BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI II NGUYỄN THỊ HOA HÌNH TƯỢNG CON NGƯỜI CÔ ĐƠN VÀ SỰ VÂN ĐỘNG
CỦA NÓ TRONG THƠ CHỮ HÁN CỦA NGUYỄN DU Chuyên ngành : LÍ LUẬN VĂN HỌC
kết thúc cả ba tập thơ. Ở đây, chúng ta thấy, gần như độc chiếm thi giới chữ Hán
Nguyễn Du là con người cô độc, sầu não, con người triền miên trong suy tưởng
u ám về cõi người, cõi đời.
1.1.4. Hình tượng con người cô đơn, con người lạc thời chính là mạch
ngầm, là năng lượng của toàn bộ sáng tác chữ Hán của Nguyễn Du. Và nó xuất
hiện cùng với sự vận động nội tại hướng tới sự trưởng thành trong nhận thức và
tư tưởng. Vấn đề này đã được đề cập trong nhiều nghiên cứu về Nguyễn Du và
thơ chữ Hán của ông, nhưng chưa được đi sâu xứng đáng. Khai thác triệt để khía
cạnh này sẽ tạo ra những thuận lợi đáng kể cho việc nghiên cứu toàn diện con
người và tác phẩm của Nguyễn Du.
2
1.2. Tình hình nghiên cứu
1.2.1. Giai đoạn từ đầu thế kỷ XX đến năm 1954
Trong giai đoạn này, thơ chữ Hán Nguyễn Du chưa được sưu tầm và giới
thiệu rộng rãi. Những người mở đường nghiên cứu là Lê Thước, Đào Duy Anh,
đã khơi lên nhiều tâm sự sâu kín mà Nguyễn Du gửi gắm trong thơ chữ Hán.
1.2.2. Giai đoạn từ năm 1955 đến năm 1975
Thời kỳ này đất nước đang bị chia cắt, tình hình nghiên cứu về thơ chữ
Hán của Nguyễn Du ở mỗi miền có sự khác nhau. Miền Bắc đạt được nhiều
thành tựu hơn.
Từ Trương Chính, Nguyễn Đổng Chi, Bùi Kỷ, giá trị nhân đạo và khuynh
hướng hiện thực trong thơ chữ Hán Nguyễn Du đã được khẳng định. Tiếp sau có
thể kể đến Xuân Diệu với sự quan tâm nhiều hơn đến chiều sâu của nỗi đau đời,
Lê Trí Viễn với sự đề cao khuynh hướng phê phán xã hội và tinh thần nhân đạo,
Nguyễn Huệ Chi với phát hiện tác giả chính là một hình tượng nghệ thuật trong
thơ của mình, Vũ Đình Liên và nhận thức Nguyễn Du là một tâm hồn lạc loài
trong xã hội phong kiến, bắt nguồn từ niềm khát khao về cái đẹp đẽ trong tâm
hồn chứ không chỉ là nỗi đau đời trong thơ ông. Tiếp theo là khẳng định của
Nguyễn Lộc trong “Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII”, mục “Thơ chữ
của Lê Thu Yến…
Đó là những lý do khiến người viết lựa chọn đề tài Hình tượng con
người cô đơn và sự vận động của nó trong thơ chữ Hán của Nguyễn Du.
2. Mục đích nghiên cứu
2.1. Làm rõ sự thể hiện của hình tượng con người cô đơn trong thơ chữ
Hán của Nguyễn Du qua từng thi tập.
2.2. Làm rõ sự vận động của hình tượng con người cô đơn trong tương
quan với sự trưởng thành về tư tưởng nhân văn của nhà thơ.
2.3. Làm rõ hình tượng con người cô đơn như một sự phát triển nổi bật
của mạch riêng giữa dòng chung- chủ nghĩa nhân đạo trong văn học Việt Nam;
đó là hành trình khám phá và khát khao thể hiện cái Tôi nội cảm của thi sĩ mọi
thời.
4
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Đi sâu khai thác một khía cạnh thể hiện của hình tượng thơ, của nhân
vật trữ tình trong thơ, đó là hình tượng con người cô đơn trong tổng thể bức
chân dung tinh thần của nhà thơ qua ba thi tập chữ Hán.
