1
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN NGUYỄN VĂN MINH ỨNG DỤNG MÔ HÌNH DPSIR
TRONG VIỆC XÂY DỰNG CHỈ THỊ MÔI TRƢỜNG
TẠI HUYỆN BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực hiện nghiên cứu luận văn tốt nghiệp cao học chuyên
ngành Khoa họ c môi trườ ng với đề tài: “Ứng dụng mô hình DPSIR trong việc
xây dựng chỉ thị môi trường tại huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn”. Tôi đã nhận
được sự giúp đỡ quý báu của nhiều tập thể, cá nhân trong và ngoài trường.
Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS. TS. Đặng Văn
Minh – Giảng viên hướng dẫn khoa học đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và
giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể, cán bộ Khoa Sau Đại học; Khoa Tài
nguyên và Môi trường - trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, Ban Giám
đốc Sở Tài nguyên và Môi trường, Chi cục Bảo vệ Môi trường Bắc Kạn,
UBND huyện Ba Bể, UBND thị trấn Chợ Rã, UBND xã Phúc Lộc, Quảng
Khê, Nam Mẫu, Mỹ Phương, Chu Hương, đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn
thành đề tài.
Cuối cùng tôi xin gửi đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên,
giúp đỡ tôi trong quá trình thực tập, nghiên cứu thực hiện luận văn lời cảm ơn
chân thành nhất.
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, người thân và bạn bè,
những người đã luôn động viên, giúp đỡ tôi cả về vật chất cũng như tinh thần
trong quá trình học tập và thực hiện đề tài này.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Thái Nguyên, tháng 11 năm 2012
Tác giả Nguyễ n Văn Minh
TCCP : Tiêu chuẩn cho phép.
TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam.
XDCB : Xây dựng cơ bản
XĐGN : Xoá đói giảm nghèo
VQG : Vườn Quốc gia
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
Bảng 1.1: Khả năng cung cấp thông tin môi trường của các mô hình báo
cáo HTMT 16
Bảng 3.1: Hiện trạng sử dụng đất huyện Ba Bể 30
Bảng 3.2: Trình độ dân trí của 6 xã nghiên cứu 38
Bảng 3.3: Dự báo dân số huyện Ba Bể đến năm 2020 40
Bảng 3.4: Nguồn thải của các hộ gia đình tại 6 xã nghiên cứu 41
Bảng 3.5: Điều tra việc sử dụng nước của 6 xã nghiên cứu. 53
Bảng 3.6: Chất lượng môi trường nước mặt tại Ba Bể 54
Bảng 3.7: Thông số môi trường nước huyện Ba Bể 56
Bảng 3.8: Kết quả phân tích đánh giá hiện trạng chất lượng môi trường
không khí trên địa bàn huyện Ba Bể 58
Bảng 3.9: Kết quả phân tích đất tại huyện Ba Bể 61
Bảng 3.10: Lượng rác thải tại 6 xã nghiên cứu 67
Bảng 3.11: Nguồn đổ rác thải tại 6 xã nghiên cứu 68
Bảng 3.12: Bộ thông số giám sát môi trường huyện Ba Bể 83
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
6
DANH MỤC CÁC HÌNH
thành vấn đề chung của nhân loại, được toàn thế giới quan tâm, có thể nói thế giới
đang phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng mới, đó chính là cuộc khủng hoảng
môi trường, mà nguyên nhân chính gây ra cuộc khủng hoảng này chính là con
người, tuy nhiên cũng chỉ có con người mới có thể khắc phục được tình trạng này.
Khắc phục khủng hoảng môi trường chính là góp phần cải thiện và phát triển cuộc
sống của con người [16].
