nghiên cứu xây dựng quy hoạch môi trường phục vụ phát triển bền vững - Pdf 32

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VIỆN MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN
NHIỆM VỤ KHCN CẤP NHÀ NƯỚC
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG QUY HỌACH MÔI
TRƯỜNG PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
VÙNG ĐÔNG NAM BỘ TỪ NAY ĐẾN NĂM 2010
BÁO CÁO NHÁNH NHIỆM VỤ
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG
QUY HỌACH MÔI TRƯỜNG TỈNH ĐỒNG NAI
TỪ NAY ĐẾN NĂM 2010
Chủ trì nhiệm vụ: ThS. Thái Vũ Bình
TP. HỒ CHÍ MINH – THÁNG 03/2004
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VIỆN MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN
NHIỆM VỤ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ CẤP NHÀ NƯỚC
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG QUY HỌACH MÔI
TRƯỜNG PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
VÙNG ĐÔNG NAM BỘ TỪ NAY ĐẾN NĂM 2010
BÁO CÁO NHÁNH NHIỆM VỤ
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG
QUY HỌACH MÔI TRƯỜNG TỈNH ĐỒNG NAI
TỪ NAY ĐẾN NĂM 2010
TP. HỒ CHÍ MINH – THÁNG 03/2004
2
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ HIỆN TRẠNG VÀ QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN KT-
XH TỈNH ĐỒNG NAI ĐẾN NĂM 2010
I.1. ĐIỀU KIỆN ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN
I.1.1. Vò trí đòa lý
I.1.2. Đặc điểm tự nhiên

II.3. Phân vùng lãnh thổ gắn với quy hoạch phát triển KT-XH tỉnh Đồng Nai
II.4. Nội dung của phân vùng lãnh thổ tỉnh Đồng Nai
CHƯƠNG III: HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG CỦA TỈNH ĐỒNG NAI GẮN VỚI
HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN KT-XH
III.1. HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG
3
III.1.1. Hiện trạng môi trường đô thò
III.1.2. Hiện trạng môi trường công nghiệp
III.1.3. Hiện trạng môi trường nông thôn
III.1.4. Hiện trạng môi trường rừng
III.2. HIỆN TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO VỆ MÔI
TRƯỜNG TỈNH ĐỒNG NAI
III.2.1. Hệ thống tổ chức quản lý
III.2.2. Hoạt động quản lý bảo vệ môi trường
III.2.3. Đánh giá, nhận xét
CHƯƠNG IV: DỰ BÁO DIỄN BIẾN MÔI TRƯỜNG DƯỚI TÁC ĐỘNG CỦA QUY
HOẠCH PHÁT TRIỂN KT-XH CỦA TỈNH ĐỒNG NAI ĐẾN NĂM 2010
IV.1. XÁC ĐỊNH CÁC NGUYÊN NHÂN LÀM PHÁT SINH VÀ GIA TĂNG
CÁC VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG
IV.1.1. p lực từ khai thác sử dụng tài nguyên môi trường
IV.1.2. p lực từ gia tăng dân số, dân sinh
IV.1.3. p lực từ quá trình đô thò hoá
IV.1.4. p lực từ quá trình công nghiệp hóa
IV.1.5. p lực từ quá trình phát triển nông – lâm – ngư
IV.2. DỰ BÁO DIỄN BIẾN MÔI TRƯỜNG
IV.2.1. Dự báo diễn biến môi trường đô thò
IV.2.2. Dự báo diễn biến môi trường công nghiệp
IV.2.3. Dự báo diễn biến môi trường sinh thái nông thôn
IV.3. XÁC ĐỊNH NHỮNG VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG CẤP BÁCH CỦA TỈNH
ĐỒNG NAI

số và diện tích Đồng Nai lớn thứ hai của VĐNB (sau Tp. HCM về dân số và sau Lâm Đồng
về diện tích). Với lợi thế đất rộng người đông, Đồng Nai có ưu thế trong việc phát triển công
nghiệp và nông nghiệp (nhất là cây công nghiệp phục vụ các ngành công nghiệp chế biến).
Trong năm 2001, sản lượng ngô của tỉnh Đồng Nai cao nhất nước (chiếm 11% cả nước), sản
lượng sắn đứng thứ 2 cả nước (chiếm 10%).
Phát triển công nghiệp, thương mại dòch vụ và đô thò là những mối quan tâm hàng đầu trong
đònh hướng phát triển của VKTTĐPN. VKTTĐPN đóng góp khoảng 60%GDP cả nước, trong
đó ngành công nghiệp đóng 52% giá trò sản xuất công nghiệp, thương mại dòch vụ chiếm gần
60% tổng thu thương mại dòch vụ. Sự đóng góp của Đồng Nai trong tổng thể tăng trưởng của
VKTTĐPN là khá lớn. Trong VKTTĐPN, năm 2001, ngành công nghiệp tại Đồng Nai chiếm
15% giá trò sản xuất công nghiệp toàn vùng, số dự án đầu tư nước ngoài tại Đồng Nai cho
đến nay nhiều đứng thứ 3 cả nước (chỉ sau Tp. HCM và Hà Nội).
Tại Đồng Nai, trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã đem lại nhiều thành quả to
lớn về kinh tế và cải thiện đời sống nhân dân, nhưng một thực tế là các nguồn tài nguyên vốn
bò tàn phá do chiến tranh, hậu quả khai thác không hợp lý trong thời gian dài trước đây và
những tác động do phát triển kinh tế nên đã bò suy giảm nghiêm trọng. Chúng ta đang đối
mặt với những thách thức về suy thoái tài nguyên và môi trường.
Nằm trong khuôn khổ Nhiệm vụ KHCN cấp Nhà nước “ Nghiên cứu xây dựng quy họach môi
trường phục vụ phát triển bền vững vùng đông nam bộ từ nay đến năm 2010”, Báo cáo quy
họach môi trường tỉnh Đồng Nai giai đọan từ nay đến năm 2010 là một nghiên cứu điển hình
nhằm rà sóat, phân tích đặc điểm tài nguyên và đánh giá hiện trạng môi trường, phân tích và
dự báo các áp lực và diễn biến môi trường gây ra bởi quy họach phát triển kinh tế xã hội tỉnh
Đồng Nai giai đọan đến năm 2010. Qua đó đề xuất các giải pháp quy họach môi trường tỉnh
Đồng Nai nhằm phát triển bền vững.
5
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ HIỆN TRẠNG VÀ QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN
KINH TẾ –XÃ HỘI TỈNH ĐỒNG NAI ĐẾN NĂM 2010
I.1. ĐIỀU KIỆN ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN
I.1.1. Vò trí đòa lý

