Sử dụng phần mềm dạy học theo hướng tích cực hoá quá trình nhận thức của học sinh trong dạy học một số kiến thức vật lý 11, THPT - Pdf 29


1

MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài.
Trong các nguồn lực để phát triển đất nước nhanh, hiệu quả, bền vững,
đúng định hướng thì nguồn lực con người là yếu tố cơ bản. Muốn xây dựng
nguồn lực con người, phải đẩy mạnh đồng bộ giáo dục đào tạo, khoa học công
nghệ và xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Muốn phát triển được giáo dục, một trong những vấn đề cấp thiết có tính
chiến lược là đổi mới phương pháp giáo dục. Từ việc truyền thụ tri thức thụ
động một chiều: Thầy giảng, trò ghi, sang hướng dẫn người học chủ động tư
duy trong quá trình tiếp cận tri thức. Phương pháp giáo dục được quy định
trong Luật Giáo dục nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại mục 2
Điều 4 ghi rõ: “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác,
chủ động tư duy sáng tạo của người học, bồi dưỡng năng lực tự học, lòng say
mê học tập và ý chí vươn lên” [13].
Trước bối cảnh đó, đổi mới phương pháp dạy học là cần thiết. Nghị
quyết hội nghị lần 2 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII chỉ rõ: "Đổi
mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục - đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một
chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học. Từng bước áp
dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy
học " [7].
Nhận thức được tầm quan trọng của công nghệ thông tin (CNTT) đối
với đổi mới giáo dục, trong Chỉ thị số 29/2001/CT-BGD&ĐT, Bộ trưởng Bộ
giáo dục và Đào tạo đã chỉ rõ: “Ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin
trong giáo dục và đào tạo sẽ tạo ra một bước chuyển biến cơ bản trong quá
trình đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp giảng dạy, học tập và
quản lý giáo dục" [2].

2


như nước ta và kết hợp sử dụng chúng với các phương tiện dạy học hiện đại
như máy vi tính, Projector vào quá trình dạy và học nhằm giúp học sinh
phát huy tính tích cực học tập, tự chiếm lĩnh kiến thức dưới sự tổ chức, điều
kiển của giáo viên, góp phần đổi mới phương pháp dạy học theo hướng hiện
đại [27].
Với những lí do nêu trên, chúng tôi chọn đề tài:
“Sử dụng phần mềm dạy học theo hướng tích cực hóa quá trình nhận thức
của học sinh trong dạy học một số kiến thức Vật lí 11, THPT".
2. Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề.
Nghiên cứu, khai thác và sử dụng phần mềm trong dạy học đã có nhiều
tác giả nghiên cứu như "Khai thác và sử dụng phần mềm Crocodile Physics
trong dạy học Vật lí ở trường trung học phổ thông" (Lê Thị Ngọc Thủy,
2005), "Nghiên cứu khai thác Working Model thiết kế dạy cơ học Vật lí 10
trung học phổ thông" (Hoàng Trọng Phú, 2004), "Khai thác và sử dụng phần
mềm Working Model trong dạy học Vật lí ở trường trung học phổ thông"
(Huỳnh Thị Đức Hạnh, 2006).
Tác giả Hoàng Trọng Phú là người đầu tiên nghiên cứu khai thác
Working Model vào dạy học. Tuy nhiên, tác giả chỉ giới hạn phạm vi ở phần
cơ học 10 và chưa đưa ra một hướng dẫn cụ thể, chi tiết cần thiết cho người
lần đầu tiên thiết kế mô phỏng với Working Model. Các TNMP được thiết kế
còn đơn giản, chưa khai thác hết những tính năng của phần mềm Working
Model. Với trình độ tin học và tiếng Anh hạn chế, nhiều GV còn rất ngần ngại
trong việc khai thác và sử dụng phần mềm Working Model để phục vụ dạy
học. Do vậy, trong thực tế, việc khai thác và sử dụng phần mềm này vào dạy
học Vật lí nhằm tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS chưa phát triển hết
khả năng vốn có của nó [8].