Nằm trong hoàn cảnh chung của thế giới đặc biệt là khu vực Châu Á – Thái
Bình Dương, môi trường Việt Nam đang xuống cấp cục bộ, có nơi bị huỷ hoại
nghiêm trọng, gây nên nguy cơ mất cân bằng sinh thái, sự cạn kiệt nguồn tài
nguyên, làm ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống và phát triển bền vững của đất
nước. Sự phát triển kinh tế theo chủ trương Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá của
Đảng và Nhà nước đã thúc đẩy đầu tư, tăng cường khai thác tài nguyên và phát triển
các ngành công nghiệp đã tác động mạnh đến tài nguyên thiên nhiên và môi trường
tự nhiên.
Với tinh thần đó, Đảng ta chủ trương “Kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế
- xã hội với bảo vệ và cải thiện môi trường theo hướng phát triển bền vững, tiến tới
bảo đảm cho mọi người dân đều được sống trong môi trường có chất lượng tốt về
không khí, đất, nước, cảnh quan và các nhân tố môi trường tự nhiên khác đạt chuẩn
mực tối thiểu do Nhà nước quy định” [5]
Để đánh giá một cách đầy đủ và tổng thể về hiện trạng, diễn biến môi trường
trong quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn;
hậ u quả củ a ô nhiễ m môi trườ ng , bao gồ m: thiệ t hạ i đố i vớ i sứ c khỏ e cộ ng đồ ng ,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
8
thiệ t hạ i về kinh tế , thiệ t hạ i đố i vớ i cá c hệ sinh thá i , đặ c biệ t là hệ sinh thá i nông
nghiệ p; nhữ ng vấ n đề môi trườ ng bứ c xú c và điể m nó ng về môi trườ ng cầ n ưu tiên
giải quyết; các hoạt động của cộng đồng nhằm nâng cao nhận thức về bảo vệ môi
trườ ng; đồng thời là cơ sở để đánh giá các chính sách, quy định về môi trường để
các cấp chính quyền, nhà quản lý định hướng phát triển kinh tế - xã hội một cách
- Xác định nguyên nhân gây ảnh hưởng đến môi trường ở khu vực nghiên cứu
dựa trên nghiên cứu các tác động: lực điều khiển (driving forces), áp lực (pressure),
tình trạng (state), tác động (impact), đáp ứng (response).
- Xây dựng chỉ thị môi trường dựa trên cơ sở phân tích mô hình DPSIR.
- Đề xuất các biện pháp quản lý, khắc phục và giảm thiểu ô nhiễm môi trường
huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.
3. Yêu cầu của đề tài
- Điều tra điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, hiện trạng môi trường, tình hình
sử dụng tài nguyên của huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.
- Lấy mẫu và phân tích một số chỉ tiêu về môi trường.
- Xây dựng được mô hình DPSIR theo từng tác động, từ đó xác định bộ chỉ thị
môi trường.
4. Ý nghĩa của đề tài
* Ý nghĩa khoa học:
- Đề tài nghiên cứu ứng dụng mô hình DPSIR trong việc xây dựng chỉ thị môi
trường tại huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.
- Nâng cao kiến thức, kỹ năng và rút ra kinh nghiệm thực tế phục vụ cho công
tác quản lý sau này.
- Vận dụng và phát huy kiến thức đã học tập và nghiên cứu.
* Ý nghĩa trong thực tiễn:
- Đánh giá hiện trạng môi trường, xác định được những tác động, áp lực gây ô
nhiễm môi trường tại địa phương và mức độ ảnh hưởng của chúng.
- Xây dựng được bộ chỉ thị môi trường phục vụ cho công tác đánh giá chất
lượng môi trường, quy hoạch môi trường và quản lý môi trường.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
10
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
+ Chỉ thị mô tả: Mô tả mức độ gia tăng của các yếu tố về nhân lực, thiết bị,
phương tiện…có thể gây ra các áp lực về môi trường. Ví dụ; Sự phát triển dân số;
Tốc độ đô thị hoá ngày càng nhanh.
+ Chỉ thị đánh giá hoạt động: Bao gồm các chỉ thị phản ánh sự thay đổi chất
lượng môi trường do các hoạt động của địa phương đó gây ra. Ví dụ ô nhiễm nguồn
nước mặt do hoạt động khai thác khoáng sản.