3.2. So sánh, đánh giá sự thể hiện của hình tượng con người cô đơn trong
ba tập thơ để thấy được quá trình vận động trưởng thành về tư tưởng của
Nguyễn Du.
3.3. So sánh, đối chiếu với một số tác giả và tác phẩm cùng đề tài, cùng
thời đại để định hình nhận thức vấn đề trong cái nhìn tổng thể có tính lịch sử của
mạch chủ nghĩa nhân đạo trong văn học Việt Nam, mở rộng so sánh để thấy
hình tượng con người cô đơn còn mang đặc điểm của thơ ca phương Đông và là
một “ tiền nhận thức” của cái TÔI trữ tình sẽ phát triển trong văn học Việt Nam
ở giai đoạn sau.
3.4. Đi sâu khai thác hình tượng con người cô đơn trong thơ Nguyễn Du
để chúng ta thấy sự vượt trước thời gian của một tư duy thơ siêu việt, và sự bộc
lộ chân nhân cách đáng trọng của một tấc lòng đời quý hoá; những điều làm nên
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Hình tượng trữ tình và sự vận động của hình tượng thơ
1.1.1. Hình tượng nghệ thuật
Nghệ thuật là một trong những dạng của ý thức xã hội và văn hóa tinh
thần của loài người. Như các dạng khác, trong đó có khoa học, nghệ thuật là
phương tiện nhận thức đời sống. Và nghệ thuật bao giờ cũng phản ánh và lý giải
đời sống nằm ngoài giới hạn của nó theo cách riêng. Vậy, đâu là đặc điểm của
nghệ thuật, cho phép phân biệt nó với khoa học và các dạng của ý thức xã hội,
hay nói một cách khác, đâu là thuộc tính đặc trưng của nó? Trước hết, sự khác
biệt là nằm trong các phương tiện mà khoa học và nghệ thuật dùng để biểu hiện
nội dung của chúng. Điều đập ngay vào mắt trước hết là khoa học sử dụng các
khái niệm còn nghệ thuật thì sử dụng các hình tượng.
V.G. Bêlinxki viết về sự khác nhau giữa triết học và khoa học với nghệ
thuật: “Nhà triết học nói bằng phép tam đoạn luận, nhà thơ nói bằng các hình
tượng và bức tranh…Nhà kinh tế- chính trị được vũ trang bằng các số liệu thống
kê, dùng chứng minh để tác động vào trí tuệ của người đọc và người nghe…Nhà
thơ được vũ trang bằng sự miêu tả sống động và rõ nét, tác động tới trí tưởng
tượng của người đọc bằng cách trình bày hiện thực trong một bức tranh chân
thực…Một người chứng minh, một người trình bày, cả hai đều thuyết phục, chỉ
có khác là một dằng thì bằng các kết luận logic, một đằng bằng các bức tranh”.
Còn G.V.Plekhanop nói; Nghệ thuật không chỉ biểu hiện tình cảm mà còn
biểu hiện tư tưởng của nghệ sĩ nữa, và biểu hiện chúng qua “ những hình tượng
sinh động”.
Vậy, với tư cách là phương tiện biểu hiện nội dung của nghệ thuật nói
chung, và văn học nói riêng, đồng thời là phương tiện giao tiếp giữa nghệ sĩ và
bạn đọc, hình tượng nghệ thuật có vai trò rất quan trọng- quyết định giá trị nghệ
thuật của tác phẩm.
7
Đối tượng chính của nhận thức nghệ thuật trong trữ tình là tính cách của
bản thân “người mang lời nói”, trước hết là thế giới nội tâm của anh ta, tâm
trạng và thái độ, xúc cảm của anh ta đối với cuộc đời. Tất nhiên, nhà thơ trữ tình
hoàn toàn có thể thay đổi ngôi cách, hoàn toàn có thể ghi nhận một cách nghệ
thuật những tâm trạng vốn thuộc về một người nào đó mà nói theo cách của Fet:
biết “làm cho mình phút chốc cảm thấy là người khác”- là một trong những đặc
tính của năng khiếu thơ.