đã đạt được những thành tựu đáng kể.
I.1.2. Đặc điểm tự nhiên
I.1.2.1. Đòa hình
6
Tỉnh Đồng Nai tương đối đa dạng về mặt đòa hình và có xu hướng thấp dần theo hướng Bắc –
Nam, bao gồm dạng núi thấp có độ dốc cao (20-30
o
); dạng đồi lượn sóng cao từ 20-150 mét
chiếm diện tích lớn nhất; và đòa hình đồng bằng gồm các bậc thềm sông và các trầm tích
đầm lầy biển cổ.
- Đòa hình núi thấp: bao gồm các núi sót rải rác và là phần cuối cùng của các dải núi
Trường sơn, từ Tây nguyên đổ xuống, với độ cao thay đổi từ 200 – 700 mét. Đòa hình này
phân bố chủ yếu ở phía Bắc (Tân Phú) gíp ranh Lâm Đồng và một phần núi sót ở Đònh
Quán, Xuân Lộc.
- Đòa hình đồi lượn sóng: có độ cao từ 20 – 200 mét, bao gồm những đồi đất Bazan và
những đồi phù sa cổ, tạo thành cái chùy chạy theo hướng Bắc – Nam trái ngược với dạng
đòa hình núi thấp. Dạng đòa hình này khá bằng phẵng, thỏai, độ dốc dao động 3 – 8
0
. Đây
là dạng đòa hình chiếm diện tích lớn nhất.
- Đòa hình đồng bằng là bậc thềm sông, có diện tích không lớn lắm.
Sự đa dạng của đòa hình một mặt là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế của tỉnh,
nhất là nông nghiệp. Mặt khác cũng là một trong những nhân tố quan trọng thúc đẩy sự suy
thoái đất đai: Dạng đòa hình đồi lượn sóng là nơi đất bò xói mòn bề mặt lớn nhất, cũng là nơi
phân bố chủ yếu của đất đỏ bazan (Ferralsols) và đất xám (Acrisols), hai loại đất chuyên
trồng các loại cây có giá trò kinh tế cao ở Đồng Nai. Dạng đòa hình trũng trên trầm tích đầm
lầy biển cổ rất giàu Sulphide (Sulfua) là vật liệu để sinh ra đất phèn, một loại đất chứa nhiều
độc tố cho sự sinh trưởng của cây trồng.
I.1.2.2. Đòa chất thổ nhưỡng
Lãnh thổ nghiên cứu chia ra các tầng cấu trúc chính sau :

− Phụ tầng trên: Phụ tầng này cấu tạo bởi các trầm tích bở rời nguồn gốc sông, sông biển,
phun trào bazan Pleistocen phân bố rộng rãi các vùng. Thành phần gồm bốn tầng từ dưới lên:
tầng Trảng Bom (aQ
I
tb), tầng Xuân Lộc (βQ
II
xl), tầng Thủ Đức (Q
II-III
tđ), tầng Củ Chi (Q
III
cc).
Thành phần gồm sét, sét pha cát, sét pha, cát cuội sỏi và đá bazan. Đới này có diện phân bố
rộng, chúng là đới chòu tải tốt, làm nền cho các công trình xây dựng khác nhau. Chiều dày
thay đổi từ 10 – 20 m .
(3). Tầng cấu trúc trên :
Tầng này cấu tạo bởi các trầm tích Holocen nhiều nguồn gốc, phủ trực tiếp lên tầng cấu trúc
dưới và giữa. Chúng phân bố dọc sông Đồng Nai và một số sông suối nhỏ khác trong vùng.
Thành phần gồm nhóm đất dính tuổi Holocen nguồn gốc sông, sông biển hổn hợp và nhóm
đất có thành phần, trạng thái và tính chất đặc biệt. Do đặc điểm phân bố của các trầm tích
này mà nhiều công trình phải xây dựng trên chúng, khi thiết kế xây dựng những công trình
đó cần phải nghiên cứu chiều sâu phân bố, chiều dày của các lớp đất yếu và có biện pháp
gia cố móng đặc biệt. Chiều dày tầng cấu trúc thay đổi từ vái mét đến 30 m .
I.1.2.3. Đặc điểm thủy văn
(1). Hình thái sông, hồ
8
Tỉnh Đồng Nai với tổng diện tích các lưu vực của các sông suối trên đòa bàn lên đến 22.000
km
2
. Trong đó một số sông hồ có vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế
xã hội không những của Đồng Nai mà cả vùng Đông Nam bộ, đó là sông Đồng Nai, sông La