+ Chỉ thị hiệu quả: Phản ánh mối quan hệ trong chuỗi nhân quả giữa các thành
phần trong mô hình DPSIR. Chỉ thị hiệu quả phù hợp nhất cho quá trình hoạch định
chính sách là các chỉ thị liên quan giữa áp lực môi trường (P) và các hoạt động của
con người (D). Những chỉ thị này cho thấy rõ tính hiệu quả môi trường của quy
trình sản xuất và của chính các sản phẩm, Ví dụ: Hiệu quả trong sử dụng tài nguyên,
lượng phát thải, chất thải trên mỗi đơn vị sản lượng.
+ Chỉ thị đáp ứng: Phản ánh hành động đáp ứng của Nhà nước trong quản lý
môi trường, cải thiện chất lượng môi trường. Ví dụ Chi phí cải tạo môi trường bị ô
nhiễm
+ Chỉ thị đánh giá độ bền vững môi trường: Là tập hợp nhiều thông số đặc
trưng về môi trường cho phép đánh giá tổng hợp tình trạng môi trường của đơn vị
nào đó. Ví dụ nhóm đa dạng sinh học: Gồm thành phần các loại thực vật, thành
phần các loại động vật, số lượng cá thể loài.
+ Chỉ thị đề mục: Chỉ thị này không nêu số lượng, hiệu quả của một hành
động nào mà chỉ nêu tên (Đề mục) của hành động hoặc vấn đề cần đề cập trong báo
cáo hiện trạng môi trường (HTMT).(Lê Trình, 2007)[18]
1.2. Cơ sở pháp lý của đề tài
Một số văn bản pháp lý có liên quan về mô hình DPSIR và ứng dụng trong
việc nghiên cứu chỉ thị môi trường:
- Luật bảo vệ môi trường Việt Nam năm 2005.
- Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004.
- Luật Đất đai năm 2003.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13
- Vai trò trong việc hoạch định chính sách:
+ Đặt ra các mục tiêu, chỉ tiêu.
+ Theo dõi việc thực hiện chính sách.
+ Hoạch định, thực thi, đánh giá hiệu quả của chính sách.
- Cung cấp thông tin cho cộng đồng về vấn đề môi trường quan tâm: Chuyển
tải thông tin, tuyên truyền, nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi của cộng đồng.
Các chức năng chủ yếu của hệ thống chỉ thị:
- Hiệu quả thông tin: Chúng giảm số lượng các đo lường và các thông số mà
cần có cho việc trình bày hiện trạng môi trường một cách bình thường.
- Đơn giản hóa thông tin: Chỉ thị và chỉ số môi trường làm đơn giản hóa quá
trình giao tiếp thông tin và thông qua chúng, các kết quả đo lường được cung cấp
cho người sử dụng.
- Phòng ngừa: Chỉ thị và chỉ số môi trường tóm lược hiện trạng môi trường và
xã hội hiện tại nhằm cho các tín hiệu về sự thay đổi các tình trạng môi trường.
- Quyết định: Chỉ thị và chỉ số môi trường đưa ra sự hướng dẫn hiệu quả để
họach định một môi trường bền vững trong tương lai.
1.3.2. Ý nghĩa
Chỉ thị môi trường là cơ sở để lượng hóa chất lượng môi trường, theo dõi diễn
biến chất lượng môi trường, lập báo cáo hiện trạng môi trường. Bộ Tài nguyên và
Môi trường ban hành bộ chỉ thị môi trường quốc gia để áp dụng trong cả nước.