4


quan tâm trong dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của học
sinh.
3. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài.
Xây dựng quy trình, phương pháp, kỹ thuật sử dụng phần mềm dạy học
theo hướng tích cực hoá quá trình nhận thức của học sinh trong dạy học một
số kiến thức của các chương “Cảm ứng điện từ”, “Mắt.Các dụng cụ quang”
Vật lí lớp 11, THPT.
4. Đối tượng nghiên cứu.
- Quá trình dạy học Vật lí ở trường phổ thông có sử dụng phần mềm
dạy học
5. Giả thuyết khoa học.
Phần mềm dạy học có vai trò rất quan trọng trong việc phát huy tính
tích cực trong hoạt động nhận thức của học sinh. Nếu nghiên cứu, đề xuất
được quy trình thiết kế tiến trình dạy học với sự hỗ trợ của PMDH hợp lí thì
sẽ phát huy được tính tích cực trong hoạt động nhận thức của HS, góp phần
đổi mới PPDH và nâng cao hiệu quả dạy- học Vật lí ở thường THPT.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài.
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về tích cực hóa hoạt động nhận thức của học
sinh trong dạy học Vật lí.
- Điều tra thực trạng của việc sử dụng PMDH trong dạy học Vật lí của
các trường THPT nói chung và trong một số kiến thức lớp 11 nâng cao nói
riêng.
- Nghiên cứu mục tiêu, nội dung, chương trình và SGK Vật lí 11.
- Đề xuất quy trình dạy học một số bài dạy học Vật lí có sử dụng phần
mềm dạy học.

6

- Tiến hành thực nghiệm sư phạm để đánh giá hiệu quả của việc vận
dụng phần mềm dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của

sư phạm, so sánh kết quả học tập của hai nhóm thực nghiệm và đối chứng, từ
đó rút ra nhận xét nhằm kiểm chứng giả thuyết khoa học của đề tài.
9. Cấu trúc luận văn.
Luận văn có cấu trúc như sau:
- Mở đầu
- Phần nội dung
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử dụng phần mềm
dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh trong
dạy học Vật lí
Chương 2: Phương pháp sử dụng phần mềm dạy học theo hướng
tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh trong dạy học Vật lí 11
nâng cao THPT.
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
- Phần kết luận
- Tài liệu tham khảo
- Phụ lục.

8

NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG PHẦN MỀM
DẠY HỌC THEO HƯỚNG TÍCH CỰC HOÁ HOẠT ĐỘNG NHẬN
THỨC CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ.
1.1. Cơ sở lí luận của việc tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh
trong dạy học Vật lí.
1.1.1. Quan niệm về tính tích cực nhận thức.
Tính tích cực nhận thức là khái niệm biểu thị sự nỗ lực của chủ thể khi
tương tác với đối tượng [22].
Theo Kharlamov: Tính tích cực nhận thức là trạng thái hoạt động của HS,

chắc rằng: mọi hiện tượng trong tự nhiên đều diễn ra theo quy luật của tự
nhiên, có tính khách quan, có hệ thống chặt chẽ mà con người có thể nhận
thức được ngày càng sâu sắc và chính xác hơn [9].
Hoạt động nhận thức vật lí của HS phổ thông khác hẳn với hoạt động nhận
thức của nhà khoa học [22]. Những định luật vật lí, kĩ năng tiến hành thí
nghiệm vật lí đều là những điều đã biết. Dưới sự hướng dẫn của GV, HS tái
tạo lại chúng trong một thời gian ngắn của tiết học để biến thành vốn riêng
của mình, chứ không đem lại điều gì mới mẻ cho kho tàng kiến thức vật lí.
Nhưng với bản thân HS, qua hoạt động tái tạo kiến thức đó mà trưởng thành
lên.
Theo quan điểm dạy học hiện nay, dạy vật lí là tổ chức, dướng dẫn HS
thực hiện các hành động nhận thức vật lí để họ tự giác lĩnh hội tri thức, rèn
luyện kĩ năng nhằm tạo ra sự biến đổi và phát triển ở chính người học [16].
Đối với HS THPT, những hành động được dùng phổ biến trong quá trình
nhận thức vật lí là:

10
- Quan sát hiện tượng tự nhiên, nhận biết những dấu hiệu đặc trưng bên
ngoài của sự vật hiện tượng vật lí;
- Phân tích một hiện tượng phức tạp ra thành những hiện tượng đơn giản;
- Xác định những giai đoạn diễn biễn của hiện tượng;
- Bố trí, tiến hành một thí nghiệm để tạo ra hiện tượng tự nhiên trong
những điều kiện xác định nhằm làm bộc lộ những mối quan hệ, những thuộc
tính của sự vật, hiện tượng;
- Đo một đại lượng vật lí;
- Ghi chép những thông tin thu thập được từ quan sát, thí nghiệm;
- Tìm các dấu hiệu giống nhau của các sự vật hiện tượng;
- Tìm tính chất chung của nhiều sự vật hiện tượng cùng loại;
- Tìm mối quan hệ khách quan, phổ biến giữa các sự vật, hiện tượng vật
lí;

- Lựa chọn và cung cấp cho HS những phương tiện, công cụ nhất thiết để
thực hiện hành động;
- Cho HS làm quen với các phương pháp nhận thức vật lí.
Như vậy, khi nắm được các hành động chính trong hoạt động nhận thức
vật lí của HS và nhờ đó xác định những hành động chính trong dạy học vật lí,
GV biết phải lựa chọn kiến thức, phương tiện nào và vận dụng như thế nào để
các hành động ấy ngày càng thành thạo và chính xác.
1.1.3. Tính tích cực hoạt động nhận thức của học sinh trong môn Vật lí.
Tính tích cực hoạt động nhận thức là tính tích cực chủ yếu được xét trong
quá trình nhận thức của HS trong học tập [22].
Điều đáng chú ý là: Mục đích giáo dục ngày nay ở nước ta và trên thế giới
không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ cho HS những kiến thức, kĩ năng loài
người đã tích luỹ được trước đây, mà còn đặc biệt quan tâm đến việc bồi

12
dưỡng cho họ năng lực sáng tạo ra những tri thức mới, giải quyết những vấn
đề mới phù hợp với hoàn cảnh của đất nước, của mỗi dân tộc [19].
Hoạt động học tập dựa trên sự hứng thú thì người HS không chỉ nắm vững
nội dung rộng lớn và sâu sắc mà còn tạo nên thái độ tích cực của cá nhân đối
với học tập.
Tính tích cực hoạt động nhận thức trong học tập liên quan với động cơ học
tập. Động cơ đúng tạo ra hứng thú. Hứng thú là tiền đề của tự giác. Hứng thú
và tự giác là hai yếu tố tâm lí tạo nên tính tích cực. Tính tích cực sản sinh nếp
tư duy độc lập. Suy nghĩ độc lập là mầm mống của sáng tạo. Ngược lại,
phong cách học tập tích cực, sáng tạo sẽ phát triển tự giác, hứng thú và bồi
dưỡng động cơ học tập [12],[9].
Những biện pháp kích thích hứng thú học tập của HS có thể là:
- Tạo điều kiện để HS củng cố lòng tin vào sức mình: GV kịp thời biểu
dương khi HS trả lời đúng hoặc thể hiện sự cố gắng, cho HS những bài tập tự
chọn kết hợp với những bài tập bắt buộc để các em phát triển khả năng tự học


- HS khao khát, tự nguyện tham gia trả lời các câu hỏi của GV, bổ sung
các câu trả lời của bạn, thích được phát biểu ý kiến của mình về vấn đề nêu
ra
- HS hay thắc mắc, đòi hỏi giải thích cặn kẽ những vấn đề mà GV trình
bày chưa đủ rõ.
- HS chủ động vận dụng linh hoạt những kiến thức, kĩ năng đã học để
nhận thức những vấn đề mới.
- HS mong muốn được đóng góp với thầy, với bạn những thông tin mới
lấy từ những nguồn khác nhau, có khi vượt ra ngoài phạm vi bài học, môn
học.