Phú Hiệp La ngà 102.5 102.46 102.48
Trò An Hồ Trò An 51.35 50.27 49.42
Biên Hòa Đồng Nai - 1.77 - 1.46 - 1.70
9
(Nguồn : Trung tâm Khí tượng Thủy văn Đồng Nai, năm 2003)
• Các sông suối ở phía Nam và tây nam tỉnh thuộc huyện Long Thành, Nhơn Trạch, nam
huyện Thống Nhất như suối Quản thủ, suối Cả, Nước trong ... lượng nước tuy thấp hơn
CTK01 song mức độ còn khá hơn các sông suối ở phía Bắc tỉnh.
- Tình hình thủy văn mùa lũ:
Mùa lũ đến sớm hơn TBNN khoảng 10 ngày, từ giữa tháng VI đến cuối tháng X. Sông Đồng
Nai, La Ngà năm nay có 3 đợt lũ chính, ít hơn TBNN 2 đợt. Lũ chính vụ tập trung trong tháng
VIII và tháng IX.
Đỉnh lũ cao nhất năm 2002 tại một số trạm được trình bày trong các bảng 2, 3. Cụ thể như sau
:
• Trên Sông Đồng Nai: ở Tà Lài cao hơn mức báo động 3 (MBĐ
3
) là: 1,00 m.
• Trên Sông La Ngà: ở Phú Hiệp thấp hơn mức MBĐ
1
: 0,22m.
Các Sông suối nhỏ như La Buông, Suối Cả, Tam Bung, Sông Thao ... lũ cao nhất trong năm
xuất hiện vào nữa cuối tháng VIII đầu tháng IX và ở mức trung bình nhiều năm. Lũ xảy ra ít
hơn và thiệt hại cũng được hạn chế nhiều so với vài năm về trước.
Bảng 2: Mực nước cao nhất các tháng mùa lũ
STT Tên Trạm Sông (Hồ) Mức nước cao nhất hàng năm
2002 2001 TBNN
1
Tà Lài Đồng Nai 114.04 113.08 113.20
2
Phú Hiệp La Ngà 105.28 107.12 106.11

C (Xem bảng 4).
Bảng 4: Chuẩn sai nhiệt độ trung bình tháng năm 2002 (
0
C)
Trạm
I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII TB
năm
B. Hòa
0.49 - 0.19 0.17 0.65 1.39 0.62 1.37 0.17 0.64 0.84 1.01 2.00
0.76
Trò An
0.39 0.08 0.08 0.46 1.16 0.06 0.92 - 0.07 0.01 0.62 0.63 1.85
0.52
La Ngà
0.88 0.09 - 0.05 0.58 0.66 0.12 0.85 - 0.29 - 0.12 0.48 0.47 1.17
0.40
L.Khánh
0.02 - 0.40 - 0.05 0.57 1.20 0.07 0.65 - 0.27 0.02 0.43 0.79 1.51
0.38
(Nguồn : Trung tâm Khí tượng Thủy văn Đồng Nai, năm 2003)
Tháng I có nhiệt độ thấp nhất: 24,3 ÷ 26,6
0
C, rồi tăng nhanh đến tháng IV đạt mức cao nhất:
28,5 ÷ 29,7
0
C (Trừ La Ngà muộn và sớm hơn 1 tháng, là tháng II, III).
Cực tiểu nhiệt độ Min năm ở các nơi xảy ra ở tháng I: 15,6 ÷ 18,6
0
C;
Cực đại nhiệt độ Max năm xảy ra ở tháng V: từ 38,0 ÷ 38,1