1.4. Mô hình DPSIR và ứng dụng trong xây dựng chỉ thị môi trƣờng
1.4.1. Mô hình DPSIR
Phương pháp Đánh giá Tổng hợp DPSIR (mô hình DPSIR) do tổ chức Môi
trường Châu Âu (EEA) xây dựng vào năm 1999 là một mô hình nhận thức dùng để
xác định, phân tích và đánh giá các chuỗi quan hệ nguyên nhân - kết quả: Nguyên
nhân gây ra các vấn đề môi trường, hậu quả của chúng và các biện pháp ứng phó
cần thiết. Cấu trúc của mô hình bao gồm các thông số chỉ thị về điều kiện tự nhiên -
lượng về đặc điểm và tính chất của các yếu tố vật lý, hoá học và sinh thái các thành
phần môi trường vùng (đất, nước, không khí, rừng, động thực vật hoang dã, hệ sinh
thái thuỷ sinh). Chất lượng môi trường bị suy giảm dần và ảnh hưởng xấu tới cộng
đồng và hệ sinh thái tự nhiên trong vùng.
- Các thông số phản ánh các tác động tiêu cực tới đa dạng sinh học, tới sức
khoẻ và sự ổn định, phồn vinh của cộng đồng (IMPACT indicators).
Driver
Động lực chi phối
response
Ứng phó
PRESSURE
Áp lực
state
Hiện trạng
impact
Tác động
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15
- Các thông số thể hiện các biện pháp đối phó với các hậu quả môi trường và
xã hội (RESPONSE indicators).
Nhìn vào Hình 1.1: 5 hợp phần có mối quan hệ tương tác qua lại theo hai
chiều: chiều thuận và chiều phản hồi. Với cách xây dựng mô hình nhận thức theo
chuỗi như vậy, DPSIR là một công cụ hiệu quả để xác định, phân tích và đánh giá
các mối quan hệ rất phức tạp của hệ thống môi trường tự nhiên và hệ thống kinh tế -
xã hội. Vì vậy, phương pháp này thường được áp dụng cho xây dựng quy hoạch và
chiến lược quản lý môi trường vùng và quốc gia nhằm đảm bảo phát triển bền vững
[11]. Với các ưu điểm của mô hình DPSIR ta xây dựng bộ chỉ thị môi trường của
huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.
1.4.2. Ứng dụng
Hình 1.2. Mô hình DPSIR của Viện NEIR Đan Mạch
Đáp ứng
Các hành động giảm thiểu
Các chính sách môi trường nhằm đạt được các mục tiêu quốc gia về môi trường (Ví dụ: các tiêu chuẩn và tiêu chí để điều chỉnh áp lực)
Các chính sách ngành (các giới hạn và kiểm soát việc phát triển của ngành để giảm/ thay đổi các hoạt động hay các áp lực do các
hoạt động này gây ra)
Nhận thức về môi trường
Các biện pháp giảm nghèo cụ thể
Mất cân bằng hệ sinh thái, tuyệt
chủng một số loài
hiện trạng thực vật, côn trùng, động
vật, loài thuỷ sinh, các loài chim v.v
Tác động
Đa dạng sinh học
Hệ sinh thái
Tài nguyên thiên
nhiên;
Con người:
sức khoẻ,
thu nhập,
phúc lợi/ chất
lượng cuộc sống,
môi trường
sống
Nền kinh tế:
các lĩnh vực
kinh tế
Động lực
Phát triển nói chung về
mặt dân số
Các ngành tương ứng,
ví dụ:
Nông nghiệp
Giao thông vận tải
Nguồn nước
Năng lượng bao
gồm cả thuỷ điện
Công nghiệp
Tác động tiêu cực hoặc tích cực của tình trạng đó đối với con người cũng như
điều kiện sinh sống, hoạt động sản xuất của con người.
