Thế giới nhân vật nữ trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ - Pdf 29

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 NGUYỄN THỊ THUỶ THẾ GIỚI NHÂN VẬT NỮ TRONG TRUYỆN
NGẮN NGUYỄN THỊ THU HUỆ Chuyên ngành: LÝ LUẬN VĂN HỌC
Mã số: 602232
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN THỊ KIỀU ANH


Xin trân trọng cảm ơn!
Bắc Giang, tháng 6 năm 2011
Tác giả luận văn Nguyễn Thị Thuỷ
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Mục lục
PHẦN MỞ ĐẦU 0
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 3
3. Mục đích nghiên cứu 6
4. Nhiệm vụ nghiên cứu 6
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
6. Phương pháp nghiên cứu 7
7. Đóng góp của luận văn 7
8. Bố cục của luận văn 7
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHÂN VẬT VĂN HỌC VÀ QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT
VỀ CON NGƯỜI TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN THỊ THU HUỆ 8

1.1. Khái niệm về nhân vật và thế giới nhân vật 8
1.1.1. Khái niệm về nhân vật 8
1.1.2. Khái niệm về thế giới nhân vật 10
1.2. Chức năng của nhân vật trong tác phẩm văn học 12
1.3. Các loại nhân vật văn học 12
1.4. Nhân vật nữ trong văn học 14

nhiều khởi sắc. Một trong những yếu tố làm nên sự phong phú, đa dạng của
văn học giai đoạn này chính là sự xuất hiện ngày càng nhiều của các cây bút
nữ. Bên cạnh những cây bút nữ tên tuổi một thời như Vũ Thị Thường, Dương
Thu Hương là đội ngũ những cây bút trẻ trung hơn, sôi nổi hơn như Phạm Thị
Hoài, Võ Thị Hảo, Lê Minh Khuê, Y Ban, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị
Vàng Anh và gần đây là một loạt các cây bút trẻ đầy triển vọng như Nguyễn
Ngọc Tư, Đỗ Hoàng Diệu, Di Li Với những nỗ lực đáng ghi nhận, họ đã tạo
ra những “lối nẻo riêng” cho mình.
Tác giả Bích Thu qua các bài viết: “Những dấu hiệu đổi mới của văn
xuôi từ sau năm 1975 qua hệ thống mô típ chủ đề”, “Những thành tựu truyện
ngắn sau năm 1975”, “Văn xuôi của phái đẹp”, đã đánh giá cao các sáng tác
của các nhà văn nữ trẻ. Tác giả cho rằng đó là “Một lớp trẻ dồi dào nhân
lực”[52]. Và bằng tầm nhìn bao quát của một nhà phê bình, Bích Thu nhận
định: “Sự xuất hiện rầm rộ của các cây bút trẻ đã làm thay đổi bộ mặt và dáng
vẻ của văn xuôi hôm nay”[53]. Không chỉ quan sát sự xuất hiện của đội ngũ
tác giả nữ, Bích Thu còn có những ý kiến đánh giá về giá trị văn xuôi phái
đẹp rất tinh tế: “Văn chương của phái đẹp hiện nay sắc và sâu khi khai thác đề
tài thế sự đời tư với nội dung nhân tình thế thái bằng lối viết dịu dàng và bén
ngọt, diết dóng mà đồng cảm, sẻ chia với những thân phận, những con người
sống quanh mình” [54].
Ngoài ra, còn có một số tác giả trong bài viết của mình cũng đề cao
các cây bút nữ. Phạm Xuân Nguyên đánh giá: “Một nét đặc điểm của mùa
truyện ngắn hôm nay là sự xuất hiện đông đảo tự tin của đội ngũ viết trẻ và