Lượng mưa trung bình tháng của năm 2002 được trình bày trong bảng 6. Kết quả quan trắc
trong bảng 6 được tóm tắt như sau :
• Nhìn chung mùa mưa bắt đầu từ 12 – 25/V, muộn hơn TBNN từ 10 – 15 ngày, cá biệt ở
Long Khánh, Xuân Lộc mùa mưa chính thức từ 10/V – 20/V.
• Lượng mưa tháng V, trừ La Ngà là 283 mm còn các nơi khác 70 – 170 mm; <TBNN: 25 –
140 mm; < CTK01: 60 – 230 mm.
• Tháng VI lượng mưa giao động trong khoảng 260 – 400 mm (trong đó, Tà Lài 463 mm;
Long Thành 199 mm), nhìn chung > TBNN và CTK 2001 từ 16 – 200 mm, riêng cùng
Đònh Quán, Tân Phú <CTK01.
• Từ tháng VII, VIII và tháng IX, tuy là những tháng nằm giữa mùa mưa nhưng lượng mưa
đều thấp hơn TBNN & CTK01, phổ biến thấp hơn từ 50 – 200 mm/tháng, cá biệt một số
nơi thấp tới trên 300 mm/tháng.
• Tháng X, Đồng Nai chòu sự chi phối của phía Nam cao áp lục đòa và trục rãnh thấp. Thời
tiết, nửa đầu có mưa nhiều nơi, nửa cuối tháng có mưa rải rác, cá biệt có nơi mưa to (Tà
Lài). Lượng mưa: 200 – 430 mm; >TBNN & CTK01; tập trung ở nửa đầu tháng.
• Tháng XI, Đồng Nai chòu sự chi phối chủ yếu của phía Nam lưỡi cao áp lục đòa, ngoài ra
khác với mọi năm, còn chòu ảnh hưởng bởi một số nhiễu động nhiệt đới nhỏ và trường gió
Đông nên chiều tối có mưa rào và dông rải rác, có nơi mưa vừa đến mưa to. Tổng lượng
mưa khoảng 70 – 160 mm. Riêng Trò An có mưa lớn (214 mm).
• Lượng mưa tháng XII vẫn còn trên ½ số điểm mưa trên 60 mm TBNN (tập trung ở vùng
giữa và phía Nam tỉnh), cá biệt Long Khánh mưa 127 mm.
• Tổng lượng mưa đến cuối năm, phổ biến là1600 – 2000 mm, bằng 71 – 97% so với
TBNN; bằng 73 – 95% so với CTK01; nơi có lượng mưa cao nhất là Tà Lài: 2505 mm (91
và 84%); nơi có lượng mưa ít nhất là Long Thành: 1310 mm (71 và 73%).
Bảng 6: Lượng mưa tháng năm 2002 (mm)
Đòa
điểm/Thá
ng
I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Cộng SVTB
NN%

- Đất xám: là đất hình thành trên đá trầm tích mẫu chất phù sa cổ, một số nhỏ hình thành
trên đá Granit. Nhóm đất xám chiếm tỷ trọng cao nhất và được chia thành 5 đơn vò đất
cấp 2 và 17 đơn vò cấp 3. Nhìn chung đất xám có thành phần cơ giới nhẹ, đòa hình đồi
thấp, bằng, thóat nước, tầng đất tương đối đầy. Hạn chế chính của nó là nghèo dinh
dưỡng nhưng lại thích hợp với nhiều mục đích sử dụng như lâm nghiệp, xây dựng… Nhóm
đất xám phân bố chủ yếu ở Vónh Cửu (31,53%) và rải rác đều ở các huyện Đònh Quán,
Xuân Lộc, Lonh Thành, Tân Phú. Riêng Long Khánh không có lọai đất này.
- Đất đen: nhóm này hình thành trên đá bọt Bazan có 3 đơn vò đất cấp 2 và 15 đơn vò đất
cấp 3. Điểm nổi bật của nhóm đất này là có chất lượng hơn hẳn các lọai đất đồi núi khác
về các chỉ tiêu độ phì (mùn, đạm, lân, Ca, Mg, CEC và V%…), rất thích hợp với các lọai
cây hàng năm như đậu nành, thuốc lá, ngô, bông vải và các lọai cây ăn trái như chuối,
mãng cầu, chôm chôm… Tuy vậy trong sử dụng nên tăng cường các biện pháp chống xói
mòn, rửa trôi. Nhóm đất đen phân bố tập trung cao ở Xuân Lộc (27,76%), Thống Nhất
(20,87%), Tân Phú (18,18%), Đònh Quán (17,44%) và rải rác ở các huyện khác, riêng
Nhơn Trạch không có lọai đất này.
13
- Đất đỏ: hình thành chủ yếu trên đá Bazan, thích hợp với các lọai cây dài ngày có giá trò
kinh tế cao như cao su, cà phê, tiêu, điều và các lọai cây ăn trái như chôm chôm, sầu
riêng, mít… Nhóm đất đỏ tập trung chủ yếu ở ở huyện Long Khánh (37,43%) và rải rác ở
các huyện khác, riêng Biên Hòa và Nhơn Trạch không có lọai đất này.
- Đất phù sa: hình thành do phù sa sông bồi đắp. Tỉnh Đồng Nai có diện tích đất phù sa
không phèn là 5.817 ha và đất phù sa có phèn là 22.052 ha. Các nơi đất phù sa không
phèn thích hợp cho trồng cây lúa, hoa màu, cây ăn trái; đất phù sa có phèn thích hợp cho
trồng rừng và nuôi trồng thủy sản. Nhóm đất phù sa phân bố chủ yếu ở các huyện phía
Nam, xuất hiện nhiều ở Nhơn Trạch (71,36%), Long Thành (15,03%), Biên Hòa (6,45%)…
- Đất Gley: Bao gồm đất Gley mùn không phèn 24.308 ha và đất Gley phèn 2.450 ha, các
đất Gley dành chủ yếu cho việc trồng lúa. Phân bố chủ yếu ở Tân Phú (48,22%) và các
huyện phía Nam như Vónh Cửu (18,45%), Long Thành (16,68%), Biên Hòa (6,07%),
Nhơn Trạch (4,99%)…
I.1.3.2. Tài nguyên nước