14
- Ngoài những biểu hiện nói trên mà GV dễ nhận thấy còn có những biểu
hiện về mặt cảm xúc, khó nhận thấy hơn, như thờ ơ hay hào hứng, phớt lờ hay
ngạc nhiên, hoan hỉ hay buồn chán trước một nội dung nào đó của bài học
hoặc khi tìm ra lời giải thích hay cho một bài tập khó
Những dấu hiệu này biểu hiện khác nhau ở từng cá thể HS, bộc lộ rõ ở
những HS các lớp dưới, kín đáo ở HS các lớp trên. G.I. Sukina còn phân biệt
những biểu hiện của tính tích cực học tập về mặt ý chí:
- Tập trung chú ý vào vấn đề đang học.
- Kiên trì làm xong các bài tập.
- Không nản trước các tình huống khó khăn.
- Thái độ phản ứng khi chuông báo hết tiết học: tiếc rẻ, cố làm cho xong,
hoặc vội gấp sách vở, chờ được lệnh ra chơi.
+ Mức độ biểu hiện tính tích cực học tập.
G.I. Sukina phân biệt ba cấp độ biểu hiện tính tích cực học tập, từ thấp đến
cao:
- Bắt trước, sao chép: Xuất hiện do tác động kích thích bên ngoài. Kinh
nghiệm hoạt động cuả bản thân HS được tích luỹ dần thông qua việc tích cực

nghiệm cuộc sống ); tình trạng sức khoẻ; trạng thái tâm lí (hứng thú, xúc
cảm, chú ý, nhu cầu, động cơ, ý chí ); phẩm chất (các giá trị đạo đức, thẩm
mỹ, tinh thần trách nhiệm ).
2. Môi trường giáo dục: Đặc điểm hoạt động trí tụê (tái hiện, sáng tạo );
chất lượng quá trình dạy học – giáo dục (nội dung, phương pháp, phương tiện,
hình thức kiểm tra đánh giá ); quan hệ thầy trò; không khí học tập
3. Điều kiện cơ sở vật chất, tinh thần (thời gian, tiền của, không khí đạo
đức ).
Có thể tóm tắt qua sơ đồ sau:
Tính tích cực
nh
ận thức

Biểu hiện
- Khao khát học
- Hay nêu thắc mắc
- Tập trung chú ý
- Kiên trì
Cấp độ
- Bắt chước
- Tìm tòi

-

Sáng t
ạo16


năng, kĩ xảo mà phải dạy cho HS cách học, cách tự học, tự hoạt động nhằm
đáp ứng các nhu cầu của bản thân và xã hội.
Môi trường giáo dục

Cơ sở vật chất
Tính tích cực
nhận thức

-Cảm giác, tri giác.
- Tư duy
- Tưởng tượng
- Ngôn ngữ
Phẩm
chất
Nhu cầu
động cơ
Tri
thức
Sức
khoẻ

Ý
chí
Trí
tuệ
Xúc cảm
Kinh nghiệm

10. Phát triển kinh nghiệm sống của HS trong học tập qua các phương
tiện thông tin đại chúng và các hoạt động xã hội.
11. Tạo không khí học tập thoải mái, môi trường lành mạnh trong lớp,
trong trường, tôn vinh sự học nói chung và biểu dương những HS có thành
tích học tập tốt. Chúng ta không thể tích cực hoá trong khi HS vẫn mang tâm
lí lo sợ, khi các em không có động cơ và hứng thú học tập và đặc biệt là thiếu
không khí dạy học. Trong môi trường đó HS dễ dàng bộc lộ những hiểu biết
của mình và sẵn sàng tham gia tích cực vào quá trình dạy học, vì khi đó tâm lí
các em rất thoải mái.
12. Có sự động viên, khen thưởng từ phía gia đình và xã hội.
1.2. Phần mềm dạy học.
1.2.1.Khái niệm phần mềm dạy học.
Theo từ điển tin học Anh-Việt, nhà xuất bản thanh niên 2000: “Phần mềm-
Sofware là các chương trình hay thủ tục chương trình, chẳng hạn như một ứng
dụng, tập tin, hệ thống, chương trình điều khiển thiết bị , cung cấp các chỉ thị
chương trình cho máy tính”.
PMDH là một trong những chương trình ứng dụng được xây dựng nhằm
hỗ trợ cho GV và HS trong QTDH.
PMDH là phần mềm phục vụ cho việc sử dụng MVT vào dạy học bằng
cách ra lệnh cho máy tính thực hiện các yêu cầu về nội dung và PPDH theo
các mục tiêu đã định. PMDH là phần mềm được thiết kế nhằm hỗ trợ có hiệu
quả việc dạy và học của GV, HS trong việc bám sát mục tiêu, nội dung,
chương trình, sách giáo khoa.
PMDH môn vật lí là một PMDH được các chuyên gia tin học viết dựa trên
cơ sở các kiến thức vật lí, các hiểu biết hợp lí đã được các nhà sư phạm, nhà
vật lí soạn sẵn, có thể được GV và HS dùng vào việc dạy và học các kiến thức
vật lí thông qua MVT.