2
nhất là các cây bút nữ ( ) Trên trang viết của họ nỗi buồn, nỗi đau nhân thế
luôn được nhìn nhận khía cạnh tinh tế rất phụ nữ” [33]. Vũ Tuấn Anh trong
bài viết “Đổi mới văn học vì sự phát triển” cũng ghi nhận các cây bút nữ đã
có được “những dấu ấn cá nhân trong tư duy nghệ thuật và cách thể hiện” [1].
Trong số những cây bút nữ nổi lên ngay từ những năm 1990 đến nay,

2. Lịch sử vấn đề
Là cây bút đều đặn, miệt mài và thành công hơn cả ở thể loại truyện
ngắn, Nguyễn Thị Thu Huệ và tác phẩm của chị đã thu hút được sự chú ý của
giới nghiên cứu, phê bình.
Trong bài viết “Thế hệ thứ ba” in trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội
10/1994, nhà văn Hồ Phương nhận xét: “Trong các tác giả trẻ, Thu Huệ là cây
bút hết sức sắc sảo. Đọc Huệ tôi ngạc nhiên lắm, sao còn ít tuổi mà Huệ lại
lọc lõi thế. Nó như con phù thủy lão luyện. Nó đi guốc trong bụng mình. Ruột
gan mình có gì hình như nó cũng biết cả” [36].
Trong bài: “Hồi ức một binh nhì và Bến trần gian”, tác giả Kim Dung
lại cho rằng: “Truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ luôn có hai mặt – vừa “bụi
bặm” trong tả chân, vừa trữ tình đằm thắm, văn của chị vừa táo bạo vừa thanh
khiết. Một cái gì đó không thuần nhất, không đơn giản, thậm chí có khi còn
đối chọi nhau trong văn của Nguyễn Thị Thu Huệ”[6]
Bùi Việt Thắng (1994) nhận xét về nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn
Thị Thu Huệ: “Nhân vật nữ của Thu Huệ thường cô đơn, dường như tác giả
quan niệm nó là mặt trái của tình yêu thương” [46]. Tác giả còn chỉ rõ: “Một
sự vật vã khắc khoải canh cánh trong mỗi nhân vật, đặc biệt là nhân vật nữ”,
“cây bút trẻ này tỏ rõ sự sẻ chia, cảm thông với phụ nữ vì ai cũng mang khuôn

4
mặt con gái” [46]. Sau gần một thập kỷ (2002), khi phác thảo chân dung Thu
Huệ trong lời giới thiệu về bốn cây bút nữ, tác giả một lần nữa khẳng định đối
tượng mà Thu Huệ quan tâm tới là “Những thiên đường và hậu thiên đường
của đời sống con người, đặc biệt là phụ nữ” [43].
Lý Hoài Thu (1994) trong nhận xét của mình lại đưa ra vấn đề mà Thu
Huệ muốn gửi gắm qua nhân vật nữ: “Nhìn đời, nhất là nhìn nhân vật nữ, Thu
Huệ nhìn ra biến thái tinh vi của bi kịch tình yêu với những biểu hiện dị
thường của nó” [55]. Từ bi kịch trong cuộc đời của người phụ nữ, Thu Huệ
không chỉ nhìn thấy những biểu hiện dị thường tinh vi của tình yêu thời hiện

Nhìn nhận Nguyễn Thị Thu Huệ là nhà văn nữ “độc đáo và tài hoa”, ở
một mức độ toàn diện, Hồ Sỹ Vịnh đã tìm hiểu truyện ngắn của Nguyễn Thị
Thu Huệ trên bình diện thi pháp. Theo tác giả “Nhà văn đã vượt ra ngoài
phương thức miêu tả vừa thực, vừa hư, vừa trần thế vừa ảo mộng, chuyện
hiện tại, chuyện dĩ vãng nhằm tạo dựng một cuộc sống có dung tích, khai thác
chiều sâu những góc uẩn khúc” thế giới bên trong “của con người” [63]. Tác
giả còn nhận xét những nhân vật tôi trong truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu
Huệ: “Những nhân vật tôi trong truyện của Thu Huệ thường bắt đầu bằng cụm
từ “tôi tưởng tượng”, “tôi như bay trên chín tầng mây”, “tôi có cảm giác như
mình hóa đá” tất cả đó là cảnh hư nhằm nói cái thực đa diện hơn, có kích
thước hơn, có tần số ý nghĩa sâu sắc hơn. Tôi gọi đó là thi pháp mở. Thi pháp
mở còn được thể hiện ở chiều sâu nội cảm, nội tâm của người viết hoặc của
nhân vật “tôi”. Phương thức thể hiện này không chỉ làm cho hiện thực được
phản ánh có chiều sâu mà còn giàu sức khái quát, sức ám ảnh lớn. Đây cũng
là một đặc điểm độc đáo trong thi pháp truyện ngắn Nguyễn thị Thu Huệ.