và Ray; một điểm nước khóang Magiê – Bicacbonat ở suối Nho; hai mỏ nước khoáng
siêu nhạt ở Tam Phước và Nhơn Trạch. Trữ lượng của mỏ Suối Nho đạt 10.000 m
3
/ngày,
nước nóng đạt nhiệt độ 60
0
C. Nước khóang Magiê – Bicacbonat với hàm lượng tổng
khóang hóa từ 0,8 – 4,2 g/l.
- Nước ngầm: Tiềm năng nước ngầm tại Đồng Nai khá phong phú nhưng không đồng đều,
bao gồm 5 tầng chứa nước:
14
+ Tầng chứa nước Holocen (pq): Phân bố phía Tây – Tây Nam dọc theo thung lũng sông
Đồng Nai và La Ngà, tổng diện tích 440 km
2
, chiều dày tầng chứa thay đổi từ 1-2m đến
10 – 20m.
+ Tầng chứa nước Pleistocen (gp): phân bố rộng từ Biên Hòa xuống Long Thành, diện
tích 550 km
2
và nằm nông, chiều dày thay đổi từ 5-10m đến 20-45m. Trữ lượng ước tính
đạt 471.250 m
3
/ngày và tổng trữ lượng khỏang 710.000 m
3
/ngày.
+ Tầng chứa nước Pliocen (m4): phân bố chủ yếu ở khu vực Vónh Cửu, Long Thành, Long
Bình và Nhơn Trạch với tổng diện tích 780 km
2
và có độ sâu từ 10-15m đến 35-50m. Bề
dày tầng chứa nước thay đổi từ 10-15m đến 50-60m. Đây là tầng chứa nước rất triển

Bảng 7: Diện tích rừng và độ che phủ rừng từ năm 2000 – 2002
Năm Rừng tự nhiên
(ha)
Rừng trồng
(ha)
Tổng diện tích có rừng
(ha)
Độ che phủ
(%)
2000 110.678 39.596 150.274 25,64
2001 110.678 41.875 152.553 26,03
2002 110.678 42.905 153.583 26,2
Nguồn: Sở NN&PTNT, 2003
15
Bảng 8: Độ che phủ rừng nếu tính cả cây công nghiệp, cây ăn trái và cây lâu năm
Năm DT có rừng
(ha)
DT cây ăn
trái
(ha)
DT cây CN lâu
năm (ha)
Tổng DT
che phủ (ha)
Độ che phủ
(%)
2000 150.274 24.007 113.326 287.607 49,07
2001 152.553 27.378 113.810 293.741 50,12
2002 153.583 25.851 119.442 298.876 51,00
Nguồn: Sở NN &PTNT, Báo cáo kết quả sản xuất nông nghiệp nông thôn năm 2002

thế với 17 loài, 58,6% thuộc 10 giống, tảo lục Chlorophyta- 6 loài, 20,7% thuộc 6 giống, tảo
lam cyanophyta- 4 loài, 13,8% thuộc 4 giống, tảo vàng ánh Chrysophyta –1 giống loài, 3,4%,
tảo mắt- 1 giống loài, 3,4 %. Mật độ tảo trung bình là 19.000- 45.000 cá thể/lít.
2). Phiêu sinh động vật và động vật đáy: Khu vực nhiễm mặn bò ảnh hưởng của chất thải
công nghiệp, thành phần giống loài phiêu sinh động vật đa dạng, đã xác đònh được Copepoda
chiếm ưu thế với 11 loài, 20 cá thể/lít, Rotifer- 2 loài, 8 cá thể/lít, Protozoa- 5 loài, 7 cá
thể/lít, Cladocera- 1 loài, 3 cá thể/lít và ấu trùng – 38 cá thể/lít.
3). Giáp xác (Tôm, cua): về thành phần các giống loài giáp xác ăn được thì ghi nhận được
khoảng 19 loài tôm có giá trò khai thác. Trong đó đặc biệt là các loài tôm nước mặn như tôm
thẻ (bạc) – Penaeus indicus, tôm đất – Metapenaeus ensis; tôm bạc, bạc qt Metapenaeus
lyssianassa, Metapenaeus spinulatus là nguồn giống tự nhiên quan trọng trong các đầm nuôi
quảng canh tại Long Thành và Nhơn Trạch. Loài cua Scylla serrata có kích thước lớn cũng là
đối tượng được khai thác tự nhiên rất nhiều trong vùng rừng ngập mặn. Đối với giống tôm sú
(Penaeud monodon), trước kia thấy xuất hiện rất ít trong khu vực nước lợ, nhưng hiện tại do
sự phát triển mạnh mẽ của nghề nuôi tôm sú, nên ngoài tự nhiên bắt đầu thấy tần số khai
thác được nhiều hơn đối với loài này.
4). Nhuyễn thể hai mảnh: Trên sông Đồng Nai còn có một loài nhuyễn thể hai mảnh (tên đòa
phương goi là hến- chưa đònh danh), được người dân thu hoạch rất nhiều để nuôi vòt, cũng như
nuôi cá chép trong bè tại khu vực TP. Biên Hòa. Sản lượng khai thác của loài này ước tính
trên 200 tấn mỗi năm. Đây là một đối tượng cần có sự nghiên cứu nhiều về đặc điểm sinh
học, nhằm duy trì và phát triển nguồn lợi thủy sản tự nhiên này. Riêng trong lòng Hồ Trò An,
một loài 2 mảnh (người dân gọi là con hàu) được phát hiện thấy phân bố khá nhiều trong nền
đáy lòng hồ, thậm chí trong đường ống nước cấp cho thủy điện. Chắc chắn đây là nguồn thức
ăn quan trọng cho các loài cá ăn đáy quan trọng như cá chép, cá lăng, cá ngát…Tuy nhiên
chúng chưa được tận dụng và khai thác.
(3). Vườn Quốc gia Cát Tiên
Vườn Quốc gia Cát Tiên (VQGCT) được đánh giá là điểm nóng về đa dạng sinh học, là kho
tàng dự trữ tài nguyên vô giá của tổ quốc, có nhiều nguồn gen động vật, thực vật rừng quý
hiếm và đặc hữu, là hiện trường phong phú cho các nhà khoa học, du khách trong và ngoài
nước đến tham quan, nghiên cứu và học tập.