19
Như vậy, PMDH là sản phẩm được kết tinh từ hai chuyên gia: sư phạm và

- PMDH được xậy dựng dựa trên đối tượng sử dụng.
- PMDH được xây dựng dựa trên các môn học.
- PMDH được xây dựng dựa trên mục đích lí luận dạy học.
1.2.3. Vai trò của phần mềm trong dạy học theo hướng tích cực hoá hoạt
động nhận thức của học sinh.
Một số hiện tượng xảy ra quá nhanh, hoặc quá chậm, gây khó khăn cho
việc quan sát hiện tượng. Một số TN lại quá nguy hiểm nên không thể tiến
hành được trong giờ dạy lên lớp Chính vì vậy, việc áp dụng thành tựu của
CNTT để khắc phục những khó khăn này là rất cần thiết [9]. Một trong những
biện pháp đó là chúng ta khai thác và sử dụng các PMDH, các PMDH này
chắc chắn sẽ mang lại hiệu quả cao khi sử dụng để hỗ trợ việc tổ chức hoạt
động nhận thức cho HS trong dạy học vật lí.
PMDH có thể được sử dụng ở tất cả các giai đoạn khác nhau của quá trình
dạy học: đề xuất vấn đề nghiên cứu, hình thành kiến thức, kĩ năng mới, củng
cố kiến thức, kĩ năng đã thu được và kiểm tra, đánh giá kiến thức, kĩ năng của
HS.
- Ở giai đoạn định hướng mục đích nghiên cứu, PMDH được sử dụng để
đề xuất vấn đề cần nghiên cứu. Đặc biệt có hiệu quả là việc sử dụng PMDH
để tạo tình huống có vấn đề. Kết quả của việc sử dụng PMDH trong giai đoạn
này thường mâu thuẫn với kiến thức, kinh nghiệm có sẵn của HS, do đó tạo
nhu cầu hứng thú tìm tòi kiến thức mới của HS.
- Trong giai đoạn hình thành kiến thức mới, PMDH sẽ cung cấp một cách
có hệ thống các cứ liệu thực nghiệm, để từ đó khái quát hoá quy nạp, kiểm tra
được tính đúng đắn của giả thuyết hoặc hệ quả logic rút ra từ giả thuyết đã đề
xuất, hình thành kiến thức mới.

21
- Trong giai đoạn củng cố kiến thức, kĩ năng của HS PMDH có vai trò
không những kiểm tra kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo mà còn đánh giá khả năng tự
lực, sáng tạo của HS trong quá trình học.