6
Nhìn chung qua các bài viết, Thu Huệ được đánh giá là tác giả có khả
năng nắm bắt và phản ánh hiện thực nhạy bén, sâu sắc ,có giọng văn đặc biệt.
Nhân vật nữ trong tác phẩm của Nguyễn Thị Thu Huệ được nhìn nhận chủ
yếu ở đặc điểm khao khát hạnh phúc và gặp nhiều bi kịch.Tuy nhiên, qua
khảo sát chúng tôi nhận thấy chưa có công trình nào đi sâu, tìm hiểu về thế
giới nhân vật nữ trong truyện ngắn - một trong những thành công nổi bật của
Nguyễn Thị Thu Huệ. Trên cơ sở tiếp thu những ý kiến, kết quả của người đi
trước, cùng với sự đánh giá, kiến giải của riêng mình, chúng tôi triển khai đề
tài “Thế giới nhân vật nữ trong truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ”.
3. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu, khám phá thế giới nhân vật
nữ cũng như nghệ thuật xây dựng loại nhân vật này trong truyện ngắn của
Nguyễn Thị Thu Huệ. Từ đó khẳng định tài năng và những đóng góp của tác

Ngoài phần mở đầu và kết luận, phần nội dung chính gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về nhân vật văn học và quan niệm nghệ thuật
về con người trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ
Chương 2: Các loại hình nhân vật nữ trong truyện ngắn Thu Huệ
Chương 3: Nghệ thuật xây dựng nhân vật nữ trong truyện ngắn
Nguyễn Thị Thu Huệ

8
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHÂN VẬT VĂN HỌC VÀ QUAN NIỆM
NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI TRONG TRUYỆN NGẮN
NGUYỄN THỊ THU HUỆ
1.1. Khái niệm về nhân vật và thế giới nhân vật
1.1.1. Khái niệm về nhân vật
*Về phương diện thuật ngữ
Thuật ngữ “nhân vật” xuất hiện từ rất sớm. Trong tiếng Hy Lạp cổ,
“nhân vật” (đọc là persona) lúc đầu mang ý nghĩa chỉ cái mặt nạ của diễn viên
trên sân khấu. Theo thời gian, thuật ngữ này đã được sử dụng với tần số nhiều
nhất, thường xuyên nhất để chỉ đối tượng mà văn học miêu tả và thể hiện.
Đôi khi nhân vật văn học còn được gọi bằng các thuật ngữ khác như:
“vai” (actor) và “tính cách” (character). Tuy nhiên, các thuật ngữ này, theo
chúng tôi, có nội hàm hẹp hơn so với “nhân vật”.
Thuật ngữ “vai” chủ yếu nhấn mạnh đến tính chất hành động của cá
nhân, thích hợp với loại nhân vật hành động. Còn thuật ngữ “tính cách” lại
thiên về chỉ những nhân vật có tính cách. Trong thực tế sáng tác, không phải
nhân vật nào cũng hành động, đặc biệt là những nhân vật thiên về “suy tư”, và
cũng không phải nhân vật nào cũng có tính cách rõ rệt.Từ đó có thể thấy các
thuật ngữ “vai”, “tính cách” không bao quát dược hết những biểu hiện khác
nhau của các loại nhân vật trong sáng tác văn học.
“Nhân vật” là thuật ngữ có nội hàm phong phú, đủ khả năng khái quát