Nhưng ở đa số trường hợp, trữ tình thường ghi nhận tâm trạng của bản
thân nhà thơ. Những bài thơ mà chủ thể trữ tình đồng nhất hoặc gần gũi nhiều
nhất với bản thân nhà thơ được gọi là thơ “tự thuật tâm trạng”. Và sáng tác trữ
tình về căn bản là tự thuật tâm trạng. Đó là căn cứ để có thể xác lập được một
quan niệm sáng rõ và đầy đủ về thế giới trí tuệ và cảm xúc của bản thân tác giả.
Tính chất trực tiếp và thẳng thắn của “ tự biểu cảm” là một trong những
thuộc tính quan trọng nhất của trữ tình. Theo Heghen, nhà thơ trữ tình có thể tìm
kiếm sự kích thích sáng tạo và tìm kiếm nội dung ở bên trong bản thân mình, tập
trung vào những tình thế, trạng thái, xúc cảm và dục vọng nội tại nơi trái tim và
tinh thần mình. Nhà thơ Đức, Johannes Becher khẳng định; nhà thơ trữ tình là
“ người tự biểu hiện mình. Bản thân anh ta là nhân vật trong thiên trữ tình của
mình.”
Tuy nhiên cần lưu ý, những tâm trạng được thể hiện một cách trữ tình
không phải là sự sao chép y nguyên những gì nhà thơ đã trải qua. Trữ tình tuyệt
nhiên không phải là sự “tốc ký” những tình cảm mà tác giả đã được nếm trải
trong cuộc đời thực. Những tâm trạng không đúng tâm trạng của tác giả hay tâm
trạng của người khác cũng xuất hiện nhiều trong thơ. Nhân tố tự thuật tâm trạng
và nhân tố nhập vai của sáng tác trữ tình như thế gắn bó chặt chẽ với nhau. Nhà
thơ trữ tình, theo E. Vinokurop, là một sự thống nhất trong hai con người. Thứ
nhất, là một con người có số phận nhất định, một kinh nghiệm sống nhất định,
những tâm trạng và quan điểm nhất định; thứ hai, là nhân vật của chính những
bài thơ của mình. Việc biến những nét nhân cách của nhà thơ thành hình tượng
9
Trong hướng vận động của cảm xúc và suy nghĩ trong thơ có những
phong cách thơ hoặc những bài thơ nghiêng hẳn về phía triết lý suy tưởng hoặc
bình luận, chính luận.
Trên đây, có thể hiểu là những hình dung về mặt cắt ngang của sự vận
động của hình tượng thơ; Đó là những đặc điểm, quy luật tất yếu trong nội tại
hình tượng thơ.
Và sẽ vô cùng thiếu sót nếu không nghiên cứu sự vận động của hình
tượng thơ trên mặt cắt dọc của nó- nơi gắn kết toàn bộ sản nghiệp của một nhà
thơ với quá trình sống và trưởng thành- quá trình vận động trong tình cảm, tư
tưởng của người sinh thành ra thơ.
Nếu như lấy điểm tựa ở sự bộc lộ thế giới nội cảm của nhà thơ trước cuộc
đời; Thơ gắn với chiều sâu thế giới nội tâm; thơ bộc lộ nhận thức của nhà thơ về
cuộc đời, thì một thi sĩ năm mươi tuổi khác rất nhiều chính bản thân anh ta thời
đôi mươi, mười tám. Thời gian không chỉ nuôi những tế bào sinh học phân chia
và lớn lên mà còn nuôi trái tim và khối óc trưởng thành. Sự trưởng thành và độ
trưởng thành được đo bằng chính những nhận thức về cuộc đời được thể hiện
trong thơ của họ.
Hình tượng trữ tình thường là chính nhà thơ. Và sự vận động của hình
tượng thơ chính là quá trình trưởng thành về mặt tư tưởng của thi sĩ.
1.2. Hình tượng con người cô đơn và sự thể hiện của nó trong thơ
trung đại
Văn học trung đại, đó là lãnh địa của phi ngã. Mà con người thì làm sao
có thể tồn tại, làm sao có thể sống với những cái không phải là mình? Có chăng,
ở một bình diện nào đó, họ là những con người giả dối. Vậy ngay từ bản thức,
họ đã cô đơn rồi. Và những ai ý thức được điều đó- tức ý thức được về mình là
những con người cô đơn hơn cả.