Con người đã có những hoạt động gì để đáp ứng nhằm khắc phục các tác động
tiêu cực, phát huy các tác động tích cực nêu trên [3]
Từ những năm 1972, rồi 1982, 1992, 2002 qua các Hội nghị toàn cầu về môi
trường, môi trường và phát triển bền vững nhiều tổ chức quốc tế và quốc gia đã xây
dựng các báo cáo về tình trạng môi trường S O E. Chữ S là chữ đầu trong các báo
cáo đó.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
18
Tiếp đó các nhà nghiên cứu đã thấy rằng để hiểu rõ tình trạng môi trường
trong diễn biến động của nó thì cùng với S phải xem xét thêm áp lực P và đáp ứng
R. Mô hình P S R đã là mô hình do UNEP khuyến cáo vận dụng trong những năm
đầu thập kỷ 1990. Nhiều báo cáo tình trạng môi trường và các bộ chỉ thị môi trường
của nhiều nước và nhiều tổ chức quốc tế trong thời gian này đã vận dụng mô hình
ấy. Báo cáo SOE của Việt Nam năm 2001 do Cục Môi trường thực hiện với sự hợp
tác của UNEP đã theo mô hình P S R này.
Sự phát triển mô hình không dừng lại đó. Trong những năm gần đây trong
soạn thảo báo cáo tình trạng môi trường cũng như xây dựng chỉ thị môi trường mô
hình D P S I R, như đã giải thích trên đây đã thay thế mô hình P S R.
Quá trình hình thành mô hình DPSIR thực chất là quá trình phát triển sự mong
muốn hiểu biết đầy đủ về tình trạng môi trường. Quá trình này có thể biểu thị một
cách đơn giản ở hình dưới đây. [18]
S
P - S
P - S - R
P - S - I - R
D - P - S - I - R
Hệ thống các chỉ số và chỉ thị môi trường trên thế giới thường được dựa vào
Ở một số nước như Úc, dạng mở rộng của mô hình OCED-PSR là - mô hình
động lực-áp lực-tình trạng- tác động - phản hồi (DPSIR)- được dùng để xem xét các
động lực hay nguyên nhân của sự biến đổi cũng như những tác động đối với hệ
thống môi trường, xã hội và kinh tế, viện NEIR Đan Mạch cũng xây dựng mô hình
DPSIR riêng theo mối quan hệ nhân quả và môi trường và tài nguyên. Hiện nay mô
hình DPSIR đã được ứng dụng phổ biến ở hầu hết các quốc gia trên thế giới để xây
dựng chỉ thị môi trường phục vụ cho việc quy hoạch và quản lý môi trường.
1.5.2. Tình hình ứng dụng mô hình DPSIR tại Việt Nam
Trong công cuộc xây dựng đất nước hiện nay về kinh tế - văn hoá - xã hội của
Việt Nam đang trên đà phát triển mạnh. Bên cạnh đó, tình trạng môi trường của
ÁP LỰC
Các hoạt động và tác động
của con ngƣời:
Năng lượng,
GTVT,
Công nghiệp
Nông nghiệp
Ngư nghiệp
Hoạt động khác
HIỆN TRẠNG
Hiện trạng hoặc tình trạng
của môi trƣờng:
Không khí
Nước
Tài nguyên đất
Đa dạng sinh học
Khu dân cư
Văn hóa, cảnh quan
DPSIR để đánh giá tổng quan môi trường tại khu vực nghiên cứu.
Từ năm 1996, Cục Môi trường bắt đầu triển khai xây dựng bộ chỉ thị môi
trường Quốc gia.
Từ năm 2001, báo cáo HTMT cấp quốc gia và cấp tỉnh thành phố ở nước ta đã
được thực hiện theo mô hình 3 hợp phần Áp lực (P) - Hiện trạng (S) - Đáp ứng (R).
Từ năm 2005 với sự hỗ trợ của dự án thông tin và báo cáo môi trường do DANIDA
tài trợ, Cục Bảo vệ Môi trường thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường đang xây dựng
“hướng dẫn xây dựng báo cáo HTMT” cấp Trung ương và Tỉnh/Thành phố theo mô
hình 5 hợp phần (DPSIR), đồng thời đang nghiên cứu xây dựng bộ chỉ thị môi
trường phục vụ việc lập báo cáo HTMT tổng quan và báo cáo HTMT theo chuyên đề.
Mô hình DPSIR đã được sử dụng dựa trên mô hình đơn giản về các Áp lực,
Tác động, Phản hồi (Impact, Response model - PSR). Gần đây, mô hình DPSIR đã
được sử dụng phổ biến cho việc xây dựng các chỉ thị môi trường.