vật có phần thu hẹp hơn: “Nhân vật văn học là con người cụ thể được miêu tả

10
trong tác phẩm văn học chỉ một hiện tượng nổi bật nào đó trong tác phẩm”
[12; tr.235].
Ngoài ra, dựa trên tiêu chí chức năng phản ánh hiện thực của tác phẩm
văn học, nhân vật còn được coi là phương tiện để nhà văn tái hiện đời sống,
mở rộng thế giới nghệ thuật cho tác phẩm: “Nói đến nhân vật văn học là nói
đến con người được miêu tả, thể hiện trong tác phẩm văn chương bằng
phương tiện văn học” [30; tr. 277].
Như vậy, nhìn một cách tổng quát, nhân vật là một khái niệm tương đối
ổn định trong nghiên cứu phê bình văn học. Trước nay dù đã có khá nhiều
cách định nghĩa về nhân vật, song tập trung lại các ý kiến đều gặp nhau trong
sự khẳng định: nhân vật văn học là thành tố quan trọng trong tác phẩm, là
phương tiện để nhà văn phản ánh đời sống và được nhà văn xây dựng bằng
những yếu tố nghệ thuật độc đáo. Nghiên cứu về tác phẩm văn chương cần
phải tiếp cận nhân vật để chỉ ra cái mới trong ngòi bút nhà văn và đưa ra kết
luận về những đóng góp riêng của nhà văn đó.
1.1.2. Khái niệm về thế giới nhân vật
“Thế giới” là một khái niệm thuộc phạm trù triết học. Theo Từ điển
Triết học, “Thế giới” có thể hiểu:
Theo nghĩa rộng, thế giới là toàn bộ hiện thực khách quan (tất cả những
tồn tại ở bên ngoài và độc lập với ý thức con người). “Thế giới” là nguồn gốc
của nhận thức [59; tr.1083].
Theo nghĩa hẹp, thế giới dùng để chỉ đối tượng của vũ trụ học, nghĩa là
toàn bộ thế giới vật chất do thiên văn học nghiên cứu. Người ta đã chia bộ
phận thế giới vật chất đó thành hai lĩnh vực nhưng không có ranh giới tuyệt
đối: Thế giới vĩ mô và thế giới vi mô [59; tr.1083].

11

phẩm văn học. Nó không chỉ là “tiêu điểm để bộc lộ chủ đề” mà còn là nơi
“tập trung giá trị tư tưởng, nghệ thuật của tác phẩm”.
Trong cuốn Văn chương dẫn luận, G.N.Pospelov nhấn mạnh: “Nhân
vật là phương diện có tính thứ nhất trong hình thức tác phẩm. Nó quyết định
phần lớn vừa cốt truyện, vừa lựa chọn chi tiết, vừa ngôn ngữ, vừa kết cấu
[38;tr. 43]. Nhân vật là yếu tố vừa thuộc về nội dung vừa thuộc về hình thức
tác phẩm. Nhân vật là điều kiện thiết yếu để sự khám phá, sự đánh giá - lý
giải, sự miêu tả mang tính nghệ thuật của tác giả về đời sống đạt đến tính toàn
vẹn, có chiều sâu và có sức hấp dẫn riêng đối với độc giả. Có thể nói, yếu tố
nhân vật chi phối mạnh mẽ đến sự thành công hay thất bại của tác phẩm.
Nhân vật văn học sẽ có nhiều chức năng tương ứng với nhiều vai trò
khác nhau trong tác phẩm. Nhìn một cách tổng quát, các chức năng đó là :
Thứ nhất, miêu tả và khái quát các loại tính cách trong xã hội.
Thứ hai, là công cụ để nhà văn sáng tạo nên thế giới nghệ thuật của tác
phẩm, là chiếc chìa khóa để nhà văn mở cánh cửa bước vào hiện thực đời
sống vô cùng rộng lớn, đặt ra những vấn đề mới mẻ, sâu sắc.
Thứ ba, biểu hiện tư tưởng, quan niệm của nhà văn về con người và
cuộc sống.
Thứ tư, quyết định hình thức tác phẩm, tạo nên mối liên kết giữa các
yếu tố thuộc hình thức tác phẩm.
Hiểu được chức năng của nhân vật văn học, người viết sẽ có thêm cơ sở
lý luận để nghiên cứu đề tài này.
1.3. Các loại nhân vật văn học