trong vấn đề mô phỏng, minh hoạ cho các thí nghiệm, các kiến thức cũng như
sự vật hiện tượng mà HS không thể quan sát trực tiếp được trong điều kiện
nhà trường, không thể hoặc khó có thể thực hiện nhờ các phương tiện khác.
PMDH giúp đỡ cho một số bước trong PPDH thực nghiệm, PPDH nêu vấn đề
(tạo tình huống có vấn đề) Hỗ trợ cho quá trình thí nghiệm, ôn tập, kiểm tra
kiến thức, đánh giá kết quả học tập của HS. Một số PMDH còn giúp tạo ra
một phương pháp học tập trong môi trường học tập mới bao gồm các đối
tượng chỉ tồn tại trên máy vi tính và tuân theo các quy luật mà lí thuyết và thế
giới thực tương ứng đã khẳng định. Hỗ trợ cho định hướng soạn giáo án theo
định hướng đổi mới cũng như thực hiện việc tổ chức các hoạt động học tập
cho HS, giúp tiết kiệm được thời gian trên lớp, giành nhiều cơ hội cho việc
trao đổi giữa GV và HS. Hỗ trợ cho quá trình tích cực hoá hoạt động nhận
thức cho HS như tạo không khí lớp học vui vẻ, thoải mái Hình thành động
cơ, hứng thú học tập cho HS, kích thích được óc tò mò, ham hiểu biết của HS
đối với sự vật hiện tượng.
Đối với HS, PMDH có thể giúp HS tự tìm tri thức mới, tự ôn tập, củng cố,
đào sâu kiến thức, tự luyện tập theo nội dung tuỳ chọn, theo các mức độ tuỳ
theo năng lực của HS. Hỗ trợ cho HS trong quá trình tự kiểm tra kiến thức và
đánh giá kết quả học tập của bản thân. Ngoài ra PMDH còn có khả năng hỗ
trợ trong việc tạo hứng thú và động cơ học tập lành mạnh, giúp tự phát triển
khả năng tư duy và tưởng tượng, rèn luyện và phát triển khả năng lập luận
chặt chẽ, có căn cứ khoa học cho HS [25].

23
Tóm lại, PMDH với tư cách là một phương tiện dạy học có những khả
năng hỗ trợ rất đa dạng và phong phú đối với vấn đề đổi mới PPDH hiện nay,
góp phần phát huy TTC, chủ động, sáng tạo của HS trong học tập.
+ Về hình thức tổ chức dạy học.
Trong thời đại xã hội phát triển với tốc độ nhanh như hiện nay, với sự hỗ
trợ của CNTT nói chung và PMDH nói riêng, việc dạy học không chỉ hạn chế

1.2.4.1. Sử dụng phần mềm để trình bày kiến thức Vật lí.
Xây dựng giáo án điện tử bằng phần mềm Powerpoint, Fronpage, eXe.
Đồng thời phối hợp với các thiết bị hiện đại khác như máy chiếu đa năng,
camera, băng đĩa hình để trình bày các kiến thức trong môn học vật lí [22],
[9].
Giáo án điện tử là các bài giảng được soạn và giảng trên máy tính kết hợp
máy chiếu, nó có nhiều ưu điểm:
- Giờ giảng hiệu quả hơn: dễ hiểu, hấp dẫn, kiến thức toàn diện hơn. Phát
huy được các ưu điểm của phương pháp truyền thống.
- Có thể tự động hoá công việc dạy học hoặc một khâu nào đó trong quá
trình dạy học, làm cho GV có nhiều thời gian quan tâm đến HS.
- Bài giảng được lồng ghép với TN ảo, các đoạn phim minh hoạ các hiện
tượng vật lí xảy ra trong thực tế làm tăng thêm sự hấp dẫn của bài giảng. Liên
kết với các trang Web cùng trình bày vấn đề ở các trường, các nước khác
nhau.
- Cùng một thời gian khối lượng kiến thức được truyền đạt nhiều hơn.
1.2.4.2. Sử dụng phối hợp thí nghiệm mô phỏng và thí nghiệm thật trong
dạy học Vật lí.

25
Một số kiến thức vật lí, phần TN thật có thể tổ chức được ở trên lớp, tuy
nhiên để HS có thể quan sát rõ diễn biến quá trình GV có thể dùng kết hợp
với thí nghiệm mô phỏng.
Với việc sử dụng TN trong dạy học vật lí dùng làm phương tiện hỗ trợ trực
tiếp hoạt động dạy học dưới các hình thức khác nhau nên chúng tôi tiến hành
mô phỏng các TN trên máy tính sao cho chúng càng giống TN thật càng tốt.
Trước hết là về hình ảnh của các dụng cụ phải giống như TN thật cả về hình
dạng lẫn màu sắc để qua đó GV và HS có thể tìm hiểu được tính năng, tác
dụng của chúng [16].
Việc lắp ráp, bố trí TN và đặc biệt là các bước tiến hành TN phải được mô


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status