mum.
- Rừng tre nứa thuần loại: đây cũng là kiểu phụ thứ sinh nhân tác, sau khi rừng bò phá làm
nương rẫy rồi bỏ hóa, các loài tre nứa xâm nhập và phát triển . Hai loài tre phổ biến là lồ
ô và mum chúng tạo thành các rừng lớn, những nơi ngập nước chỉ có tre La ngà tồn tại.
- Thảm thực vật đất ngập nước: VQGCT có diện tích đầm lầy lớn, nguồn nước chưa bò ô
nhiễm. Trong mùa mưa, nước sông Đồng Nai tràn lên làm ngập một diện tích lớn rộng
khoảng 5.360 ha. Mùa khô rút đi để lại nhiều bàu, đầm lầy diện tích thu hẹp khoảng 100
– 150 ha, đây cũng là nơi sâu nhất của các Bàu nước như Bàu Sấu, Bàu Chim, Bàu Cá…
Thảm thực vật đất ngập nước là sinh cảnh thích hợp của loài Cá Sấu Xiêm, các loài động
thực vật thủy sinh, các loài chim nước, các loài cá nước ngọt. Vào mùa khô các loài thú
lớn như Heo rừng, Nai, Bò Gaur,…cũng thường quần cư ở khu vực này. Thực vật ưu thế là
các loài cây gỗ chòu nước như Đại phong tử, Lộc vừng, Săng đá xen lẫn với lau, lách, cỏ
đế, lau sậy….VQGCT đang có nhiều chuyên đề nghiên cứu trong khu vực đất ngập nước
Bàu Sấu.
2). Hệ động vật
18
Khu hệ động vật của VQGCT có những nét đặc trưng của khu hệ động vật vùng bình nguyên
Đông Trường sơn, có quan hệ chặt chẽ với Tây Nguyên, nổi bật là thành phần của Bộ Móng
guốc với 06 loài chiếm ưu thế là Heo rừng (Sus scrofa), Cheo cheo (Tragulus javanica),
Hoẵng (Muntiacus muntjak), Bò tót (Bos gaurus), Bò rừng (Bos javanicus) và Nai (Cervus
unicolor) và là một trong những vùng của Việt Nam có thể quan sát được nhiều loài đại diện
của họ Bò (Bovidae).
(i). Chim: gồm 348 loài thuộc 64 họ của 18 bộ, trong đó có 31 loài q hiếm đã được phát
hiện và có tên trong Sách Đỏ Việt Nam. Các loài chim qúi hiếm như Hạc cổ trắng (Ciconia
episcopus), Công (Pavo muticus), Già đẩy Java (Leptoptilos javanicus), Cò quắm cánh xanh
(Pseudibis davisoni), Ngan cánh trắng (Cairina scutulata),…
Loài Gà so cổ hung (Arborophila davidi) là loài quý hiếm và đặc hữu của Đông Nam Á và
của Việt Nam tưởng đã bò tuyệt chủng hoàn toàn. Năm 1997, các nhà khoa học đã phát hiện
loài này còn có mặt ở VQGCT. Số lượng loài này ngày càng tăng lên khi tiến hành chương
trình khảo sát chim Tró hàng năm tại Vườn.