13
Nhân vật văn học là một thế giới vô cùng phong phú và đa dạng. Nhân
vật càng độc đáo thì thường không có sự lặp lại. Song nhìn tổng thể trong tác
phẩm văn học, các nhà nghiên cứu văn học đã chia thế giới nhân vật thành các
kiểu loại khác nhau để dễ tiếp nhận, phân tích, đánh giá.
Thứ nhất, dựa vào vai trò của nhân vật với nội dung và hình thức của

Nhân vật loại hình là loại nhân vật thể hiện tập trung các phẩm chất xã
hội, đạo đức của một loại người nhất định của một thời. Đó là nhân vật nhằm
khái quát cái chung về loại của các tính cách và nhờ vậy được gọi là điển
hình. Loại nhân vật này bao giờ cũng có một số phẩm chất loại biệt về mặt xã
hội được nêu bật hơn hẳn các tính chất khác. Dĩ nhiên nhân vật loại hình như
mọi nhân vật văn học khác, đòi hỏi một cá tính nhất định, được thể hiện một
cách sinh động qua các chi tiết cụ thể, sinh động, chân thực.
Nhân vật tính cách là lọai nhân vật có tính cách nổi bật, được xây dựng
cụ thể, sinh động như con người thực ngoài đời.
Nhân vật tư tưởng là loại nhân vật có tư tưởng, nhân cách nhưng cơ bản
thể hiện tập trung tư tưởng của tác giả.
Trên đây là những loại nhân vật thường gặp. Sự phân biệt này chỉ
mang tính chất tương đối, nó chỉ nhằm nhấn mạnh nét trội, nét đặc trưng cơ
bản của một nhân vật nào đó.
1.4. Nhân vật nữ trong văn học
1.4.1. Nhân vật nữ trong văn học thế giới
Phụ nữ là linh hồn của cuộc sống muôn loài và là sản phẩm tuyệt diệu
của tạo hóa. Tuy nhiên sự phản ánh họ trong văn học - cái nhìn nghệ thuật của

15
nhà văn thì mỗi người, mỗi thời lại khác nhau. Hình tượng người phụ nữ vì
vậy cũng mang những nét cá tính riêng, độc đáo; giữa các nhân vật không bị
hòa lẫn, khu biệt nhau nhờ một sức sống riêng mà nhà văn truyền cho nó.
Nếu như trước đây, nhân vật nữ được phản ánh trong văn học còn đơn
điệu theo một mục đích phê phán hay ngợi ca từ cái nhìn đạo đức; sử dụng
nhân vật để chuyển tải một quan điểm, tư tưởng thì giờ đây, đặc biệt trong
những cuốn tiểu thuyết lớn trên thế giới có giá trị, hình tượng nhân vật nữ đã
có sự “lột xác”. Nhà văn đã xem phụ nữ như một khách thể thẩm mỹ độc lập,
như một thế giới riêng đầy bí ẩn và hấp dẫn cần được khám phá và lý giải.
Người phụ nữ hiện lên trong vẻ đẹp nhiều chiều, trong những bi kịch lớn lao