Dù ở thời đại nào, bản chất của con người là vận động không ngừng vượt
lên trên giới hạn của chính nó. Nhưng , như IU.M.Lotman quan niệm, khi anh đi
trên con đường này, đồng thời anh đã đánh mất những con đường khác. Bị đóng
11
thôi, chỉ mình tự thương mình trong nỗi hoang côi, vắng lạnh.
Hình tượng con người cô đơn trong Chinh phụ ngâm được tác giả xây
dựng trên phông nền cuộc sống không sự sẻ chia và thấu hiểu. Tất cả mọi sự vật
xung quanh đều lảng tránh, quay lưng với nỗi cô đang cào xé trong lòng người.
Không gian vô cùng mà bức bách khắc nghiệt, bức bách bởi sự lặng im vô cảm
của không gian, thời gian, để với nỗi cô đơn, người chinh phụ suốt đời đi tìm-
một hành trình vô vọng và đơn độc.
Nguyễn Gia Thiều lại xây dựng con người cô đơn ở một góc tiếp cận cuộc
sống khác. Đó là lời của người cung nữ miêu tả nỗi thê thảm trong cuộc sống cô
đơn, tù túng. Từ sự phản ánh hiện thực với lòng phẫn nộ và sự oán hờn, nàng triết lí
về cuộc đời ảo mộng, dối trá, phù du và tuyệt vọng:
“Trăm năm còn có gì đâu.
Chẳng qua một nấm cỏ khâu xanh rì”.
Thế là sau hành trình cuộc đời, con người ta chỉ nghiệm ra một điều, đó là
sự cô đơn từ lúc sinh ra đến khi thân cát bụi lại trở về cát bụi. Hình tượng con
người cô đơn đó được đặt trên nền không gian bưng bít của chốn tiêu phòng
lạnh lẽo, thời gian chủ yếu là mùa thu và bóng đêm, cảnh thường được lồng qua
màn sương hồi ức và tưởng tượng.
Cuộc đời dài vì cuộc đời vô nghĩa; dằng dặc một nỗi cô đơn không điểm
tận cùng. Con người sống giữa đồng loại của mình mà “như cây mọc bên
tường”( Nguyễn Huy Thiệp)- không liên kết, rời rạc và vô cảm.
Và ở đây, Nguyễn Gia thiều đã xây dựng hình tượng con người cô đơn-
mượn lời cung nữ để nói lên tâm sự bế tắc của mình, cũng là sự bế tắc của lớp
nhà nho thời đại ông, chán chường, mệt mỏi.
Ta cũng có thể bắt gặp một sự thể hiện khác về hình tượng con người cô
đơn trong thơ Cao Bá Quát. Trong bài Sa hành đoản ca có đoạn:
“ Trường sa phục trường sa
Nhật bộ nhất hồi khước
13
Nhật nhập hành vị dĩ
người nghệ sĩ, kẻ chân chính cũng phải biết chấp nhận cô đơn, đau buồn mới tạo
cho mình một tư thế khả dĩ đối mặt với đời.
Nguyễn Trãi cũng xây dựng hình tượng con người cô đơn qua bài thơ Cây
chuối; “ Tự bén hơi xuân tốt lại them
Đầy buồng lạ mầu thâu đêm
Tình thư một bức phong còn kín
Gió nơi đâu gượng mở xem”.
Ta bắt gặp một Nguyễn Trãi cô đơn, tình tứ, đang ngắm nhìn những đọt
chuối non mà hình dung ra một bức thư tình còn phong kín.
Một khoảnh khắc khác: “ Một cày, một cuốc thú nhà quê
Hái cúc, ương sen, vãi đậu kê”.
Đây lại là cái cô đơn thanh thản của một con người đang mang tâm thế
lánh đời, muốn lánh đục về trong.
Và như thế, bên dòng trôi phi ngã của văn học trung đại, ta vẫn thấy liên
tục và liền mạch sự thể hiện của bản ngã- cái Tôi cá nhân, trong hành trình cô
đơn, lạc lõng ngay trong thời đại của mình. Vậy, hình tượng con người cô đơn
đã có nguồn gốc biện chứng của nó.
Dù thể hiện với cách này hay cách khác, ở góc độ này hay góc độ kia thì
hình tượng con người cô đơn cũng đã được xác định tồn tại cụ thể và logic trong
dòng văn học trung đại. Nó không phổ quát nhưng sâu, nó không đại trà nhưng
tập trung nhiều năng lượng. Hầu như tác giả trung đại nào cũng có một góc đối
diện với chính mình và nhận ra nỗi cô đơn đích thực đang thật thà cựa quậy
trong sự ổn định của tư tưởng Nho giáo. Cô đơn thường đi liền với bất an, bế tắc
và tuyệt vọng. Mỗi tác giả trung đại trên đây đều đã xây dựng hình tượng con
người cô đơn theo cách riêng của mình. Và trong dòng trôi liền mạch đó, không
thể không kể đến một cái tên lớn, đó là đại thi hào dân tộc Nguyễn Du.
15
1.3. Hình tượng con người cô đơn trong thơ chữ Hán của Nguyễn Du-
Mạch riêng giữa dòng chung.
1.3.1. Hình tượng con người cô đơn trong thơ chữ Hán của Nguyễn Du.
người thường mà của một bậc kỳ tài.
Giấc mộng tiến thân bằng con đường thi cử không thành, cuộc đời nhà thơ
bắt đầu những chuỗi ngày lữ thứ phiêu linh, ăn nhờ, ở đậu quê người. Lưu vong
trong chiến loạn, Đỗ Phủ sống phiêu bạt cô đơn nơi đất khách. Nỗi lòng sầu xứ,
tâm trạng lưu đày, tâm thế bi thương cùng lúc đã phả vào thơ ông những hơi thở
thê lương, chua chát của một con người khát khao dấn thân lập chí giúp đời
nhưng bị gạt bỏ ra ngoài xã hội. Giờ đây, nỗi cô độc không còn là của người trẻ
tuổi tài cao “ kiêu ngạo, lạ lùng” như ngày trước mà là của con người bất đắc chí
đã nếm trải hết những thất bại, đau thương, đói khổ trong đời. Từ giai đoạn này
trở đi, trong thơ Đỗ Phủ xuất hiện hình ảnh một ông già côi quạnh, thường lui về
ở ẩn xóm bên sông, lấy cảnh tịch mịch, u buồn để sống nốt những ngày cuối đời:
“ Giang thôn độc quy xứ
Tịch mịch dưỡng tàn sinh”.
( Nay một mình về ở ẩn xóm bên sông
Lấy cảnh vắng nuôi cuộc đời còn lại).
( Phụng tế dịch trùng tống Nghiêm công tứ vận)
Tâm sự cô đơn, vô vọng kiểu Đỗ Phủ cũng xuất hiện nhiều trong sáng tác
chữ Hán của Nguyễn Du. Từ thời trai trẻ, thi nhân đã nhắc nhiều đến nỗi cô độc
của bản thân mình. Đó là nỗi niềm tâm sự của một con người cô đơn, mệt mỏi, u
sầu, mất đi niềm tin vào cuộc sống. Sinh ra trong cảnh loạn ly, chứng kiến bao
nhiêu bi hoan, tan hợp, Nguyễn Du chán ngán thế sự, âu lo về con đường tương
lai, không biết ngỏ cùng ai những ước nguyện hùng tâm tráng khí. Một mình
một bóng với bao cảnh thế sự thăng trầm, nhiễu nhương, đen bạc, với năm tàn
tháng tận, với tuổi già bóng xế, với mái tóc bạc trên đầu. Dễ thấy trong những
vần thơ chữ Hán của ông, hình ảnh một con người lặng im, vô ngôn, cô độc, tự
17
vùi chôn tâm sự vào đáy lòng mình. Hiếm khi Nguyễn Du tâm sự với một ai, chỉ
thấy những tấc lòng cô đơn không dễ gì lý giải:
“ Ngã hữu thốn tâm vô dữ ngữ”
( Ta có tấc lòng không biết ngỏ cùng ai).
Trên đường đi, nhà thơ nhìn cảnh vật xứ người mà lòng dấy lên nỗi cô đơn da
diết. Đỉnh cao tâm trạng cô đơn của người đi xa trông về cố quốc, có lẽ là khi
nhà thơ đứng trước thành Tín Dương nghe tiếng kèn mùa thu ảo não, u buồn mà
cảm xúc trào dâng. Chừng như, Nguyễn Du đồng vọng với Thôi Hiệu năm xưa
khi đứng trên lầu Hoàng Hạc, bâng khuâng về một cánh hạc, hoài vọng cái đã
qua, trở về với chính mình, cảm nhận sự cô đơn của gót chân lãng du mà man
mác sầu nhớ quê hương:
“ Vạn lí hương tâm hồi thư xứ
Bạch vân nam hạ bất đăng đa”
( Ở nơi muôn dặm nhớ quê hương nghoảnh đầu nhìn lại
Chỉ thấy mây trắng bay về Nam không kể xiết )
Tìm hiểu nỗi buồn, cô đơn trong thơ Đỗ Phủ và thơ chữ Hán Nguyễn Du,
ta sẽ thấy có nhiều điểm tương đồng. Trong cảm thức vũ trụ mênh mang, cõi đời
hư ảo, người đọc nhận ra nỗi lòng cô đơn ở những thiên tài “ độc bộ”, “ độc
hành” trên hành trình đi tìm kiếm sự hóa giải nội tâm. Đường đi và đích đến mỗi
người mỗi khác, nhưng cả hai đều trăn trở trong bể khổ nhân sinh, đều nhọc
nhằn tìm kiếm và nhiều khi nhuốm màu sắc bi hài với những trải nghiệm cá
nhân trước vòng xoay tạo hóa. Đó là nỗi cô độc của những con người có tài có
tâm, có ý thức phản tỉnh, tự ngẫm, tự suy xét lại bản ngã cá nhân mình.
Thực ra, cảm thức cô đơn không phải đợi đến thơ Đỗ Phủ và thơ chữ Hán
Nguyễn Du mới có, mà đã bàng bạc trong thơ ca trước đó. Nó được khởi phát từ
Tam Lư đại phu Khuất Nguyên thủa trước mà vọng về thẳm sâu trong tâm hồn
những con người bất đắc chí với đời. Nhưng có lẽ, phải đợi đến Đỗ Phủ ở Trung
Hoa và Nguyễn Du ở Việt Nam, những nhà thơ có tài, có tâm, có ý thức về vai
trò bản ngã cá nhân mình- cảm thức cô đơn mới xuất hiện một cách xúc động,
19
chân thực và sâu sắc. Đứng ở phương diện tiếp nhận văn học, nỗi buồn, cô đơn
của cái tôi trữ tình trong thơ Đỗ- Nguyễn cũng là nỗi buồn, cô đơn, chới với của
cả một giai đoạn, một thời đại, một dân tộc đang oằn mình “ trong trường dạ tối
tăm trời đất”, mang trong mình nhiều bi kịch lịch sử đau thương . Nó như những
làm ông càng cô đơn, phẫn uất. Nguyễn Du đã phải “đày thân” giữa chốn dị
hương xa lạ, không người ruột thịt, thiếu vắng tri âm. Ngay với bài thơ đầu tiên,
ta đã cảm nhận được sự cô đơn ấy.
“Hồng lĩnh vô gia huynh đệ tán
Bạch đầu đa hận tuế thời thiên”
(tan tác anh em Hồng Lĩnh vắng
Ngậm ngùi năm tháng bạc đầu rồi)
(Quỳnh Hải nguyên tiêu – Đêm rằm tháng riêng ở Quỳnh Hải)
Cảnh đẹp của không gian, thời gian hiện tại chỉ làm kẻ tha hương thêm
xót xa, tủi phận. Ngay đầu tập thơ, ta đã bắt gặp hình ảnh “tóc bạc”, thời gian vô
tình cũng là mối hận của thi nhân.
“Sinh vị thành danh thân dĩ suy
Tiệu tiêu bạch phát mộ phong xuy”
(Danh phận chưa thành, sức yếu ngay
Lơ thơ tóc bạc gió chiều bay)
(Than Mình I)
21
Mới là những bài thơ đầu tiên, mà ta đã thấy ước mơ, lý tưởng, khát vọng
đã không còn chút sinh khí. Tóc đã bạc rồi mà công chưa thành danh chưa toại.
