tổng quan
bối cảnh vấn đề môi trường, cũng như minh họa và làm rõ những mối quan hệ
nhân - quả nói chung.
Phương pháp đánh giá tổng hợp DPSIR do tổ chức môi trường Châu
Âu (EEA) xây dựng vào năm 1999 là một mô hình nhận thức dùng để xác
định, phân tích và đánh giá các chuỗi quan hệ nguyên nhân - kết quả: Nguyên
nhân gây ra các vấn đề môi trường, hậu quả của chúng và các biện pháp ứng


Hỡnh 2.6. Mụ hỡnh p lc/ hin trng /ỏp ng ca OECD trong tip cn
vn mụi trng
mt s nc nh c, dng m rng ca mụ hỡnh OCED-PSR l - mụ
hỡnh ng lc-ỏp lc-tỡnh trng- tỏc ng - phn hi (DPSIR)- c dựng
xem xột cỏc ng lc hay nguyờn nhõn ca s bin i cng nh nhng tỏc
ng i vi h thng mụi trng, xó hi v kinh t, vin NEIR an Mch
cng xõy dng mụ hỡnh DPSIR riờng theo mi quan h nhõn qu v mụi
P LC
Cỏc hot ng v tỏc
ng ca con ngi
Nng lng
GTVT
Cụng nghip
Nụng nghip
Ng nghip
Khỏc

HIN TRNG
Hin trng hoc tỡnh
trng ca mụi trng

Khụng khớ
Nc

Các đáp ứng
XH(Các quyết
định- hành
động)
17
trường và tài nguyên. Hiện nay mô hình DPSIR đã được ứng dụng phổ biến ở
hầu hết các quốc gia trên thế giới để xây dựng chỉ thị môi trường phục vụ cho
việc quy hoạch và quản lý môi trường.
2.5.2. Tình hình ứng dụng mô hình DPSIR tại Việt Nam
Trong công cuộc xây dựng đất nước hiện nay về kinh tế - văn hoá - xã
hội của Việt Nam đang trên đà phát triển mạnh. Bên cạnh đó, tình trạng Môi
trường của Việt Nam đang bị xuống cấp trầm trọng như suy giảm, cạn kiệt
nguồn tài nguyên, suy thoái và ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí
Với tình hình môi trường hiện nay của nước ta có nhiều nghiên cứu khoa
học nhằm giảm thiểu suy thoái môi trường, nhìn nhận khách quan hơn về môi
trường. Đã có rất nhiều những dự án, đề tài nghiên cứu khoa học có sử dụng mô
hình DPSIR để đánh giá tổng quan môi trường tại khu vực nghiên cứu.
Từ năm 1996, Cục Môi trường bắt đầu triển khai xây dựng bộ chỉ thị
môi trường Quốc gia.
Từ năm 2001, báo cáo HTMT cấp quốc gia và cấp tỉnh thành phố ở
nước ta đã được thực hiện theo mô hình 3 hợp phần Áp lực (P) - Hiện trạng
(S) - Đáp ứng (R). Từ năm 2005 với sự hỗ trợ của dự án thông tin và báo cáo
môi trường do DANIDA tài trợ, Cục BVMT thuộc bộ TN - MT đang xây
dựng “hướng dẫn xây dựng báo cáo HTMT” cấp trung ương và Tỉnh/Thành
phố theo mô hình 5 hợp phần (DPSIR), đồng thời đang nghiên cứu xây dựng
bộ chỉ thị môi trường phục vụ việc lập báo cáo HTMT tổng quan và báo cáo
HTMT theo chuyên đề.

cho lưu vực Sông Sài Gòn Đồng Nai.
Rất nhiều nghiên cứu đang ứng dụng mô hình DPSIR để xây dựng bộ
chỉ thị môi trường cho địa phương mình, vì tính hiệu quả của phương pháp
này nên mô hình DPSIR đang ngày càng được ứng dụng rộng rãi ở Việt Nam.
Một trong những ứng dụng phổ biến nữa của mô hình DPSIR là áp
dụng vào việc xây dựng báo cáo hiện trạng môi trường. Việc sử dụng mô hình
DPSIR để xây dựng báo cáo hiện trạng môi trường đã được quy định trong
thông tư 08/2010/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Sử dụng
mô hình DPSIR để đánh giá hiện trạng môi trường có 2 lợi ích:
- Đánh giá được hiện trạng môi trường một cách trung thực.
- Có khả năng dự báo được xu thế diễn biến môi trường trong tương lai.
Các báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia từ năm 2005 áp dụng mô
hình DPSIR: Báo cáo hiện trạng môi trường của tỉnh Quảng Ngãi năm 2008,

Trích đoạn Giải phỏp về tuyờn truyền, giỏo dục, đào tạo
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status