không nở, không có người mẹ thì không có thiên tài”. Nhà văn vì thế đã khắc
họa thành công hình ảnh người mẹ trong truyện ngắn Một con người ra đời.
Trong thơ ca, người phụ nữ luôn là đề tài mà ở đó chứa đựng sức biểu
cảm, rung động mạnh mẽ nhất. Với Aragông, nhà thơ tự nhận mình được Tái
sinh từ tình yêu Enxa. Một con người đời thực, một người vợ, người bạn tuyệt
vời, Enxa đã trở thành hình tượng nghệ thuật đẹp đẽ để nhà thơ thể hiện
những suy tư, tình cảm trước cuộc đời. Nếu không có người phụ nữ, Puskin
cũng không thể có được Tôi yêu em và trở thành nhà thơ tình bậc nhất.
Văn học nghệ thuật đã tạo ra những hình tượng nhân vật nữ tuyệt đẹp,
hay nói cách khác, chính vẻ đẹp huyền diệu tỏa ra từ hình thức, từ tâm hồn
người phụ nữ đã thu hút các nhà văn, nhà thơ khám phá và lý giải. Do đó
mảng đề tài văn học về phụ nữ bao giờ cũng khiến độc giả quan tâm sâu sắc.
17
1.4.2. Nhân vật nữ trong văn học Việt Nam
Như đã nói ở phần trên, hình tượng người phụ nữ là một trong những
đề tài lớn có sức hấp dẫn của văn học thế giới. Trong văn học Việt Nam, qua
từng thời kỳ, hình tượng người phụ nữ cũng chứa đựng rất nhiều vẻ đẹp.
*Trong văn học dân gian (chủ yếu trong truyện cổ tích và trong ca
dao). Truyện cổ tích là những giấc mơ đẹp của người xưa về xã hội công
bằng, con người được sống trong no ấm, hạnh phúc. Các tác giả dân gian đã
thể hiện những giấc mơ đó qua hai tuyến nhân vật rõ ràng đại diện cho cái
Thiện và cái Ác. Ở cổ tích, tiêu chí về cái đẹp của nhân vật nằm ở chính nghĩa
của họ. Có chính nghĩa thì họ sẽ gặp được người tốt giúp đỡ, nhận được
những phép màu kỳ diệu, còn phi nghĩa thì phải nhận sự trừng phạt thích
đáng. Bởi thế nhân vật nữ trong cổ tích cũng có sự phân tuyến rõ ràng theo
tiêu chí “tuyệt đối”, tuyệt đối tốt hoặc tuyệt đối xấu, không có nhân vật nào
phức tạp, bí ẩn. Nhân vật nữ đại diện cho lý tưởng tèt ®Ñp cña nh©n ®©n

"Miệng cười như thể hoa ngâu
Cái khăn đội đầu như thể hoa sen".
Đặc biệt vẻ đẹp tâm hồn rất được đề cao. trong tình yêu họ thiết tha và
trong hôn nhân họ vị tha , chung thủy:
"Chồng em áo rách em thương
Chồng người áo gấm xông hương mặc người."

19
Nói tóm lại, trong ca dao, quan niệm về người phụ nữ đã có màu sắc
tâm trạng riêng của từng cá nhân, song có thể nói, những tâm trạng ấy vẫn
còn mang tính cộng đồng truyền thống, gắn chặt với nền văn hóa dân gian.
Trong văn học trung đại: nhân vật nữ vừa mang vẻ đẹp cổ điển, vừa rất
gần gũi với cuộc sống đời thường, họ là những con người bị xã hội cũ chà
đạp, vùi dập. "Hồng nhan bạc phận" được xem là quan niệm chủ đạo của tác
giả thời kì này khi thể hiện hình tượng người phụ nữ. Vũ Nương hiền thảo,
đảm đang, chung thủy thì bị ngờ oan, phải lấy cái chết để minh oan mà khi
chết rồi trong lòng vẫn mang nặng nỗi oan uổng đó (Chuyện người con gái
Nam Xương). Người cung nữ xinh đẹp tài hoa, khát khao hạnh phúc thì bị nhà
vua bỏ rơi, sống cô đơn mòm mỏi nơi cung cấm, chôn vùi tuổi thanh xuân
trong cung điện thâm u (Cung oán ngâm khúc). Người chinh phụ chỉ có một
khát vọng rất bình thường là được chung sống cùng với người chồng thân yêu
xong lại rơi vào cảnh đau đớn “tử biệt sinh li” đằng đẵng đợi chờ không biết
có ngày gặp lại, Kiều xinh đẹp là thế mà lại bị dập vùi "Thanh lâu hai lượt,
thanh y hai lần" chịu cảnh đầy đọa cả về thể xác lẫn tinh thần. Nhiều nhân
vật nữ trong giai đoạn này đã thể hiện sự phản khỏng, sự tố cáo hội cũ, thể
hiện những suy nghĩ, những quan điểm khác hẳn với quan điểm của xã hội
phong kiến. Người cung nữ thấy hạnh phúc giản dị của những cặp vợ chồng
nghèo hơn hẳn ân sủng “tựa mạn thuyền rồng”. Người chinh phụ thấy lí tưởng
ra đi của người chồng, mong làm cho “thê ấm tử vinh” thật là vô nghĩa không
thể quan trọng bằng hạnh phúc được sum họp bên nhau. Hồ Xuân Hương dám