I.2.1. Cơ cấu kinh tế
Nền kinh tế của tỉnh Đồng Nai tiếp tục tăng trưởng, GDP (giá so sánh năm 1994) tăng 12,2%,
trong đó ngành công nghiệp xây dựng tăng 16,4%, dòch vụ tăng 12,0%, nông lâm thủy sản
tăng 3,9%. Các thành phần kinh tế trên đòa bàn đều đạt mức tăng trưởng khá: kinh tế quốc
doanh tăng 8,0%, ngoài quốc doanh tăng 11,7%, đầu tư nước ngoài tăng 17,0%. Cơ cấu kinh
tế năm 2002 là: công nghiệp xây dựng chiếm 55,3%, dòch vụ chiếm 25,5% và nông lâm thủy
sản chiếm 19,2%.
So với năm 2001 Khu vực kinh tế tăng 10,19%, trong đó khu vực kinh tế dân doanh tăng
11,75% và khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng đáng kể 17% và GDP bình quân
đầu người thực hiện 8.910 ngàn đồng tăng 12% so năm trước.
- Giá trò sản xuất ngành công nghiệp tỉnh Đồng Nai là 16,4%, trong đó công nghiệp đòa
phương tăng 15%, công nghiệp ngoài quốc doanh tăng 38,5%, công nghiệp Trung ương
tăng 2% và công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 17,6%.
- Gá trò sản xuất nông–lâm nghiệp–thủy sản tăng 3,9% trong đó nông nghiệp tăng gần
4%.
- Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dòch vụ trên thò trường xã hội năm 2002 thực hiện được
6.965,6 tỷ đồng đạt 111,2% kế hoạch tăng 13,2%.
- Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu trên toàn đòa bàn năm 2002 thực hiện được 3.453 triệu
USD đạt 96,5%, tăng 5,1% so với cùng kỳ.
I.2.2. Dân số, nguồn lực
I.2.2.1. Đặc điểm Dân số
Dân số tỉnh Đồng Nai năm 2002 là 2.113.937 người (tăng 3% so với năm 2000), trong đó nam
là 1.042.171 người. Dân số sống ở thành thò là 655.998 người, chiếm 31%.
20
Tỷ lệ tăng dân số tại Đồng Nai năm 2002 là 2,19%, trong đó tăng tự nhiên là 1,38% và tăng
cơ học là 0,81%. Như vậy, so với năm 2001, tỷ lệ tăng tự nhiên giảm 0,03% nhưng tỷ lệ tăng
cơ học lại tăng 0,04%.
Mật độ dân số trung bình tại Đồng Nai là 539 người/km
2
.

- Đất chuyên dùng có diện tích khá lớn, 70.987 ha (12,04% DTTN); trong đó chủ yếu là đất
thủy lợi (mặt hồ Trò an và các hồ khác) 34.760 ha; đất quốc phòng có một diện tích đáng kể
14.691 ha; đất giao thông là 11.839 ha…
- Đất chưa sử dụng còn một diện tích là 25.687 ha, trong đó chủ yếu là các đất có chất lượng
kém (khe suối hoặc vách núi…), cho thấy khả năng khai thác bổ sung cho các mục đích sử
dụng đất là rất ít.
I.2.4. Hiện trạng phát triển đô thò
Sự phát triển mạnh mẽ ngành công nghiệp đã thúc đẩy nhanh quá trình đô thò hóa tỉnh Đồng
Nai. Số liệu thống kê ghi nhận rằng trong 10 năm qua tỷ lệ tăng tự nhiên dân số đã giảm đi
rõ rệt, nhưng luồng di dân từ các nơi khác đến để tìm việc làm ngày một tăng. Tăng dân số
cơ học (không chính thống) dẫn đến sự tập trung dân cao tại khu vực đô thò.
Theo điều tra của Trung tâm Chuyển giao Kỹ thuật Đất – Phân thì đất đô thò tại Đồng Nai
năm 2002 giảm so với năm 2001 gần 125 ha, nguyên nhân là do có sự chuyển đổi mục đích
sử dụng đất từ đất đô thò sang đất chuyên dùng. Như vậy mặc dù đất đô thò giảm nhưng tốc
độ tập trung dân số tại đô thò lại gia tăng. Điều này tất yếu phát sinh nhiều chất thải sinh
hoạt (nước thải và rác thải) tại khu vực đô thò.
Quá trình đô thò hóa mấy năm gần đây và sắp tới còn diễn ra tại các cụm dân gần các KCN
với tốc độ tương đối lớn. Mới đây, Thành phố công nghiệp Nhơn Trạch đã được khởi công
xây dựng. Ngoài ra hàng loạt các cụm dân cư gần các KCN sẽ được hình thành với đầy đủ cơ
sở hạ tầng phục vụ ổn đònh về nhân lực, cung cấp dòch vụ thương mại, dòch vụ công cộng…
Tại Tp. Biên Hòa có 06 dự án xây dựng nhà ở (bao gồm cả nhà ở cho công nhân và người có
thu nhập thấp) với tổng diện tích khoảng 30,79 ha, tổng diện tích sàn xây dựng 347.600 m
2
,
giá trò đầu tư xây dựng hạ tầng 64,58 tỉ đồng, đầu tư xây dựng nhà 226,15 tỉ đồng. Trên đòa
bàn tỉnh còn có các dự án xây dựng hạ tầng phân lô để dân tự xây dựng nhà ở. Cụ thể là:
- Thành phố Biên Hòa có 24 dự án đang triển khai, với tổng diện tích 56 ha.
- Huyện Vónh Cửu có 3 dự án, với diện tích 34,6 ha.
- Huyện Long Khánh có 5 dự án, với diện tích 4,63 ha.
- Huyện Nhơn Trạch có 5 dự án, với diện tích 252,7 ha.

án
1 Amata 129 91,5 79,09 86,4 37
2 Biên Hòa II 365 261,0 261,00 100,0 126
3 Gò Dầu 184 136,7 101,48 74,2 13
4 Loteco 100 72,0 30,93 42,9 22
5 Hố Nai 230 145,9 81,38 55,7 68
6 Sông Mây 227 158,0 50,28 31,8 19
7 Nhơn Trạch I 430 323,0 191,32 59,2 48
8 Nhơn Trạch II 350 279,0 122,39 43,8 20
9 Nhơn Trạch III 368 240,0 141,05 58,7 17
10 Biên Hòa I 335 231,08 231,00 99,9 90
Tổng 2718 1.938,2 1289,92 66,6 460
Nguồn: Ban quản lý các KCN tỉnh Đồng Nai, tháng 3/2003
Đến nay UBND tỉnh đã giới thiệu 2.604 ha đất công nghiệp cho các công ty lập thủ tục xin
thành lập KCN, bao gồm KCN Nhơn Trạch III giai đoạn 2 (300 ha); KCN Nhơn Trạch V (500
ha); KCN Nhơn Trạch VI (360 ha); KCN Tam Phước (380 ha); KCN An Phước (130 ha); KCN
Long Thành (480 ha); KCN Amata giai đoạn 2 (268 ha); KCN Thạnh Phú (177 ha). Trong số
các KCN trên, một số KCN đã triển khai quy hoạch chi tiết được Bộ Xây dựïng thỏa thuận và
đã thu hút được một số nhà đầu tư (KCN Tam Phước đã cho thuê 205 ha, KCN Bàu Xéo đã
cho thuê 150 ha, KCN Thạnh Phú đã cho thuê được 60 ha).
23
Tỉnh ủy, UBND tỉnh Đồng Nai cũng có chủ trương phát triển xây dựng hạ tầng KCN Xuân
Lộc, Tân Phú, Đònh Quán để hỗ trợ cho các huyện phía Bắc tỉnh Đồng Nai trong việc phát
triển công nghiệp nhằm thực hiện mục tiêu chuyển dòch cơ cấu kinh tế đòa phương gắn liền
phát triển công nghiệp với nguồn nguyên liệu. Hiện nay, Ban Quản lý các KCN đang triển
khai lập quy hoạch chi tiết cho các KCN này.
I.2.6. Hiện trạng phát triển nông nghiệp và nông thôn
I.2.6.1. Trồng trọt
Trong những năm qua sản xuất nông nghiệp tuy gặp nhiều khó khăn về thời tiết, song có
những tiến bộ đáng kể, sản phẩm nông nghiệp luôn tăng, năng suất sản lượng một số cây

người chăn nuôi có lợi nhuận đáng kể, khuyến khích phong trào chăn nuôi trong tỉnh phát
triển nhanh đặc biệt là chăn nuôi heo, gia cầm, nuôi ong lấy mật, không những đầu tư phát
triển về số lượng mà người dân đã tích cực sử dụng các loại giống vật nuôi tiên tiến có năng
suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế cao.
I.2.6.3. Ngư nghiệp
Lónh vực thủy sản tiếp tục phát triển mà chủ yếu là phát triển về nuôi trồng đặc biệt là nuôi
tôm bán thâm canh ở huyện Nhơn Trạch. Riêng huyện Nhơn Trạch hiện nay diện tích nuôi
tôm có khoảng 1.517 ha tăng 38% so với năm trước (tăng 423 ha). Sản lượng thủy sản nuôi
trồng năm 2002 toàn tỉnh đạt 13.386 tấn tăng 4,1% cùng kỳ. Giá trò sản xuất ngành thủy sản
năm 2002 đạt 239,86 tỷ đồng tăng 6,7% cùng kỳ.
Ngoài ra đã đẩy mạnh công tác di dời ngư dân lòng hồ Trò An, ngư dân nuôi trồng thủy sản
ven sông La Ngà. Tổ chức quản lý bảo vệ nguồn lợi thủy sản hồ Trò An, phát triển nuôi trồng
thủy sản các hồ, đập thủy lợi, tổ chức mô hình nuôi tôm nước lợ trên đòa bàn huyện Long
Thành, Nhơn Trạch. Tổng diện tích nuôi thủy sản hiện có 27.998 ha, tăng 6,2% so với cùng
kỳ.
I.2.6.4. Phát triển nông thôn
(1). Tổng số dân nông thôn được sử dụng nước sạch đến năm 2002 trên đòa bàn toàn tỉnh :là
826.026 người, chiếm 57,29% , tăng 4,09% so với năm 2001.
(2). Tổng số hộ nông thôn có hố xí hợp vệ sinh đến năm 2002 là 114.160 hộ, chiếm 41%,
tăng 2,8% so với năm 2001.
(3). Tổng số hộ có chuồng trại chăn nuôi hợp vệ sinh đến năm 2002 là 50.157 hộ, chiếm
28,7%, tăng 8% so với năm 2001.
(4). Chương trình điện khí hóa nông thôn được triển khai trên diện rộng từ việc sử dụng vốn
vay WB và nguồn vốn cải tạo của Điện lực Đồng Nai. Tính đến nay toàn tỉnh có 85,2% số hộ
có điện sử dụng.
(5). Chương trình giao thông nông thôn sử dụng nguồn vốn WB2 đến nay đã xây mới được
hơn 500m dài cầu ở nông thôn và 200km đường mới nông thôn. Ngòai ra chương trình xã hội
hóa giao thông nông thôn cũng đã thu hút được nguồn vốn lớn trong dân và sự hỗ trợ của nhà
nước đã mỡ rộng, sửa chữa, xây mới nhiều tuyến đường ở nông thôn làm cho bộ mặt nông
thôn ngày càng khang trang và sạch đẹp.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status