Nỗi sầu thất thế, lại của kẻ tha hương làm hình ảnh trữ tình hiện lên uể oải, phờ
phạc, yếu đuối và cô đơn quá! Câu thơ như tiếng thở dài não ruột.Để rồi, cuối
bài thơ là một lời trôi về vô hướng – bất lực và tuyệt vọng :
“Tất cánh phiêu linh hà sứ quy?”
(Biết đến nơi nào lạc bước đây)
Với Tự thán II, ta gặp một hình ảnh tương tự :
“Thư kiếm vô thành sinh kế xúc
Xuân thu đại tự bạch đầu tân”
(Dở dang thư kiếm cơn cùng quẫn
Lần nữa xuân thu tóc bạc rồi)
Nỗi cô đơn, thiếu vắng tri âm, lại cơ tủi trong sự sa, thất thế, khiến những
“Trú cửu đốn vong thân thị khách
… Dị hương dưỡng chuyết sơ phòng tục
Lưu lạc bạch đầu thành để sự”
(Ở trọ lâu ngày bẵng quên mình là khách
… Ở đất khách giả vụng về để phòng thói tục
… Xiêu dạt đến bạc đầu có thành việc gì đâu)
(U cư I - ở nơi u tịch)
Dường như, con người ấy đang bị trượt vào bi kịch “tha nhân”. Sống
không còn là chính mình – tồn tại không phải với con người thực của mình - ấy
là cô đơn tận cùng, lẻ loi tận cùng … Con người ấy đang đứng bên bờ của sự
tiêu biến, vô nghĩa.
Vẫn tâm sự ấy :
“Thập tải phong trần khứ quốc xa
Tiêu tiêu bạch phát kí nhân gia
Trường đồ nhật mộ tân du thiểu
Nhất nhất xuân hàn cựu bệnh đa
23
Hoại bích nguyệt minh bàn tích dịch
Hoang trì thủy hạc xuất hà ma”
(Mười năm trọn quê người nấn ná
Nương nhà người tóc đã điểm sương
Bạn thưa, ngày muộn, đường trường
Một nhà xuân lạnh khá thương bệnh nhiều
Vách nát trăng sáng, rắn mối leo quanh
Ao hoang, nước cạn, ếch nhái nhảy ra)
(U cư II)
Cô đơn trong không gian, cô đơn giữa thời gian và cô đơn giữa tất thảy sự
vật xung quanh mình, lại bệnh tật, ốm yếu… Khung cảnh hiện lên thật thê
lương, thảm hại. Mệt mỏi và bi lụy như níu nặng tâm trí và xúc cảm con người.
Mọi sự vật đều trôi theo chiều tuyệt vọng và bế tắc. Kẻ tha hương, thất thế kia
2.1.2. Dưới chân núi Hồng: Những giả hướng trốn đời bất khả thi
Năm 1796, Nguyễn Du trở lại quê nhà : đi câu cá ở bể Nam, đi săn ở
Hồng Lĩnh, lấy tên là Nam Hải Điếu Đồ và Hồng Sơn Liệp Bộ - Nhà thơ có vẻ
một ẩn sĩ. Nhưng cuộc sống ngay ở chốn quê nhà cũng chẳng có gì sáng sủa hơn
vẫn cô đơn, bệnh tật và nghèo đói.
Thực tế đó chưa đúng là điều ông mong muốn, nhưng quê nhà là đây,
ông không còn chốn cụ thể hữu thực nào cho tâm hồn nương tựa. Ông tìm đến
những giả hướng trốn đời bất khả thi như : hướng về một người bạn phương xa
lúc vô danh, lúc hữư danh, nhưng lời thơ chỉ như những độc thoại( Ký Huyền hư
tử, Biệt Nguyễn Đại lang), lúc lại Ký mộng như một kẻ lãng du vô thức, ngoài
ra còn có một số bài có tính ẩn dật thoát ly và hưởng lạc. Ở đây, ta gặp một tâm
trạng hoàn toàn mất phương hướng, ngơ ngác, cô đơn đến tội tình.
Ngay ở bài thơ đầu tiên, Giang Đình hữu cảm ta đã thấy sự xác lập thái độ
của nhà thơ :
“Nhất tự y thường vô mịch sứ
Lưỡng đê yên thảo bất thăng bi”