Các chỉ thị mô tả nguyên nhân gây nên sự thay đổi môi trường có thể cho
chúng ta hiểu rõ về những thay đổi về môi trường và phản hồi của xã hội loài người
đối với những thay đổi này nhằm bảo vệ môi trường sống. Các chỉ thị về Động lực
(D) và Tác động (I) cung cấp hỗ trợ nâng cao năng lực thể chế theo dõi chỉ số Đói
nghèo - Môi trường thông tin chi tiết về nguyên nhân thay đổi và phân tích ảnh
hưởng của nó và cải tiến mô hình PSR thành mô hình DPSIR.
Đã có nhiều nghiên cứu dựa trên mô hình DPSIR về xây dựng bộ chỉ thị, đó là
các loại chỉ thị đói nghèo, sinh kế, chỉ thị kinh tế, nông lâm nghiệp Trong lĩnh vực
môi trường, mô hình DPSIR được ứng dụng để xây dựng bộ chỉ thị giúp việc quy
hoạch, quản lý môi trường có hiệu quả hơn. GS Lê Thạc Cán (tháng 06/2005) Viện
Môi trường và Phát triển bền vững đã xây dựng Phương pháp luận về xây dựng bộ
chỉ thị môi trường dựa trên mô hình DPSIR, đã nêu tổng quan về mô hình DPSIR,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
21
quá trình hình thành và hướng dẫn xây dựng bộ chỉ thị môi trường. GS.TS Phạm
Ngọc Đăng (tháng 01/2005) [6] đã tiến hành nghiên cứu về Xây dựng chỉ thị môi
22
B¶ng 1.1: Kh¶ n¨ng cung cÊp th«ng tin m«i tr-êng cña m« h×nh b¸o c¸o HTMT
Các vấn đề môi trƣờng
Khả năng cung cấp thông tin
Mô hình S
Mô hình PSR
Mô hình
DPSIR
Nguyên nhân dẫn đến các vấn đề MT
- Nhiệm vụ SX-KD an ninh – quốc
phòng của Bộ, ngành, địa phương
Không có hoặc
không chi tiết
Không chi tiết
Chi tiết
- Kế hoạch phát triển
Không có hoặc
không chi tiết
Không chi tiết
Chi tiết
Các áp lực dẫn đến hiện trạng MT
- Áp lực do các yếu tố tự nhiên
Có, không
Có, chi tiết
Có, chi tiết
Có, chi tiết
- Tài nguyên sinh vật
Có, chi tiết
Có, chi tiết
Có, chi tiết
- Kinh tế
Không có
Có, không
chi tiết
Có, không
chi tiết
- Xã hội
Không có
Có, không
chi tiết
Có, không
chi tiết
Các tác động do đặc điểm HTMTgây
ra đối với tài nguyên, con người và
hoạt động của bộ, ngành, địa phương
Không có
(hoặc không
chi tiết)
Không có
(hoặc không
chi tiết)
Có, chi tiết
- Tác động đến tài nguyên
- Các biện pháp khoa học
- Các biện pháp kỹ thuật
- Các phong trào – Sự tham gia của
cộng đồng
Nguồn: Lê Trình (2007), Đề tài “Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng
báo cáo HTMT Quân sự” [18]
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
23
Từ Bảng 1.1 có thể thấy mô hình DPSIR có khả năng cung cấp đầy đủ các
thông tin về nguồn gốc, xu hướng, áp lực, đặc điểm môi trường và các giải pháp
BVMT. Trong khi đó, 2 mô hình còn lại không có khả năng này. Mô hình DPSIR
không chỉ phục vụ tốt cho các cấp lãnh đạo mà còn cho dân chúng, trong nhận thức
và hành động BVMT.
Cũng chính vì khả năng cung cấp thông tin chi tiết về nhiều nội dung nên để
thực hiện mô hình DPSIR phải có các điều kiện sau:
- Lực lượng cán bộ chuyên sâu về khoa học và công nghệ môi trường đủ về số
lượng và trình độ.