Trong xu hướng tìm lại con người ở những đặc trưng bản thể và khát
khao trần thế, các nhà văn thời kỳ đổi mới nhìn nhận người phụ nữ nghiêng
về những gì thuộc về thiên tính, thiên chức của họ. Điều này thể hiện ở ngay

21
những danh xưng. Trước đây các nhân vật nữ trong văn học cách mạng
thường được gọi bằng “chị”, bằng “cô” hoặc gọi tên một cách trân trọng. Các
nhà văn hôm nay gọi người phụ nữ bằng đủ thứ danh xưng nhằm nhấn mạnh
đặc trưng giới tính: phái yếu, phái đẹp, đàn bà, nàng, váy, chân dài
Ngay ở tên tác phẩm các tác giả đã muốn lưu ý với độc giả rằng họ
đang viết về phụ nữ: Đàn bà xấu thì không có quà (Y Ban), Cái bướm tung
tăng (Ma Văn Kháng), Ngày cuối cùng của dâm phụ (Trần Thị Trường)
Người ta bắt đầu nói về phụ nữ nhiều ở thiên chức làm vợ, làm mẹ, ở khao
khát nhục thể.
Văn học đổi mới không còn nhiều những phụ nữ sắt đá, kiên cường nữa
mà thay vào đó là những con người yếu đuối, nhẹ dạ cả tin, đa cảm, đa đoan
Chính bằng sự dũng cảm thay đổi cách nhìn của mình, các nhà văn đổi mới đã
tìm thấy ở phụ nữ một “công cụ” hữu hiệu để đổi mới đề tài.
Trong văn học cách mạng, đề tài gia đình cũng không được quan tâm
đúng mức bởi người ta phải dành “tất cả cho tiền tuyến”. Chuyện gia đình nếu
được nói đến cũng chủ yếu nhằm tạo một đòn bẩy nghệ thuật kiểu như “vui
duyên mới không quên nhiệm vụ”. Sau chiến tranh, người ta bắt đầu quay lại
chăm chút cho cái tổ ấm của riêng mình. Do vậy trong văn xuôi đổi mới, gia
đình trở thành một đề tài lớn, một mảnh đất được cày xới kỹ lưỡng.
Ngay từ thời kỳ đầu của đổi mới chúng ta đã thấy điều này qua Bên
đường chiến tranh (Nguyễn Minh Châu), Mùa lá rụng trong vườn (Ma Văn
Kháng), Thời xa vắng (Lê Lựu), Không có vua (Nguyễn Huy Thiệp) Càng
về sau đề tài này càng được khẳng định, nhất là trong thể loại truyện ngắn.
Sự xuất hiện của không gian gia đình trong văn học đổi mới diễn ra
đồng thời với sự trở lại thiên chức làm vợ, làm mẹ của người phụ nữ. Người


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status