- Kinh phí và thời gian nghiên cứu đủ lớn.
(các yếu tố ngoại sinh). Do vậy nội dung về “áp lực” đề cập đến 2 nhóm yếu tố:
* Các áp lực do môi trường bên ngoài (ngoại sinh) đến môi trường, gồm:
Ảnh hưởng của các yếu tố khí hậu; các yếu tố địa hình; các yếu tố thuỷ văn; các yếu
tố ô nhiễm; các yếu tố sinh học; các yếu tố kinh tế; các yếu tố xã hội
* Các áp lực do hoạt động của đơn vị (nội sinh), gồm: Lưu lượng và tải lượng
ô nhiễm do nước thải; do khí thải; do các hoạt động khác v.v…
1.5.2.3. Động lực
Các yếu tố động lực có thể gây áp lực đến môi trường: Các hoạt động của con
người như sản xuất, dịch vụ, tiêu dùng, an ninh và các hoạt động khác nhằm đạt
mục tiêu hoặc nhiệm vụ phát triển của bản thân, tổ chức, địa phương, bộ, ngành
hoặc quốc gia chính là động lực có thể dẫn đến các áp lực đối với môi trường. Động
lực thường bao gồm các hoạt động kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh như:
Nông, lâm nghiệp; Ngư nghiệp; Công nghiệp; Giao thông vận tải; Năng
lượng; Quân sự; Thương mại; Du lịch; Tiểu thủ công nghiệp; Các hộ gia đình/các
cơ quan/đơn vị; v.v…
Mỗi dạng áp lực đến môi trường có thể bắt nguồn từ một hoạt động cụ thể hay
từ nhiều hoạt động khác nhau. Ngược lại, các hoạt động của một ngành cụ thể có thể
tạo ra một hoặc nhiều áp lực đến một hoặc nhiều thành phần môi trường khác nhau.
Động lực gây ra áp lực phụ thuộc vào:
- Nhiệm vụ và quy hoạch phát triển của ngành/đơn vị/địa phương
- Vị trí, địa điểm hoạt động của ngành/đơn vị/địa phương
- Loại và mức độ của các hoạt động (đầu vào, đầu ra, sản lượng)
- Công nghệ áp dụng
- Hành vi đối với môi trường của những người thực hiện các hoạt động đó
1.5.2.4. Tác động
Quan niệm chung về tác động môi trường: Tính chất của hiện trạng (trạng
thái) môi trường có thể gây ra các tác động đến chính các thành phần môi trường,
sức khoẻ, khả năng hoạt động của con người và đời sống sinh vật.
Các tác động này có thể được mô tả dưới dạng tác động tới ba nguồn lực: Tài
nguyên thiên nhiên, con người và các công trình nhân tạo.
- Đảm bảo các nguồn tài chính, nhân sự và công nghệ cho quá trình này.
1.5.2.6. Tóm tắt tác dụng của mô hình DPSIR trong việc xây dựng chỉ thị môi trường
Mô hình DPSIR không chỉ là công cụ phân loại thông tin và còn cho thấy bức
tranh tổng thể về các lĩnh vực môi trường, qua đó làm rõ và minh hoạ các mối quan
hệ nhân - quả. Do vậy, mô hình DPSIR có thể được sử dụng linh hoạt để trình bày
một cách logic các thông tin liên quan về nguồn gốc, quá trình diễn biến, hậu quả
của các vấn đề môi trường và các biện pháp giảm thiểu tác động tiêu cực. Bằng
cách đó ứng dụng mô hình DPSIR có thể giúp cho cơ quan quản lý nhà nước, các
bộ, ngành, địa phương và dân chúng hiểu rõ hơn các mối liên hệ và phản hồi giữa
nguyên nhân và tác động của các vấn đề môi trường khác nhau ở quy mô quốc gia,
địa phương hoặc ngành.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên